Chương I TOI VI PHAM QUY ĐỊNH VỀ DIEU KHIỂN PHƯƠNG TIEN GIAO THONG ĐƯỜNG BO TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM 1. TOI VI PHAM QUY ĐỊNH VE DIEU KHIỂN PHƯƠNG TIEN GIAO THONG DUONG BO TRONG LUAT HINH SU VIET NAM TRUGC KHI CO BO LUAT HINH SU NAM 1985 1. Thời ky trước nam 1945 Trong các triéu đại phong kiến Việt Nam, kể từ thoi nhà Lý (thế ky thứ XI), kinh tế - xã hội Việt Nam đã phát triển khá mạnh, đặc biệt là ở các đô thị lớn như Hà Nội, Huế, Hội An và một số đô thị khác. Di đôi với sự phát triển của nền kinh tế, giao thông cũng phát triển theo để đáp ứng yêu cầu về vận chuyển giao lưu hàng hóa và sự đi lại của nhân dân.
Tham gia giao thông lúc bấy giờ chủ yếu là ngựa, xe ngựa và khách bộ hành. Hoạt động giao thông ngày càng phát triển, bao giờ cũng gắn liền với tai nạn giao thông do các hành vi không tuân thủ các quy tac về ATGTVT. Nhà nước phong kiến Việt Nam thời đó đã nhận thức rõ tính chất nguy hiểm của hành vi vi phạm các quy tac về ATGTVT đường bộ và đã quy định thành tội phạm và hình phạt trong các đạo luật của mình như Bộ hình thư nhà Lý (nam 1042), Bộ hình thư mới của nha Trần (năm 1244), Quốc triều hình luật (Bộ luật Hồng Đức) của nhà Lê (thế kỷ thứ XV) và Bộ Hoàng Việt luật lệ (Bộ luật Gia Long) của nhà Nguyễn (thế kỷ thứ XIX). Rất tiếc một số đạo luật thành văn đó do chiến tranh và thời gian tàn phá nên hiện nay không còn lưu lại được, đã hạn chế rất nhiều cho việc nghiên cứu lịch sử hình thành và phát triển các quy định của pháp luật về tội này.
Bộ luật Hồng Đức của nhà Lê, tại Điều 553, chương Tạp luật quy định rõ: 1] Người nào vô cớ mà phóng ngựa chạy trong phố phường, đường ngõ trong Kinh thành, hay là trong đám đông người thì xử phạt 60 trượng. Nếu vì thế mà làm bị thương hay chết người thì xử tội nhẹ hơn tội đánh bị thương hay đánh chết người một bậc; làm bị thương hay chết các súc vật thì phải đền số tiền theo sự mất giá (ví như con vật đáng mười phần nay làm chết giá chỉ còn hai phần thì phải đền giá tám phần); làm bị thương hay chết người thì xử theo tội vì lầm lỡ để xảy ra. Nếu vì ngựa sợ hãi lồng lên, không thể ghìm được để xảy ra việc làm bị thương, làm chết người thì được xử giảm nhẹ hơn tội lầm lỡ hai bậc [39, tr. Tiếp theo Bộ luật Hồng Đức, Bộ Hoàng Việt luật lệ quy định tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ tại Điều 15 - xa mã sát thương nhân (xe và ngựa làm bị thương, chết người): Phàm vô cớ cho xe, ngựa chạy nhanh tha hồ nơi tiệm buôn, phố chợ.
Nhân đó làm người ta bị thương thì giảm một bậc theo thường nhân đánh lộn có thương tích. Nếu nhân đó chết người, phạt 100 trượng, lưu 3. Ở thôn quê, nếu vô cớ quất ngựa chạy lung tung nơi đồng vắng không người, nhân đó làm bị thương người ta thấy không đến đỗi chết thì không nói: nếu làm chết người thì phạt 100 trượng, xử như vừa nói, cấp cho người ta 10 lạng bạc lo chôn cất. Nếu vì công vụ khẩn cấp, cho ngựa phi nhanh, làm bị thương người thì xử tội sai lầm, y theo luật chuộc đền cho nạn nhân [70, tr.
Trong thời kỳ Pháp thuộc, nước ta bị chia làm ba miền: Nam kỳ, Trung kỳ và Bắc kỳ. Nam kỳ là thuộc địa của Pháp, tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ được xét xử theo pháp luật của Pháp. Còn ở Bác kỳ và Trung kỳ, tội này được xử theo pháp luật của nhà Nguyễn. Hoàng Việt hình luật của nhà Nguyễn quy định tội vi phạm quy 12 định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ tại Chương X* ‘Ii.
Vi cảnh, Tiết III - Thuộc về đường sa, sông ngòi, ao giếng: Người nào kéo xe ngồi, xe chở hàng hóa, người đánh các thứ xe và người dat lừa, ngựa, trâu bò không tuân lệ định, không chịu đứng luôn bên cạnh xe, ngựa và con vật khác của nó để có thể dat giữ xe và súc vật ấy; không chịu đi về một bên đường, khi gặp xe khác, không chịu tránh ra bên cạnh và khi xe khác đến gần không chịu nhường đường cho xe kia ít ra là một nửa đường [32, tr. Về tội vi cảnh, Điều 418 sửa đổi Dụ số 37 ngày 30/5/1945 quy định: "Can vào tội phạm này thời chiểu theo thể lệ đã định mà phạt bạc từ 6 đồng đến 60 đồng và phạt giam từ 1 ngày đến 10 ngày" [32, tr. Thời kỳ sau Cách mang tháng Tám nam 1945 đến trước khi có Bộ luật hình sự nam 1985 Cách mang tháng Tám năm 1945 thành công đã đập tan chế độ thực dân phong kiến và các thiết chế pháp luật của nó; đồng thời thiết lập nên Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, Nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam á cùng với hệ thống pháp luật mới bao gồm Hiến pháp và các đạo luật, sắc lệnh, nghị định, thông tư hướng dẫn thi hành thuộc các ngành luật hình sự, hành chính, dân sự. Tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ nằm trong hệ thống luật hình sự Việt Nam được quy định muộn hơn nhiều so với các loại tội khác.
Thật vậy, ngay sau khi giành được chính quyền về tay nhân dân, Nhà nước ta đã ban hành ngay các văn bản pháp luật hình sự quy định các tội chống chính quyền dân chủ nhân dân như tội âm mưu lật đổ chính quyền, tội gián điệp, tội bao loạn, tội hoạt động phi. trong Sắc lệnh số 21 ngày 14 tháng 2 nam 1946. Như vay, các tội chống lại chính quyền dân chủ nhân dân ra đời rất sớm, găn liền với sự xuất hiện của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Ngược lại, tội vi phạm quy định về 13 điều khiển phương tiện giao thông đường bộ có lịch sử ra đời muộn hơn.
Quy phạm pháp luật quy định tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ là quy phạm viện dẫn, nên tội này chỉ ra đời khi có các quy định về ATGTVT đường bộ tức là khi có luật về giao thông đường bộ. Sau khi giành được chính quyền nam 1945, thì cuối năm 1946, thực dân Pháp đã quay lại tái chiếm Hà Nội và một số thành phố, thị xã. Các cơ quan nhà nước của ta phải rút lên căn cứ Việt Bắc, tiếp tục cuộc kháng chiến chống Pháp. Do đó, suốt 10 năm (1945-1954), Nhà nước ta chưa có hệ thống pháp luật bảo đảm ATGTVT.
Vì vậy, không có cơ sở để hình thành quy phạm pháp luật về tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ. Trong thời kỳ này, ở ba miền Trung, Nam, Bắc, tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ vẫn được vận dụng luật của chế độ cũ để xét xử. Sau ngày miền Bắc được hoàn toàn giải phóng, các cơ quan nhà nước đầu não đã về Hà Nội và Nhà nước ta tiến hành xây dựng hàng loạt các văn bản quy phạm pháp iuat để quản lý xã hội, trong đó có các văn bản pháp luật bảo đảm ATGTVT đường bộ. Ngày 3/10/1955, Luật đi đường bộ mới được ra đời kèm theo Nghị định số 348/ND của Bộ Giao thông Bưu điện.
Đây là văn bản pháp lý đầu tiên của Nhà nước ta về ATGTVT, tạo cơ sở pháp lý cho sự hình thành tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ. Tiếp theo Nghị định 348 nói trên, hàng loạt các van bản pháp lý khác về ATGTVT đã ra đời như: Nghị định số 139/ND ngày 19/12/1956; Nghị định số 44/ND ngày 27/45/1958 của Bộ Giao thông Bưu điện; Nghị định Liên bộ Giao thông Bưu điện - Công an số 09/NDLB ngày 7/3/1956 ban hành thể lệ tạm thời về vận tải đường bộ; Nghị định số 10 ngày 11/1/1968 của Hội đồng Chính phủ ban hành Điều lệ về kỷ luật ATGTVT trong thời chiến; Nghị định số 36/CP ngày 29/5/1995 về tăng cường bảo đảm trật tự ATGTVT đường bộ và trật tự đô thị và đến nay là Nghị định số 14 36/CP ngày 10-7-2001 về bảo đảm trật tự an toàn giao thông đường bộ và trật tự an toàn giao thông đô thị. Đáng chú ý là ngày 6-6-2001, Quốc hội đã thông qua Luật giao thông đường bộ đầu tiên của Việt Nam. Luật này bắt đầu có hiệu lực thi hành kể từ ngày 1/1/2002.
Các văn bản chuyên ngành nói trên đã tạo cơ sở pháp lý cho sự hình thành và phát triển các quy phạm pháp luật hình sự quy định tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ. Văn bản pháp luật hình sự đầu tiên của Nhà nước ta quy định tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ là Thông tư số 442/TTg ngày 19/1/1955 của Thủ tướng Chính phủ. Điểm 4 của Thông tư nói trên quy định: "Không cẩn thận hay không theo luật đi đường mà làm người khác bị thương sẽ bị phạt tù từ 3 tháng đến 3 năm. Nếu gây tai nạn làm chết người thì có thể bi phat tù đến 10 năm” {3, tr.
Qua nghiên cứu Thông tư này, thấy rõ những nội dung chủ yếu sau đây: - Chỉ những vi phạm các quy định về ATGTVT đường bộ gây thương tích, gây chết người mới bị coi là tội phạm và bị xử phạt. Nếu chỉ gây thiệt hại thuần túy về vật chất không bị coi là tội phạm và không bị xử lý về hình sự. - Điều luật này quy định tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ với hai khung hình phạt khác nhau. + Khung 1: Phat tù từ 3 tháng đến 3 năm (CTTP co bản) được áp dụng cho trường hợp chỉ gây thương tích.
+ Khung 2: Phat tù đến 10 năm (C TP tang nang) được áp dụng cho trường hợp gây chết người. Sau hon 1 năm thực hiện Thông tư 442/TTg, ngày 29/6/1956, theo đề nghị của Ban Nội chính Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã ra Thông tư số 556/TTg bổ khuyết điểm 4 của Thông tu này. Điểm 4 của Thông tư 556 quy định: 15 Không can than hay không theo Luat di đường mà làm người khác bị thương thì sẽ phạt tù từ 3 tháng đến 3 năm. Nếu gây tai nạn làm chết người thì có thể bị phạt tù đến 10 năm.