Chương 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ CÔNG TÁC KHÁM NGHIỆM HIỆN TRƯỜNG VÀ CÔNG TÁC KIỂM SÁT VIỆC KHÁM NGHIỆM HIỆN TRƯỜNG 1. Lý luận chung về công tác khám nghiệm hiện trường 1. Khái niệm hiện trường, khái niệm khám nghiệm hiện trường và phân loại hiện trường 1. Khái niệm hiện trường, khái niệm khám nghiệm hiện trường Hiện nay khái niệm hiện trường được nghiên cứu dưới nhiều góc độ và quan điểm khác nhau.
Theo Từ điển Tiếng Việt, Viện ngôn ngữ học, năm 2001: “Hiện trường là nơi xảy ra sự việc”[17]. Khái niệm này đã chỉ rõ được không gian của hiện trường mà việc định vị được hiện trường có ý nghĩa quan trọng trong việc tổ chức khám nghiệm hiện trường để thu thập dấu vết hình sự. Tuy nhiên, phạm vi của khái niệm này quá rộng và không chỉ rõ được tính chất của sự việc xảy ra đó là sự việc gì. Nội dung của khái niệm đã chỉ ra bản chất của hiện trường: Hiện trường phải là “nơi”, tức là phải có sự tồn tại của một địa điểm nhất định trong không gian.
Sự việc xảy ra phải được tồn tại ở một địa điểm nào đó trong không gian và phải có một thời gian nhất định cho sự việc xảy ra.Bởi lẽ, mọi sự vật, hiện tượng trong thế giới khách quan không thể vận động, tồn tại ngoài không gian và thời gian. Phải có sự việc xảy ra.Trong khái niệm này sự việc xảy ra có thể là sự việc mang tính bất kỳ.Từ khái niệm này có thể khẳng định rằng mỗi sự việc, hiện tượng trong hiện thực khách quan thì đều có hiện trường. Vì vậy, trong thực tiễn cuộc sống thuật ngữ này được sử dụng rất phổ biến trong nhiều lĩnh vực. Khái niệm này chưa chỉ rõ được tính chất của sự việc, hiện tượng xảy ra nên nó mang tính khái quát cao và chưa làm rõ được bản chất của hiện trường trong khoa học hình sự.
8 Khái niệm hiện trường trong từ điển nghiệp vụ phổ thông Công an nhân dân: “Hiện trường là nơi xảy ra sự việc (án, tai nạn…) nơi còn để lại dấu vết, vật chứng…có liên quan trực tiếp tới tội phạm, mà cơ quan công an cần kịp thời đến tận nơi xem xét, thu lượm dấu vết để nghiên cứu”; Sách chuyên khảo Bảo vệ và khám nghiệm hiện trường cho rằng hiện trường là: “nơi xảy ra, nơi phát hiện một hành vi vi phạm pháp luật”. Dưới góc độ của Luật Tố tụng hình sự quy định tại Điều 201BLTTHS quy định: “Điều tra viên chủ trì tiến hành khám nghiệm nơi xảy ra, nơi phát hiện tội phạm để phát hiện dấu vết của tội phạm, thu giữ vật chứng, tài liệu, đồ vật, dữ liệu điện tử khác liên quan và làm sáng tỏ những tình tiết có ý nghĩa đối với việc giải quyết vụ án”. [11] Với quy định trên có thể hiểu hiện trường là nơi xảy ra hành vi tội phạm hoặc là nơi phát hiện tội phạm. Khái niệm này chỉ ra rằng: Hiện trường là “nơi” tức là phải có một địa điểm nhất định trong một không gian và thời gian nhất định.
Tại “nơi” đó có chứa đựng các dấu vết, vật chứng của tội phạm hoặc liên quan đến tội phạm. Khái niệm này đã rơi vào nhận định chủ quan rằng: vụ việc xảy ra ở hiện trường phải là tội phạm, tức là phải thỏa mãn các quy định về tội phạm của Bộ luật Hình sự.Trong thực tiễn, nhiều vụ việc xảy ra Điều tra viên chưa có đủ thông tin ban đầu để xác định được tính chất, mức độ của vụ việc nên chưa thể khẳng định được đâu là hiện trường xảy ra tội phạm hoặc đó có phải là nơi phát hiện ra tội phạm hay không.Việc xác định vụ việc xảy ra có phải là tội phạm hay không chủ yếu dựa vào kết quả của quá trình khám nghiệm hiện trường. Ví dụ: Tại một hiện trường có tử thi phải trải qua công tác khám nghiệm hiện trường mới xác định được nguyên nhân ban đầu về cái chết và chỉ khi xác định được nguyên nhân của cái chết là do hành vi giết người gây nên thì mới có căn cứ để khởi tố vụ án hình sự. Khái niệm hiệm trường trong Khoa học hình sự có nội dung rộng hơn trong BLTTHS, cụ thể là: “Hiện trường là nơi xảy ra, nơi phát hiện sự việc 9 mang tính hình sự”[12].
Khái niệm này mang tính khái quát cao và đảm bảo tính khách quan. Trước hết, phải xác định hiện trường là “nơi” xảy ra, “nơi” phát hiện sự việc mang tính chất hình sự tức là nó phải gắn với một địa điểm với một khoảng không gian nhất định. Với quan điểm này, khái niệm hiện trường vừa mang tính khái quát của hiện trường nói chung là “nơi xảy ra sự việc”, vừa thể hiện được đặc điểm đặc trưng riêng của hiện trường trong khoa học điều tra hình sự là “sự việc mang tính hình sự”. Khái niệm này cũng khắc phục được hạn chế của khái niệm hiện trường được nêu trong Bộ luật Tố tụng hình sự.
Nếu đứng trên góc độ triết học để nghiên cứu, xem xét về bản chất của khái niệm hiện trường, thì tự trong bản thân của khái niệm hiện trường, nó đã chỉ ra hình thức tồn tại khách quan của hiện trường với tư cách là một địa điểm “nơi”, và cũng chính điều đó nó đã thể hiện được tính tất nhiên của hiện trường. Nói cách khác: bất kỳ một sự việc mang tính hình sự nào xảy ra cũng đều phải có hiện trường và đã là hiện trường thì không thể tồn tại, vận động ngoài không gian và thời gian. Dù nghiên cứu khái niệm hiện trường ở góc độ nào đi nữa thì về bản chất hay hình thức cũng kế thừa quan điểm về hiện trường phổ thông nói chung với những thuộc tính cơ bản sau: Một là, Hiện trường là “nơi”. Có thể hiểu là một địa điểm nhất định trong không gian và có khoảng thời gian cho sự việc xảy ra.
Hai là, phải có sự việc xảy ra. Sự việc này có thể là sự việc mang tính bất kỳ như sự việc hiện tượng liên quan đến lĩnh vực lao động, sản xuất, kinh doanh, hình sự, dân sự, hôn nhân gia đình… Từ những thuộc tính cơ bản của hiện trường có thể chỉ ra thuộc tính của khái niệm hiện trường trong khoa học hình sự như sau: 10 Thứ nhất, hiện trường là “nơi”. Tức là phải gắn với một địa điểm đã được xác định cụ thể trong không gian và có khoảng thời gian nhất định để sự việc xảy ra. Thứ hai, tại “nơi” đó xảy ra sự việc mang tính hình sự.
Thuộc tính thứ hai này đã phân biệt được rõ tính chất của hiện trường trong khoa học hình sự so với khái niệm hiện trường phổ thông. Với những phân tích trên có thể định nghĩa hiện trường trong khoa học hình sự như sau: “Hiện trường là nơi xảy ra, nơi phát hiện sự việc mang tính hình sự”. Theo tác giả để làm rõ được khái niệm khám nghiệm hiện trường một cách chính xác, khoa học thì khái niệm hiện trường trong khoa học hình sự cần phải được nêu cụ thể hơn: Hiện trường là nơi xảy ra sự việc mang tính hình sự cần được quan tâm để phục vụ cho công việc điều tra làm rõ quá trình diễn biến và nguyên nhân của sự việc đó. Công tác khám nghiệm hiện trường được hiểu là việc Cơ quan điều tra tổ chức, lực lượng phương tiện tiếp cận hiện trường, tiến hành hoạt động khám nghiệm theo trình tự thủ tục đã quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự.
Vậy có thể nêu khái niệm khám nghiệm hiện trường như sau: Khám nghiệm hiện trường là biện pháp điều tra được tiến hành tại hiện trường nhằm phát hiện, ghi nhận, thu lượm, bảo quản, nghiên cứu, đánh giá dấu vết, vật chứng và những tin tức, tài liệu có liên quan trực tiếp tại hiện trường của các vụ phạm tội hoặc vụ việc có tính hình sự đã xảy ra phục vụ cho điều tra, xử lý tội phạm. Phân loại hiện trường Trong qua trình điều tra một vụ án hình sự, việc phân loại hiện trường có ý nghĩa quan trọng giúp hoạt động điều tra tại hiện trường được tiến hành 11 một cách nhanh chóng và chính xác. Có thể phân loại hiện trường dựa vào những căn cứ sau đây: - Căn cứ vào nội dung, tính chất vụ việc mang tính hình sự có thể phân thành những loại hiện trường sau: + Hiện trường có người chết; + Hiện trường trộm cắp tài sản; + Hiện trường cháy nổ; + Hiện trường cướp tài sản; + Hiện trường sự cố kỹ thuật; + Hiện trường hiếp dâm; + Hiện trường tai nạn (giao thông, lao động…)… Phân loại hiện trường theo cách này giúp CQĐT xác định được nơi và loại dấu vết tồn tại trên hiện trường cũng như xác định được những loại dấu vết nào cần được phát hiện và thu luợm, đồng thời giúp cho công việc thống kê tội phạm được nhanh chóng. Dấu vết bao giờ cũng được hình thành theo quy luật nhất định phù hợp với tính chất của sự việc xảy ra, chẳng hạn khi CQĐT xác định hiện trường một vụ án mạng mà nạn nhân bị tử vong do bị trúng đạn thì dấu vết cần phải tìm kiếm là vỏ đạn rơi lại tại hiện trường.
hay hiện trường của các vụ trộm thường có các dấu vết vân tay, dấu giày dép, các dấu vết của dụng cụ phá cửa. Đây sẽ là những định hướng cho các cán bộ điều tra trong quá trình khám nghiệm hiện trường. - Căn cứ tình trạng hiện trường có thể phân hiện trường thành các loại: + Hiện trường còn nguyên vẹn: Là hiện trường từ khi xảy ra đến khi tiến hành khám nghiệm không bị thay đổi, mất mát, xáo trộn (hiểu theo nghĩa tương đối), do đó chưa ảnh hưởng tới dấu vết về độ chính xác và đầy đủ. 12 + Hiện trường xáo trộn: Là hiện trường đã bị thay đổi, biến đổi, mất mát so với thời điểm xảy ra sự việc phạm tội.
Ví dụ: Hiện trường tai nạn giao thông, trộm cắp tài sản… + Hiện trường giả tạo: Là hiện trường đã bị thay đổi, nguy tạo nhằm mục đích đánh lạc hướng điều tra của cơ quan chức năng. - Căn cứ vào diễn biến của sự việc xảy ra: Một hiện trường có thể được tập trung ở một địa điểm, nhưng cũng có thể có nhiều địa điểm khác nhau, đó chính là những bộ phận của hiện trường. Số lượng những bộ phận của hiện trường nhiều hay ít phần lớn phụ thuộc vào diễn biến hành vi của kẻ phạm tội, do đó được chia thành: nơi chuẩn bị thực hiện hành vi phạm tội, nơi thực hiện hành vi phạm tội, nơi che giấu hành vi phạm tội.