Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ luật học với đề tài "Các biện pháp đấu tranh phòng, chống tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ ở Hà Nội" do nghiên cứu sinh Bùi Kiến Quốc thực hiện tại Trường Đại học Luật Hà Nội dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Nguyễn Ngọc Hòa và TS. Trần Đình Nhã, bảo vệ năm 2001.
Tính cấp thiết của luận án xuất phát từ bối cảnh kinh tế - xã hội Việt Nam sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, kéo theo sự phát triển nhanh chóng của hoạt động giao thông vận tải. Tuy nhiên, đi đôi với sự phát triển này là tình trạng vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ và tai nạn giao thông đường bộ gia tăng nhanh, gây thiệt hại nghiêm trọng về người và tài sản. Theo số liệu thống kê của Bộ Y tế được tác giả trích dẫn, số người chết do tai nạn giao thông trung bình hàng năm trên toàn quốc khoảng 6.000 người (cao gần gấp đôi số người tử vong do bệnh tim mạch), số người bị thương khoảng 22.000 người. Báo cáo năm 1999 của Bộ Giao thông Vận tải gửi Thủ tướng Chính phủ ước tính thiệt hại kinh tế do tai nạn giao thông gây ra hàng năm chiếm khoảng 1,5% GDP toàn quốc. Riêng tại địa bàn Thủ đô Hà Nội, trung bình mỗi năm tai nạn giao thông đường bộ làm khoảng 300 người chết, 3.000 người bị thương và gây thiệt hại vật chất rất lớn.
Khoảng trống nghiên cứu được xác định là: Trước thời điểm luận án thực hiện, chưa có công trình khoa học nào ở cấp độ luận án tiến sĩ nghiên cứu một cách đầy đủ, có hệ thống và toàn diện về tình hình, nguyên nhân, điều kiện cũng như hệ thống giải pháp đấu tranh phòng, chống tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ trên địa bàn Thủ đô Hà Nội dưới góc độ kết hợp giữa luật hình sự và tội phạm học.
Mục đích nghiên cứu của luận án là trên cơ sở khảo cứu thực trạng tình hình, nguyên nhân và điều kiện của tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ ở Hà Nội, xây dựng hệ thống giải pháp đồng bộ phục vụ công tác đấu tranh phòng ngừa và xử lý loại tội phạm này.
Để đạt được mục đích trên, luận án giải quyết 3 nhiệm vụ cụ thể:
- Phân tích làm rõ các dấu hiệu pháp lý của tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ trong luật hình sự Việt Nam và thực tiễn áp dụng pháp luật đối với tội danh này.
- Phân tích làm rõ tình hình, cơ cấu, động thái, nguyên nhân và điều kiện của tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ trong giai đoạn 10 năm (1990–1999) tại Hà Nội; trên cơ sở đó đưa ra dự báo tình hình tội phạm trong những năm tiếp theo.
- Đề xuất hệ thống các giải pháp đồng bộ nhằm nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh phòng, chống tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ tại Hà Nội.
Đối tượng nghiên cứu của luận án là tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ; tình hình, nguyên nhân, điều kiện phát sinh và hệ thống các giải pháp đấu tranh phòng, chống tội phạm này.
Phạm vi nghiên cứu được xác định:
- Không gian: Địa bàn Thủ đô Hà Nội.
- Thời gian: Khảo sát thực tiễn trong mốc thời gian 10 năm từ năm 1990 đến năm 1999.
- Góc độ tiếp cận: Tích hợp hai chuyên ngành khoa học pháp lý là Pháp lý hình sự và Tội phạm học.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Trong phần tổng quan tình hình nghiên cứu, tác giả điểm lại một số công trình khoa học tiêu biểu nghiên cứu các khía cạnh liên quan đến an toàn giao thông vận tải đường bộ:
- Luận văn thạc sĩ luật học của tác giả Nguyễn Văn Hạnh với đề tài: "Tội vi phạm các quy định về an toàn giao thông vận tải và đấu tranh phòng, chống tội vi phạm các quy định về an toàn giao thông vận tải trong quân đội". Công trình này tiếp cận nhóm tội phạm giao thông vận tải trong phạm vi lực lượng quân đội.
- Luận văn thạc sĩ của tác giả Phan Huy Thái với đề tài: "Điều tra các vụ án vi phạm các quy định về an toàn giao thông vận tải đường bộ trên địa bàn Hà Nội - Thực trạng và các giải pháp hoàn thiện". Công trình này giới hạn phạm vi nghiên cứu ở giai đoạn điều tra tố tụng hình sự.
- Luận văn thạc sĩ của tác giả Ngô Huy Ngọc với đề tài: "Những biện pháp phòng ngừa tội phạm xâm phạm trật tự an toàn giao thông đường bộ tại thành phố Hà Nội". Công trình tập trung vào các biện pháp phòng ngừa tội phạm xâm phạm trật tự an toàn giao thông nói chung.
Tác giả luận án chỉ ra rằng các công trình nêu trên chỉ tiếp cận từng khía cạnh riêng lẻ như phạm vi lực lượng vũ trang, quy trình điều tra hoặc phòng ngừa trật tự an toàn giao thông diện rộng. Khoảng trống mà luận án lựa chọn giải quyết là thực hiện công trình chuyên khảo đầu tiên nghiên cứu toàn diện, có hệ thống ở cấp độ tiến sĩ luật học về tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ trên địa bàn Hà Nội, bao quát từ lịch sử lập pháp, các dấu hiệu cấu thành tội phạm, đối sánh luật học quốc tế, thực trạng áp dụng quy phạm, phân tích số liệu tội phạm học 10 năm (1990–1999), đến việc đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện lập pháp và tổ chức thực hiện.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận của luận án dựa trên hệ thống các quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin và đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng Cộng sản Việt Nam về xây dựng Nhà nước và hoàn thiện hệ thống pháp luật; đồng thời tiếp thu các thành tựu của các khoa học chuyên ngành: triết học, tội phạm học, luật hình sự, tâm lý học xã hội và xã hội học pháp luật.
Phương pháp luận chỉ đạo toàn bộ quá trình nghiên cứu là chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử. Các phương pháp nghiên cứu cụ thể được tác giả sử dụng gồm:
- Phương pháp lịch sử: Khảo cứu quá trình hình thành và phát triển của các quy phạm pháp luật hình sự điều chỉnh hành vi vi phạm trật tự an toàn giao thông đường bộ qua các thời kỳ phong kiến, thời kỳ Pháp thuộc, giai đoạn 1945–1985 và giai đoạn từ khi ban hành Bộ luật Hình sự năm 1985 đến Bộ luật Hình sự năm 1999.
- Phương pháp phân tích và tổng hợp: Làm rõ các yếu tố cấu thành tội phạm (khách thể, mặt khách quan, mặt chủ quan, chủ thể) và tổng kết thực tiễn áp dụng các văn bản hướng dẫn giải thích luật.
- Phương pháp so sánh pháp luật: Đối chiếu các quy định pháp luật hình sự của Việt Nam với quy định tương ứng trong Bộ luật Hình sự của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, Liên bang Nga, Cộng hòa Liên bang Đức và Cộng hòa Pháp nhằm rút ra kinh nghiệm lập pháp.
- Phương pháp thống kê xã hội học và phương pháp tội phạm học: Phân tích số liệu các vụ tai nạn, các vụ án hình sự, số lượng bị cáo, cơ cấu nguyên nhân, điều kiện phạm tội trên địa bàn Hà Nội giai đoạn 1990–1999.
- Phương pháp chuyên gia và khoa học dự báo: Đánh giá xu hướng vận động của tình hình tội phạm trong các năm tiếp theo để đề xuất giải pháp.
Nguồn dữ liệu và tư liệu thực tiễn của luận án bao gồm: các bản án, quyết định hình sự sơ thẩm và phúc thẩm của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội và Tòa án nhân dân các quận, huyện; số liệu thống kê tội phạm và vi phạm trật tự an toàn giao thông của Công an thành phố Hà Nội, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao; các văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước và văn bản hướng dẫn áp dụng pháp luật liên ngành.
Nội dung chính theo từng chương
Luận án có độ dài 178 trang văn bản chính, gồm phần mở đầu, 3 chương nội dung với 14 mục, phần kết luận, danh mục công trình công bố của tác giả, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục.
Chương 1: Tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ trong luật hình sự Việt Nam
Chương 1 (từ trang 10 đến trang 53) hệ thống hóa lịch sử lập pháp hình sự và phân tích lý luận về các dấu hiệu pháp lý cấu thành tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ.
1. Lịch sử quy định tội danh qua các giai đoạn:
- Thời kỳ phong kiến trước năm 1945: Hành vi vi phạm trật tự an toàn giao thông đã được ghi nhận trong Bộ hình thư thời Lý (năm 1042), Bộ hình thư mới thời Trần (năm 1244). Điều 553 Chương Tạp luật của Quốc triều hình luật (Bộ luật Hồng Đức thời Lê) quy định xử phạt 60 trượng đối với hành vi vô cớ phóng ngựa trong phố phường, kinh thành; nếu làm chết hoặc bị thương người thì xử theo tội lầm lỡ (vô ý) nhẹ hơn tội cố ý đánh thương tích/chết người một bậc; nếu ngựa lồng không ghìm được thì giảm thêm hai bậc. Điều 15 Bộ Hoàng Việt luật lệ (nhà Nguyễn) quy định điều khoản "Xa mã sát thương nhân", phân biệt xử lý giữa việc phóng xe ngựa trong chợ phố và nơi đồng vắng, quy định trách nhiệm bồi thường tiền chôn cất và áp dụng phạt trượng, lưu đày.
- Thời kỳ Pháp thuộc: Nam kỳ áp dụng luật hình sự của Pháp; Bắc kỳ và Trung kỳ áp dụng Hoàng Việt hình luật (sửa đổi qua Dụ số 37 ngày 30/5/1945, Điều 418 quy định phạt tiền từ 6 đến 60 đồng và phạt giam 1 đến 10 ngày đối với tội vi cảnh về đường sá).
- Giai đoạn 1945 đến trước năm 1985: Trong 10 năm đầu (1945–1954), do điều kiện kháng chiến nên vẫn tạm vận dụng luật cũ. Ngày 03/10/1955, Bộ Giao thông Bưu điện ban hành Nghị định số 348/NĐ kèm theo Luật đi đường bộ mới. Ngày 19/01/1955, Thủ tướng Chính phủ ban hành Thông tư số 442/TTg, tại Điểm 4 quy định phạt tù từ 3 tháng đến 3 năm nếu vi phạm làm bị thương người khác, phạt tù đến 10 năm nếu gây chết người (chỉ xử lý khi có hậu quả nhân thân, không xử lý thiệt hại thuần túy về tài sản). Ngày 29/06/1956, Thông tư số 556/TTg bổ sung khung hình phạt tù chung thân hoặc tử hình khi gây tai nạn lớn làm chết nhiều người và thiệt hại lớn đến tài sản của nhân dân (tác giả đánh giá quy định hình phạt tử hình và tù chung thân đối với tội lỗi vô ý là quá nghiêm khắc, không phù hợp bản chất lỗi). Sau năm 1975, Sắc luật số 03-SL/76 ngày 15/03/1976 tại miền Nam quy định Điều 9 với khung hình phạt tù từ 3 tháng đến 5 năm, trường hợp nghiêm trọng phạt tù đến 15 năm, bãi bỏ hình phạt tử hình/chung thân và bổ sung phạt tiền đến 1.000 đồng ngân hàng.
- Bộ luật Hình sự năm 1985: Tội danh được quy định chung tại Điều 186 với tên gọi "Tội vi phạm các quy định về an toàn giao thông vận tải" (sau các lần sửa đổi bổ sung năm 1989, 1991, 1992, 1997 đã bỏ cụm từ "gây hậu quả nghiêm trọng" ở tên điều luật). Điều luật gồm 4 khung hình phạt: khung 1 (cải tạo không giam giữ đến 2 năm hoặc phạt tù từ 6 tháng đến 5 năm); khung 2 (phạt tù từ 3 năm đến 10 năm); khung 3 (phạt tù từ 7 năm đến 20 năm); khung 4 quy định trường hợp có khả năng thực tế dẫn đến hậu quả đặc biệt nghiêm trọng nếu không ngăn chặn kịp thời (phạt cải tạo không giam giữ đến 1 năm hoặc phạt tù từ 3 tháng đến 3 năm). Tác giả chỉ ra hạn chế lớn của Điều 186 BLHS 1985 là gộp chung 4 lĩnh vực giao thông (đường bộ, đường sắt, đường thủy, đường không) vào một điều luật.
- Bộ luật Hình sự năm 1999: Tội danh được tách độc lập tại Điều 202 "Tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ". BLHS 1999 bổ sung hình phạt tiền là hình phạt chính (từ 5 triệu đến 50 triệu đồng); bổ sung tình tiết tăng nặng định khung "Không chấp hành hiệu lệnh của người đang làm nhiệm vụ điều khiển hoặc hướng dẫn giao thông" và "Gây hậu quả rất nghiêm trọng"; quy định cụ thể 3 mức độ hậu quả (nghiêm trọng, rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng); giảm mức hình phạt tù tối đa từ 20 năm xuống 15 năm; đưa hình phạt bổ sung (cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề 1–5 năm) vào trực tiếp khoản 5 Điều 202.
2. Phân tích bốn yếu tố cấu thành tội phạm:
- Khách thể: Khách thể trực tiếp đặc trưng là sự an toàn của giao thông vận tải đường bộ; khách thể bắt buộc là quyền được bảo vệ tính mạng, sức khỏe và quyền sở hữu tài sản của công dân, cơ quan, tổ chức.
- Mặt khách quan: Bao gồm hành vi vi phạm các quy tắc an toàn giao thông đường bộ (quy định tại Nghị định số 36/CP ngày 10/7/2001, như chạy quá tốc độ theo Điều 33, Điều 34; chở quá tải theo Điều 20; đi sai làn đường, phần đường); hậu quả nguy hiểm cho xã hội (chết người, tổn hại sức khỏe từ 31% thương tật trở lên, hoặc thiệt hại nghiêm trọng về tài sản); mối quan hệ nhân quả tất yếu giữa hành vi và hậu quả. Đối với cấu thành tội phạm tại khoản 4 Điều 202 BLHS 1999 (khả năng thực tế dẫn đến hậu quả đặc biệt nghiêm trọng), tác giả xác định đây là cấu thành tội phạm phụ thay thế và vẫn mang bản chất cấu thành vật chất mà hậu quả là tình trạng nguy hiểm đặc biệt.
- Mặt chủ quan: Hình thức lỗi là lỗi vô ý (vô ý do quá tự tin hoặc vô ý do cẩu thả). Tác giả phản biện và bác bỏ quan điểm cho rằng tội này mang "lỗi hỗn hợp" (cố ý đối với hành vi và vô ý đối với hậu quả), khẳng định trong một cấu thành tội phạm cơ bản không thể tồn tại song song hai hình thức lỗi đối với các yếu tố khách quan khác nhau.
- Chủ thể: Người từ đủ 16 tuổi trở lên, có năng lực trách nhiệm hình sự và là người điều khiển phương tiện giao thông đường bộ (bao gồm người điều khiển xe cơ giới, xe thô sơ và người trực tiếp điều khiển hệ thống tín hiệu chỉ huy giao thông).
Bảng so sánh quy định pháp luật hình sự về tội phạm giao thông đường bộ giữa Việt Nam và một số quốc gia:
| Quốc gia |
Tên tội danh / Điều luật |
Phạm vi hậu quả cấu thành tội phạm |
Xử lý hành vi nguy hiểm chưa gây tai nạn |
| Việt Nam |
Điều 202 BLHS 1999: Tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ |
Gây thiệt hại tính mạng, sức khỏe (thương tật ≥31%), tài sản nghiêm trọng; hoặc khả năng thực tế gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng (khoản 4). |
Xử lý hình sự nếu có khả năng thực tế gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng (khoản 4 Điều 202). Vi phạm nồng độ cồn chưa gây hậu quả xử lý hành chính. |
| Trung Quốc |
Điều 113 BLHS CHND Trung Hoa |
Gây chết người, gây thương tích nặng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản chung/riêng. |
Không quy định cấu thành tình trạng đặc biệt nguy hiểm khi chưa có thiệt hại xảy ra. |
| Liên bang Nga |
Điều 260 BLHS CHLB Nga |
Gây tổn hại nặng hoặc nặng vừa đến sức khỏe; hoặc gây chết người. Không coi thiệt hại tài sản là hậu quả cấu thành tội này. |
Chỉ áp dụng đối với người điều khiển phương tiện giao thông cơ giới; không xử lý hình sự thiệt hại thuần túy về tài sản. |
| Pháp |
Luật Giao thông đường bộ số 83-1045 ngày 08/12/1983 (Điều 1) |
Gây tai nạn bị truy cứu các tội độc lập (vô ý gây chết người, vô ý gây thương tích). |
Xử lý hình sự ngay hành vi lái xe có nồng độ cồn ≥0,80 g/lít máu hoặc ≥0,40 mg/lít khí thở (phạt đến 2 năm tù, phạt 30.000 Franc) dù chưa gây tai nạn. |
| CHLB Đức |
Luật Giao thông đường bộ số 35 (Điều 21) & BLHS (Luật số 85 ngày 10/03/1987) |
Gây hậu quả bị xử lý theo tội vô ý gây chết người, gây thương tích theo BLHS chung. |
Phạt tù đến 1 năm hoặc phạt tiền đối với hành vi lái xe không có giấy phép lái xe hoặc lái xe khi có nồng độ cồn quá mức quy định dù chưa xảy ra hậu quả. |
3. Đánh giá văn bản hướng dẫn áp dụng pháp luật:
Tác giả phân tích các văn bản hướng dẫn nghiệp vụ của TANDTC, VKSNDTC và Bộ Công an do Ủy ban Thường vụ Quốc hội chưa có giải thích chính thức:
- Nghị quyết số 04/HĐTP ngày 29/01/1986 hướng dẫn hậu quả đặc biệt nghiêm trọng là từ 2 người chết hoặc 3 người bị thương nặng trở lên; thiệt hại tài sản từ 100.000 đồng trở lên.
- Do lạm phát, Nghị quyết số 01-89/HĐTP ngày 19/04/1989 sửa đổi tiêu chuẩn thiệt hại tài sản quy ra giá trị tương đương 5 tấn gạo.
- Thông tư liên ngành số 02/TTLN ngày 07/01/1995 của TANDTC - VKSNDTC - Bộ Nội vụ tiếp tục chuẩn hóa các căn cứ xử lý nhưng vẫn còn khoảng trống về định lượng đối với một số hành vi cụ thể.
Chương 2: Tình hình, nguyên nhân và điều kiện của tội vi phạm các quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ ở Hà Nội
Chương 2 (từ trang 54 đến trang 133) tập trung nghiên cứu thực tiễn tội phạm học tại Hà Nội trong 10 năm (1990–1999) qua 3 nội dung chính:
1. Tình hình tội phạm:
- Đánh giá thực trạng, diễn biến số lượng vụ án, số người chết, số người bị thương và mức độ thiệt hại tài sản trên địa bàn Hà Nội.
- Phân tích cơ cấu tội phạm theo phương tiện gây tai nạn (xe máy, ô tô tải, ô tô khách, xe con), theo tuyến đường (quốc lộ cửa ngõ, nội thành), theo thời gian trong ngày và theo đặc điểm nhân thân người phạm tội (độ tuổi, nghề nghiệp, trình độ học vấn và việc có hay không có giấy phép lái xe hợp lệ).
2. Nguyên nhân và điều kiện của tội phạm:
- Nguyên nhân từ phía người điều khiển phương tiện: Ý thức chấp hành luật lệ kém; vi phạm tốc độ quy định; tránh, vượt sai quy tắc; điều khiển phương tiện sau khi sử dụng rượu, bia; không làm chủ tay lái; thiếu quan sát tại các điểm giao cắt.
- Điều kiện về kết cấu hạ tầng: Mạng lưới đường sá đô thị Hà Nội chật hẹp, thiếu đồng bộ, nhiều điểm giao cắt đồng mức nguy hiểm; biển báo hiệu và đèn tín hiệu thiếu hoặc bố trí chưa hợp lý; mặt đường xuống cấp.
- Điều kiện về phương tiện và quản lý phương tiện: Sự gia tăng nhanh chóng của phương tiện cơ giới cá nhân (đặc biệt là xe mô tô, xe gắn máy); chất lượng kỹ thuật của nhiều phương tiện không đảm bảo an toàn, công tác đăng kiểm còn sơ hở.
- Điều kiện về quản lý nhà nước và cưỡng chế thi hành: Hiệu lực quản lý của các cơ quan chức năng còn hạn chế; việc đào tạo, sát hạch cấp giấy phép lái xe có biểu hiện buông lỏng tiêu cực; công tác tuần tra, kiểm soát và xử lý vi phạm chưa đủ sức răn đe.
3. Dự báo tình hình tội phạm:
- Luận án dự báo trong giai đoạn tiếp theo, cùng với tốc độ đô thị hóa và gia tăng lưu lượng phương tiện cơ giới tại Hà Nội, nếu không có các giải pháp đồng bộ và quyết liệt thì tình hình vi phạm và tội phạm giao thông đường bộ sẽ tiếp tục diễn biến phức tạp.
Chương 3: Các biện pháp đấu tranh phòng, chống tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ ở Hà Nội
Chương 3 (từ trang 134 đến trang 183) đề xuất hệ thống giải pháp toàn diện gồm 6 nhóm biện pháp:
-
Các biện pháp về chính sách, pháp luật (Mục 3.1):
- Kiến nghị sửa đổi, bổ sung Luật Giao thông đường bộ nhằm quy định cụ thể, chi tiết các hành vi nguy hiểm bị nghiêm cấm.
- Sửa đổi Điều 202 BLHS năm 1999: bổ sung 4 hình phạt bổ sung mới vào khoản 5.
- Sửa đổi Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính theo hướng tăng thẩm quyền xử phạt tại chỗ cho lực lượng trực tiếp làm nhiệm vụ tuần tra, kiểm soát giao thông đối với các vi phạm vừa và nhỏ.
- Bổ sung 2 hình thức phạt bổ sung và chia nhỏ khung mức phạt tiền trong Nghị định số 39/CP nhằm thu hẹp khoảng cách giữa mức phạt tối thiểu và tối đa, tránh sự tùy tiện hoặc lạm quyền của cán bộ thực thi công vụ.
-
Biện pháp nâng cao trách nhiệm và hoạt động của cơ quan quản lý, bảo vệ pháp luật (Mục 3.2):
- Củng cố sự phối hợp giữa Công an thành phố Hà Nội, Viện kiểm sát nhân dân và Tòa án nhân dân các cấp trong việc điều tra, truy tố, xét xử kịp thời, nghiêm minh các vụ án tai nạn giao thông.
- Nâng cao năng lực chuyên môn và phẩm chất đạo đức của lực lượng Cảnh sát giao thông đường bộ; trang bị phương tiện kỹ thuật nghiệp vụ kiểm tra tốc độ và đo nồng độ cồn.
-
Biện pháp tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về an toàn giao thông vận tải (Mục 3.3):
- Đa dạng hóa hình thức tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng; đưa nội dung giáo dục pháp luật an toàn giao thông vào chương trình giảng dạy của hệ thống trường học trên địa bàn Hà Nội.
-
Các biện pháp đấu tranh phòng, chống tệ nạn đua xe trái phép (Mục 3.4):
- Xây dựng phương án liên hoàn giữa các lực lượng cảnh sát nhằm phát hiện, ngăn chặn và xử lý nghiêm các đối tượng thanh thiếu niên tụ tập lạng lách, đánh võng, tổ chức đua xe trái phép trên các tuyến phố nội thành Hà Nội.
-
Biện pháp hoàn thiện kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ (Mục 3.5):
- Cải tạo, mở rộng mặt cắt đường bộ; tổ chức phân luồng giao thông hợp lý; xây dựng các nút giao thông lập thể, cầu vượt cho người đi bộ; rà soát, bổ sung hệ thống biển báo, đèn tín hiệu, vạch kẻ đường đạt chuẩn kỹ thuật.
-
Biện pháp quản lý phương tiện và người điều khiển phương tiện giao thông đường bộ (Mục 3.6):
- Chấn chỉnh quy trình đào tạo, sát hạch cấp giấy phép lái xe; kiểm tra định kỳ nghiêm ngặt điều kiện an toàn kỹ thuật của phương tiện cơ giới đường bộ; kiểm soát niên hạn sử dụng của xe tải, xe khách.
Kết quả và những đóng góp mới
Các đóng góp mới về mặt khoa học pháp lý và thực tiễn được luận án tự xác định bao gồm:
- Về mặt lịch sử và lý luận luật hình sự: Luận án là công trình chuyên khảo tiến sĩ đầu tiên tổng kết một cách có hệ thống lịch sử hình thành và phát triển của quy phạm pháp luật hình sự về tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ tại Việt Nam từ thời phong kiến đến BLHS năm 1999. Luận án làm rõ các dấu hiệu pháp lý cấu thành tội phạm, luận chứng bác bỏ quan điểm "lỗi hỗn hợp" trong cấu thành cơ bản và xác lập cơ sở khoa học xác định chủ thể mở rộng của tội phạm này.
- Về mặt tội phạm học: Đã phân tích toàn diện thực trạng, cơ cấu, động thái, nguyên nhân và điều kiện của tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ tại Hà Nội giai đoạn 10 năm (1990–1999); chỉ ra các bất cập trong hoạt động thực tiễn và đưa ra dự báo khoa học về diễn biến tội phạm.
- Về mặt so sánh luật học: Nghiên cứu, đối chiếu pháp luật hình sự Việt Nam với luật hình sự của CHND Trung Hoa, CHLB Nga, Pháp và CHLB Đức, từ đó rút ra các giá trị tham khảo hữu ích cho công tác lập pháp trong nước.
- Hệ thống kiến nghị hoàn thiện pháp luật cụ thể:
- Đề xuất bổ sung vào Luật Giao thông đường bộ các dạng hành vi nguy hiểm trực tiếp liên quan đến an toàn giao thông.
- Đề xuất bổ sung 4 hình phạt bổ sung mới vào khoản 5 Điều 202 BLHS năm 1999.
- Đề xuất sửa đổi Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính nhằm tăng thẩm quyền xử phạt tại chỗ cho lực lượng cảnh sát giao thông trực tiếp tuần tra kiểm soát đối với các vi phạm vừa và nhỏ.
- Đề xuất bổ sung 2 hình thức phạt bổ sung mới và thiết kế lại các khung phạt tiền trong Nghị định 39/CP của Chính phủ nhằm thu hẹp biên độ giữa mức phạt tối thiểu và tối đa, bảo đảm sự tương xứng với tính chất vi phạm và hạn chế nguy cơ tiêu cực.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Phạm vi khảo sát thực tiễn của luận án giới hạn trong phạm vi địa giới hành chính Thủ đô Hà Nội và khung thời gian 10 năm từ 1990 đến 1999. Do các đạo luật thành văn thời phong kiến bị thất lạc do chiến tranh và thời gian, việc khảo cứu lịch sử pháp lý trước năm 1945 có những giới hạn tư liệu nhất định.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Luận án mở ra hướng nghiên cứu tiếp tục đánh giá tác động thực tiễn của BLHS năm 1999 và Luật Giao thông đường bộ năm 2001 (có hiệu lực từ ngày 01/01/2002) sau khi đi vào đời sống xã hội; theo dõi biến động của tội phạm giao thông đường bộ trong điều kiện kinh tế đô thị phát triển với mật độ phương tiện gia tăng nhanh ở giai đoạn sau năm 2000.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo chuyên khảo có giá trị đối với các nhóm đối tượng:
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học, sinh viên ngành luật: Tham khảo sâu Chương 1 về kỹ thuật phân tích các yếu tố cấu thành tội phạm (khách thể, quan hệ nhân quả, lỗi vô ý, chủ thể) và phương pháp nghiên cứu so sánh luật hình sự quốc tế.
- Giảng viên các cơ sở đào tạo luật: Sử dụng làm giáo trình tham khảo, tài liệu giảng dạy trong các học phần Luật Hình sự Việt Nam và Tội phạm học.
- Cơ quan tiến hành tố tụng (Công an, Viện kiểm sát, Tòa án nhân dân TP. Hà Nội): Tham khảo việc xác định chính xác quan hệ nhân quả trong các vụ tai nạn phức tạp, phân biệt lỗi vô ý vì quá tự tin với lỗi cố ý gián tiếp (phân biệt với tội giết người), và vận dụng các tình tiết định khung tăng nặng.
- Cơ quan lập pháp và quản lý nhà nước về giao thông vận tải: Tham khảo hệ thống luận cứ để xây dựng, sửa đổi các văn bản quy phạm pháp luật, hoàn thiện thẩm quyền xử phạt hành chính và tối ưu hóa tổ chức giao thông đô thị.
Câu hỏi thường gặp
1. Theo luận án, quan điểm xác định "lỗi hỗn hợp" đối với tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ có được chấp nhận không? Vì sao?
Không. Tác giả luận án không tán thành quan điểm cho rằng tội này có lỗi hỗn hợp (cố ý đối với hành vi và vô ý đối với hậu quả). Lý do là lỗi là thái độ tâm lý của người phạm tội đối với toàn bộ các tình tiết khách quan phản ánh trong cấu thành tội phạm cơ bản, không thể tồn tại hai loại lỗi đối lập trong cùng một cấu thành cơ bản. Tội phạm này chỉ được thực hiện với lỗi vô ý (vô ý do quá tự tin hoặc vô ý do cẩu thả).
2. Điểm khác biệt căn bản về dấu hiệu hậu quả giữa Điều 186 BLHS năm 1985 và Điều 202 BLHS năm 1999 là gì?
Điều 186 BLHS 1985 quy định chung chung là "gây thiệt hại đến sức khỏe" mà không định lượng mức độ, dễ dẫn đến hình sự hóa vi phạm hành chính, và chỉ chia hậu quả thành 2 mức (nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng). Điều 202 BLHS 1999 đã chuẩn hóa thành "gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khỏe" (tỷ lệ thương tật từ 31% trở lên) và phân hóa rõ 3 cấp độ hậu quả: nghiêm trọng, rất nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng.
3. Theo khảo cứu so sánh luật học trong luận án, BLHS Cộng hòa Liên bang Nga (Điều 260) có điểm gì khác biệt so với luật hình sự Việt Nam về hậu quả tội phạm?
Khác với Việt Nam và Trung Quốc, Điều 260 BLHS Liên bang Nga không coi thiệt hại về tài sản là dấu hiệu hậu quả cấu thành tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông, mà chỉ quy định hậu quả thiệt hại về tính mạng hoặc sức khỏe (nặng hoặc nặng vừa). Ngoài ra, luật Nga chỉ giới hạn chủ thể là người điều khiển phương tiện giao thông cơ giới.
4. Luận án đề xuất giải pháp lập pháp cụ thể nào liên quan đến thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông?
Tác giả đề xuất sửa đổi Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính theo hướng tăng thẩm quyền xử phạt tại chỗ cho lực lượng trực tiếp và thường xuyên làm nhiệm vụ tuần tra, kiểm soát (Cảnh sát giao thông) đối với các vi phạm trật tự an toàn giao thông quy mô vừa và nhỏ nhằm xử lý nhanh chóng, kịp thời.
5. Những căn cứ xác định mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả trong tội danh này được luận án nêu ra gồm những gì?
Luận án xác định 3 căn cứ bắt buộc: (1) Hành vi vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ phải xảy ra trước hậu quả nguy hiểm cho xã hội về mặt thời gian; (2) Hành vi vi phạm phải chứa đựng khả năng thực tế trực tiếp gây ra hậu quả; (3) Hậu quả nguy hiểm xảy ra trên thực tế phải đúng là sự hiện thực hóa của khả năng đó.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Bùi Kiến Quốc là công trình khoa học pháp lý chuyên khảo nghiên cứu toàn diện tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ trên địa bàn Thủ đô Hà Nội giai đoạn 1990–1999. Bằng việc kết hợp chặt chẽ giữa lý luận luật hình sự, phương pháp so sánh luật học quốc tế và khảo sát thực tiễn tội phạm học 10 năm, luận án đã làm sáng tỏ bản chất pháp lý, các yếu tố cấu thành tội phạm và thực trạng nguyên nhân, điều kiện phát sinh tội phạm. Hệ thống giải pháp đồng bộ về chính sách pháp luật, tổ chức quản lý, kết cấu hạ tầng và tuyên truyền giáo dục được đề xuất trong luận án có giá trị thực tiễn phục vụ công tác đấu tranh phòng ngừa tai nạn giao thông và hoàn thiện hệ thống pháp luật hình sự Việt Nam.