phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, Luận văn bao gồm 3 chƣơng chính nhƣ sau: Chƣơng 1: Cơ sở khoa học về xã hội hóa giáo dục tiểu học; Chƣơng 2: Thực trạng xã hội hóa giáo dục tiểu học trên địa bàn quận Thanh Xuân - Thành phố Hà Nội; Chƣơng 3: Phƣơng hƣớng và giải pháp tăng cƣờng xã hội hóa giáo dục Tiểu học trên địa bàn quận Thanh Xuân - Thành phố Hà Nội. 6 Luan van CHƢƠNG 1 CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ XÃ HỘI HÓA GIÁO DỤC TIỂU HỌC 1.1 Giáo dục tiểu học và xã hội hóa giáo dục tiểu học 1.1 Giáo dục tiểu học trong hệ thống giáo dục quốc dân 1.1 Giáo dục Loài ngƣời ngay từ khi hình thành đã luôn gắn kết với nhau trong xã hội, truyền thụ cho nhau những kinh nghiệm sống để có thể tiếp tục sinh tồn. Quá trình truyền thụ kiến thức từ các thế hệ trƣớc cho thế hệ sau chính là khởi nguồn của giáo dục. Nhƣ vậy, giáo dục là hoạt động chuyên môn có tổ chức, có kế hoạch của xã hội nhằm truyền thụ kinh nghiệm, bồi dƣỡng tri thức, hình thành và phát triển nhân cách con ngƣời theo những yêu cầu của xã hội trong những giai đoạn lịch sử nhất định.
Thuật ngữ giáo dục ngày nay thƣờng đƣợc hiểu theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp. Với nghĩa rộng, giáo dục là quá trình hình thành toàn vẹn nhân cách, là sự hình thành đƣợc tổ chức một cách có mục đích, có hệ thống những sức mạnh thể chất và tinh thần của con ngƣời, cho cá nhân tham gia vào đời sống xã hội, sản xuất và văn hóa có hiệu quả. Quá trình này đƣợc tiến hành thông qua hai lĩnh vực hoạt động có mục đích là dạy học và giáo dục. Giáo dục theo nghĩa hẹp là bộ phận của quá trình giáo dục tổng thể, là quá trình hình thành niềm tin, lý tƣởng, đạo đức, thị hiếu, thái độ thẩm mỹ, lao động và phát triển thể lực, tạo ra cơ sở khoa học của thế giới quan.
Ngày nay, ngƣời ta coi giáo dục là “cho mọi ngƣời”, “học thƣờng xuyên”, “học suốt đời”. Nhƣ vậy, hoạt động giáo dục trong giai đoạn lịch sử hiện nay là hƣớng đến tất cả những ai có nhu cầu và có điều kiện học tập, đƣợc thực hiện ở bất cứ không gian nào, thời gian nào thích hợp, bằng các phƣơng tiện dạy học khác nhau, bằng những loại hình và phƣơng thức giáo dục khác nhau. Xã hội loài ngƣời đi vào thế kỷ XXI với những xu thế ngự trị nổi bật là xu thế toàn cầu hóa, đặc biệt về kinh tế với ƣu thế của kinh tế tri thức, về công 7 Luan van nghệ với ƣu thế của công nghệ cao. Trong công nghệ cao thì công nghệ thông tin lại giữ một vai trò hết sức cơ bản, đó là vai trò của công cụ làm việc phổ biến trong xã hội hiện đại, để thu thập, xử lý thông tin - một tài nguyên quan trọng của xã hội, cần thiết cho sự phát triển trong tất cả mọi lĩnh vực - làm con ngƣời có thể tác động mạnh mẽ đến các quá trình sản xuất, nghiên cứu v.
từ quản lý, điều hành cho đến cả đời sống xã hội đồng thời giúp cho con ngƣời có thể tự học, tự cập nhật thông tin, giao lƣu rộng rãi, phát triển tƣ duy sáng tạo. Đó chính là tiền đề để hình thành xã hội thông tin, nền văn minh trí tuệ. Những xu thế mới này tác động ngày càng mạnh mẽ và trực tiếp đến giáo dục, làm cho giáo dục luôn ở vị trí hàng đầu và đóng vai trò chủ chốt trong sự phát triển xã hội tƣơng lai. Ở nƣớc ta, Đảng và Chính phủ luôn coi trọng công tác giáo dục.
Tại Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần IX đã nhấn mạnh: “Giáo dục - Đào tạo đƣợc xem là quốc sách hàng đầu để phát huy nhân tố con ngƣời, động lực trực tiếp của sự phát triển” [12]. Theo đó, giáo dục - đào tạo có sứ mệnh nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực, bồi dƣỡng nhân tài, góp phần quan trọng phát triển đất nƣớc, xây dựng nền văn hoá và con ngƣời Việt Nam. Phát triển GD - ĐT cùng với phát triển khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu; đầu tƣ cho GD - ĐT là đầu tƣ phát triển. Đổi mới căn bản, toàn diện GD - ĐT theo nhu cầu phát triển của xã hội; nâng cao chất lƣợng theo yêu cầu chuẩn hoá, hiện đại hoá, xã hội hoá, dân chủ hoá và hội nhập quốc tế, phục vụ đắc lực sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Đẩy mạnh xây dựng xã hội học tập, tạo cơ hội và điều kiện cho mọi công dân đƣợc học tập suốt đời [14]. Đây là sự khẳng định đƣờng lối, chủ trƣơng hết sức đúng đắn của Đảng, xuất phát từ lợi ích của nhân dân, đồng thời phù hợp với chân lý phổ biến của lịch sử thế giới. Từ đó đến nay nhiều hội nghị chuyên đề của Đảng tiếp tục ban hành các nghị quyết về đổi mới, phát triển sự nghiệp GD-ĐT. Hoạt động giáo dục cần phải đƣợc quản lý để đạt mục tiêu của mình.
Quản lý giáo dục là một hoạt động đặc trƣng của lao động xã hội. Đây là một 8 Luan van hoạt động chuyên môn nhằm thực hiện quá trình truyền đạt và lĩnh hội kinh nghiệm lịch sử xã hội qua các thế hệ, đồng thời là động lực thúc đẩy sự phát triển của xã hội. Để hoạt động này vận hành có hiệu quả, giáo dục phải đƣợc tổ chức thành các cơ sở, tạo nên một hệ thống các cơ sở giáo dục, điều này dẫn đến một tất yếu là phải có một lĩnh vực hoạt động có tính độc lập tƣơng đối trong giáo dục, đó là công tác quản lý giáo dục để quản lý các cơ sở giáo dục có trong thực tiễn. Trong quá trình nghiên cứu về lĩnh vực quản lý giáo dục, đã có nhiều tác giả đƣa ra khái niệm quản lý giáo dục nhƣ sau: Theo P.Khudominxky: “Quản lý giáo dục là động tác có hệ thống, có kế hoạch, có ý thức và có mục đích của các chủ thể quản lý ở các cấp khác nhau đến tất cả các khâu của hệ thống từ Bộ GD - ĐT đến từng nhà trƣờng, lớp học nhằm mục đích đảm bảo việc giáo dục Cộng sản chủ nghĩa cho thế hệ trẻ, bảo đảm sự phát triển toàn diện, hài hoà của họ.
Theo tác giả Đỗ Hoàng Toàn: “Quản lý giáo dục là tập hợp những biện pháp tổ chức, phƣơng pháp giáo dục, kế hoạch hóa tài chính,… nhằm đảm bảo sự vận hành bình thƣờng của các cơ quan trong hệ thống giáo dục, bảo đảm sự tiếp tục phát triển và mở rộng hệ thống cả về mặt số lƣợng cũng nhƣ chất lƣợng. Nhƣ vậy có thể nói, quản lý giáo dục là quá trình tác động của chủ thể quản lý vào toàn bộ hoạt động giáo dục nhằm thúc đẩy giáo dục phát triển theo mục tiêu mà Đảng và Nhà nƣớc đã xác định. Quản lý giáo dục đƣợc thể hiện thông qua quản lý mục tiêu, chƣơng trình đào tạo quản lý cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ dạy và học, quản lý đội ngũ cán bộ, giáo viên, quản lý ngƣời học và chất lƣợng giáo dục và đào tạo. Với nhiều góc độ tiếp cận khác nhau có thể cho thấy, quản lý giáo dục là hoạt động điều hành, phối hợp các lực lƣợng giáo dục nhằm đẩy mạnh công tác giáo dục, đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển xã hội.2 Hệ thống giáo dục quốc dân Hệ thống giáo dục của một nƣớc biểu thị các tầng bậc của hệ thống giáo dục và các quy định về trình độ văn bằng liên quan.
Tại Việt Nam, Luật Giáo dục năm 2005 quy định tại Điều 4: Hệ thống giáo dục quốc dân ở nƣớc ta gồm giáo dục chính quy và giáo dục thƣờng xuyên với các cấp học và trình độ đào tạo của hệ thống giáo dục quốc dân, cụ thể bao gồm: a) Giáo dục mầm non có nhà trẻ và mẫu giáo; b) Giáo dục phổ thông có tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông; c) Giáo dục nghề nghiệp có trung cấp chuyên nghiệp và dạy nghề; d) Giáo dục đại học và sau đại học (sau đây gọi chung là giáo dục đại học) đào tạo trình độ cao đẳng, trình độ đại học, trình độ thạc sĩ, trình độ tiến sĩ. Ngày 18/10/2016, Thủ tƣớng Chính phủ đã ban hành Quyết định 1981/QĐ-TTg quy định về cơ cấu hệ thống giáo dục quốc dân ở nƣớc ta. Theo quyết định này, cơ cấu hệ thống giáo dục quốc dân đƣợc mô tả nhƣ ở sơ đồ kèm theo (Hình 1. Theo sơ đồ, có thể thấy hệ thống giáo dục của Việt Nam có 8 cấp, tƣơng ứng với 8 bậc trình độ quốc gia, cụ thể: Sơ cấp I, Sơ cấp II, Sơ cấp III, Trung cấp, Cao đẳng, Đại học, Thạc sĩ và Tiến sĩ.
Từ giáo dục mầm non (nhà trẻ và mẫu giáo) cho tới bậc học trung học cơ sở, việc đào tạo đƣợc tiến hành chung theo một hƣớng. Từ bậc giáo dục trung học phổ thông, hoạt động giáo dục đƣợc chia thành hai luồng: trung học phổ thông bình thƣờng và trung cấp, đại học theo hƣớng nghiên cứu và đại học theo hƣớng ứng dụng, cao đẳng là một con đƣờng đi lên cho học sinh tốt nghiệp THPT hay trung cấp. Bên ngoài giáo dục chính quy, hình thức giáo dục thƣờng xuyên đƣợc thực hiện ở mọi cấp học từ tiểu học trở lên. 10 Luan van Hình 1.1: Khung cơ giáo dục quốc dân Việt Nam từ 10/2016 Chuẩn đầu ra và khối lƣợng học tập tối thiểu đƣợc quy định chi tiết cho từng bậc đào tạo.
Ngƣời học hoàn thành chƣơng trình đào tạo đáp ứng yêu cầu của chuẩn đầu ra đối với từng bậc học thì đƣợc cấp “chứng chỉ” đối với 3 bậc đầu tiên, và “bằng tốt nghiệp” đối với bậc 4, các “bằng cao đẳng”, “bằng đại học”, “bằng thạc sĩ”, “bằng tiến sĩ” tƣơng ứng đối với 4 bậc cuối. 11 Luan van Hình 1.2: Hệ thống Giáo dục quốc dân Việt Nam năm 2005 (Nguồn: moet.3 Giáo dục tiểu học Theo quy định của Luật Giáo dục, GDTH là một giai đoạn của cấp học Giáo dục phổ thông (gồm có tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông); bậc tiếp theo sau giáo dục mầm non và nằm trƣớc giai đoạn giáo dục trung học cơ sở. Trƣớc đây ở miền Bắc, tiểu học còn đƣợc gọi là phổ thông cấp một. Ở Việt Nam hiện nay, đó là bậc giáo dục cho trẻ em từ lớp một (6 tuổi) tới hết lớp năm (11 tuổi).