phần mở đầu, kết luận, đanh mục tài liệu tham khảo và phụ lục. Chương | NHŨNG VAN ĐỂ LÝ LUẬN : VE CÁC YEU TỔ LOẠI TRU TÍNH TOI PHAM CUA HANH VI Đặc trưng cơ bản của tội phạm cho phép chúng ta phân biệt tội phạm với các hành vi vi phạm pháp luật khác là tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội. Tinh chất nguy hiểm cho xã hội của tội phạm được xác định, trước hết bởi thiệt hai mà hành vi phạm tội gây ra hoặc có khả năng gây ra cho các quan hệ xã hội mà luật hình sự bảo vệ. Khách thể của tội phạm- các quan hệ xã hội với giá trị và tầm quan trọng của nó- là yếu tố không thể thiếu được của tội phạm.
Các quan hệ xã hội- khách thể của tội phạm, chỉ có thể bị xâm hại thông qua hành vi cụ thể, bằng hành động hoặc không hành động (hành vi hoặc bất hành vi), nhưng nhất thiết phải là sự biểu hiện ra bên ngoài thế giới khách quan. Hơn thế, thiệt hại do hành vi gây ra hoặc có khả năng gây ra là những thông số biểu hiện hậu qua đã xẩy ra hoặc có kha ning xấy ra. Do vậy, cũng không thé có tội phạm nếu không có hành vi và không có mối liên hệ giữa hành vị với hậu quả- những dấu hiệu thuộc về phương điện khách quan của tội phạm. Một hành vi chỉ bị coi là nguy hiểm cho xã hội khi nó không phù hợp với lợi ích của Nhà nước và xã hội, khi nó đi ngược lợi ích của Nhà nước và xã hội.
Còn những hành vi phù hợp với lợi ích của Nhà nước, của xã hội thì ngay cả khi chúng gây ra những thiệt hại nhất định nào đó cho các quan hệ xã hội mà luật hình sự bảo vệ cũng chưa phải là tội phạm. c VIỆC truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội thông qua việc áp đụng chế tài hình sự là nhằm mục đích: trừng trị, phòng ngừa tội phạm và giáo dục cai tạo người phạm tội. Tuy nhiên, mục đích này chỉ có thé đạt được nếu người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội có khả năng nhận thức, có kha nang kiểm soát được hành vi của mình- 12 tức là người thực hiện hành vi phải có năng tue trách nhiệm hình su. Nang lực trách nhiệm hình: sự ở mức độ nhất định còn phụ thuộc vào độ tuổi, nghĩa là mức độ phát triển về tâm lý, sinh lý của con người.
Đối với những người không có khả năng nhận thức về hành vi, hoặc không có khả năng kiểm soát được hành vi của mình vì những lý đo khác nhau, ké cả lý do chưa đạt đến độ tuổi trưởng thành nhất định, thì việc áp dụng chế tài hình sự là vô nghĩa, không đạt được mục đích. Một trong những nhiệm vụ chủ yếu của Bộ luật hình sự là: bảo vệ trật tự xã hội chủ nghĩa; bảo vệ chế độ xã hội, chế độ Nhà nước; bảo vệ quyền sở hữu đối với tài sản của các hình thức sở hữu khác nhau đang tồn tại trong Nhà nước xã hội chủ nghĩa; bảo vệ quyền cơ bản của công đân, quyền và lợi ích hợp pháp khác của con người trong chế độ xã hội xã hội chủ nghĩa, nhằm từng bước hạn chế, đẩy lùi và tiến tới thủ tiêu tình trạng phạm tội và những nguyên nhân làm phát sinh tội phạm trong xã hội xã hội chủ nghĩa. Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng Cong sản Việt Nam đã đề ra nhiệm vụ: "Neda chặn và làm thất bại mọi âm mu, hoạt động gây mất ổn định chính trị xã hội, xâm phạm độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lĩnh thổ, gây tổn hại cho công cuộc xây dựng và phát triển đất nước: ngăn chặn có hiệu qua và nghiêm trị mọi loại tội phạm, đâm bảo tốt trật tự an toàn xế hội" [94, Tr. ' Chính vì vậy, muốn nghiên cứu, tìm hiểu các yếu tố loại trừ tính tội phạm của hành vi, thì trước hết chúng ta phải xuất phát từ bản chất, dấu hiệu đặc trưng của tội phạm, khái niệm về hành vi phạm tội theo qui định của luật hình sự Việt Nam để xác định bản chất pháp lý của các yếu tố loại trừ tính tội phạm của hành vi.
Đồng thời qua bản chất pháp lý của các yếu tố loại trừ tính tội phạm của hành vi để thấy bản chất, các dấu hiệu đặc trưng của tội phạm. TO] PHAM THEO LUẬT IHÌNH SỰ VIỆT NAM Khái niệm tội phạm là một trong những van dé quan trong nhất của luật hình sự. Chế định tội phạm là chế định trung tâm thể hiện rõ nét bản chất giai cấp, các đặc điểm chính trị, xã hội cũng như pháp lý của luật hình sự mỗi quốc gia. Do đó, khái niệm tội phạm ngày càng được nghiên cứu hoàn thiện.
Các quan điểm khác nhau về khái niệm tội phạm Các luật gia tư sản đã đưa ra nhiều khái niệm khác nhau về tội phạm. Nhưng nhìn chung có hai cách quan niệm chủ yếu về tội phạm. Vào thời kỳ đầu khi xã hội tư sản vừa bước ra khỏi sự hạn chế của chủ nghĩa phong kiến, tư tưởng dé cao vai trò của tự do dan chủ và bình đẳng, tư tưởng Nhà nước pháp quyền với quan niệm con người được phép làm những gi pháp luật không cấm, được thể hiện rất rõ nét trong quan niệm về tội phạm. Khái niệm lội phạm được dién đạt bằng nhiều cách khác nhau: là hành vi bị dao luật hình sự cấm hoặc là: "Vi phạm pháp luật bi Bộ luật hình xự trừng trị” (Bộ luật hình sự Pháp năm 1810) hoặc là: "lành vw do luật hình xự cm bằng nụnV co xi phạt" (Bộ luat hình sự Thuy Điển năm 1937).
Theo các luật gia từ sản thời kỳ này thì tội phạm là các hành vi do luật hình sự qui định. Trong cách quan niệm về tội phạm như thế tính luật định được coi là đặc điểm duy nhất của tội phạm theo nguyên tắc "không có tội phạm nếu điểu đó không bị cẩm trong luật hình sic" {83, Tr. Các luật gia tư sản chứng minh được thé tiến bộ của mình trước luật hình phong kiến. Ngày nay, cùng với dấu hiệu hình thức, nhiều luật gia tự sản đã đưa dấu hiệu nội dung vào khát niệm tội phạm.
Tội phạm không chỉ là, hành vi được luật hình qui định mà còn là hành vi chống lại lợi ích xã hội, là hành vi có hại. Tuy nhiên các luật gia tu sản đã không làm sáng 16 được thế nào là lợi ích xã hội, thế nào là có hại hoặc tách rời với lợi ích giai cấp. Ở đây các luật gia tư 14 sản cố gắng đưa đấu hiệu vật chất vào khái niệm hình phạt, nhưng vấn đề là họ “ luôn luôn coi tính trai pháp luật hình sự là dấu hiệu chiếm ưu thế. Chính vì thế pháp luật hình sự luôn luôn từ chối sử dụng nguyên tắc "2n ti" trong hoạt động xét xử.
Tuy nhiên, khái niệm tội phạm là hành vi được Bộ luật hình sự qui định chỉ đặc trưng cho các Nhà nước tư sản Châu Âu lục địa, ở Anh quốc nó không phải là đặc trưng. Bởi vì ở Anh không có Bộ luật hình sự, việc xét xử tội phạm được tiến hành căn cứ VÀO các quy phạm pháp luật của nhiều văn bản pháp luật khác nhau. Trong lý luận khoa học Luật hình sự xã hội chủ nghĩa cũng đã có những cách xây dựng khái niệm tội phạm khác nhau. Các khái niệm về tội phạm được thể hiện dưới hai dạng: - Khái niệm đầy đủ; và - Khái niệm tổng quát về tội phạm.
Khái niệm đầy đủ về tội phạm là khái niệm hàm chứa đầy dủ các đấu hiệu-của tội phạm. Một số cho rằng: "Toi phạm là hành vi meny hiểm cho xd hội được qui định trong Bộ luật hình sự do người đến một độ tuổi nhất định có năng lực trách nhiệm hình su thực hiện một cách cốý hoặc wô Ý và vì đó người phạm tội phai bị xử phạt” [83, Tr. Theo khái niệm này, tội phạm được đưa ra với đầy đủ các dấu hiệu của nó là: - Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội: - Tội phạm được qui định trong Bộ luật hình sự; Là - - Tội phạm do người có nang lực trách nhiệm hình sự và đạt đến mét độ tuổi nhất định thực hiện; - Tội phạm được thực hiện do cố.ý hoặc vô ý (có lỗi); l5 - Người phạm tội phải bị xử phạt. - Trong số những người có cùng với quan điểm trên, có những người khác không coi tình tiết phải bị xử phạt là dấu hiệu của tội phạm, và vì vậy không đưa đặc điểm này vào khái niệm đầy đủ về tội phạm.
Những tác giả này cho rằng: Phạm tội thì không tránh khỏi phải chiu hình phạt, đó là một trong những nguyên tắc quan trong của luật hình sự. Phải chịu vử phạt, đó là hau gud tất yếu của việc thực hiện tôi phạm chứ chính nó không phải là thuộc tinh của tội phạm. Mặt khác trong thực tế có nhiều trường hợp tội phạm không bi xử phạt do nhiều nguyên nhân khác nhan (qua thời hiệu, không khám phá được, được miễn trách nhiệm hình sự. Vấn dé được đặt ra trong các trường hợp ấy là hành vì có được coi là tội phạm hay không, nếu có đủ các yếu tố cẩu thành.
Thật vậy, khi một người thực hiện hành vi chứa dung div đủ các dấn hiệu cấu thành tôi phạm thì hành vi đó đã là tôi phạm, không phụ thuộc vào ngHỜời đó có bị xứ lý hay kháng [83, Tr. Khái niệm tội phạm tổng quát về tội phạm phan ánh hai đặc tính cơ bản: về nội dung là hành vi nguy hiểm cho xã hội và về lầnh thức được Bộ luật hình sự qui định. Những người ủng hộ khái niệm này cho rằng: “Tuy !à khái niệm được đưa ra mang tính khái quát cao những nó vẫn thể hiện ddy đủ các đặc điểm cud tội phạm”. Không phải bất kể hành vi nguy hiểm nào (tức gây thiệt hại hoặc có khả năng gây thiệt hại) cũng là tội phạm.
Chỉ hành vi nguy hiểm cho xã hội mới được coi là tội phạm, khí tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội bao gồm cả hai mặt: mặt thực tế (gây thiệt hại hoặc nguy cx gây thiệt hai) và mặt xã hội (tính nguy hiểm cho xñ hội ở mức độ nhất định). Hanh vi sở di nguy hiểm cho xã hội bởi vì nó được người có nang lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý.