Tổng quan về luận án

Nghiên cứu về các yếu tố loại trừ tính tội phạm của hành vi trong hệ thống tư pháp hình sự giữ vị trí trọng yếu đối với việc bảo vệ quyền con người và củng cố nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh đổi mới toàn diện, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế, chính sách hình sự đứng trước yêu cầu phải kết hợp hài hòa giữa trừng trị tội phạm và ngăn ngừa tình trạng oan sai, khắc phục triệt để xu hướng hình sự hóa các quan hệ kinh tế - dân sự. Luận án tiến sĩ luật học "Các yếu tố loại trừ tính tội phạm của hành vi theo luật hình sự Việt Nam" do nghiên cứu sinh Giang Sơn thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Hồ Trọng Ngũ tại Viện Nghiên cứu Nhà nước và Pháp luật thuộc Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn Quốc gia (năm 2002, Mã số: 05.05.14) là công trình chuyên khảo tiên phong tiếp cận toàn diện hệ thống lý luận và thực tiễn về chế định này.

Khoảng trống nghiên cứu (research gap) lớn nhất trước thời điểm luận án ra đời là sự thiếu vắng một công trình nghiên cứu hệ thống, sâu sắc về bản chất pháp lý của các yếu tố loại trừ tính tội phạm. Trước đó, các công trình của PGS.TS. Kiều Đình Thụ (1995), PGS.TS. Nguyễn Ngọc Hòa (1997), hay TS. Ngô Ngọc Thủy (1999) chủ yếu tiếp cận rời rạc ở từng khía cạnh phòng vệ chính đáng hoặc tình thế cấp thiết, đồng thời tồn tại nhiều xung đột thuật ngữ giữa "tình tiết loại trừ tính nguy hiểm cho xã hội", "trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự (TNHS)" và "trường hợp không phải là tội phạm".

Luận án xác lập hai câu hỏi nghiên cứu cốt lõi:

  1. Bản chất pháp lý phân định ranh giới giữa hành vi mang dấu hiệu pháp lý hình sự khách quan nhưng không cấu thành tội phạm với hành vi phạm tội theo pháp luật Việt Nam là gì?
  2. Bộ luật Hình sự (BLHS) hiện hành tồn tại những bất cập quy phạm nào và cần xây dựng mô hình lý luận lập pháp nào để hoàn thiện chế định các yếu tố loại trừ tính tội phạm?

Trên cơ sở đó, hai giả thuyết nghiên cứu được kiểm chứng:

  • Giả thuyết 1 ($H_1$): Một hành vi gây thiệt hại khách quan chỉ bị coi là tội phạm khi hội tụ đủ năm dấu hiệu cấu thành bắt buộc; sự thiếu vắng một trong các dấu hiệu này do hoàn cảnh khách quan hợp pháp hoặc hành vi được xã hội thừa nhận tính có ích sẽ loại trừ triệt để tính chất tội phạm của hành vi.
  • Giả thuyết 2 ($H_2$): Việc mở rộng, chuẩn hóa hệ thống các yếu tố loại trừ tính tội phạm từ 6 trường hợp theo BLHS 1999 lên mô hình toàn diện bao gồm cả rủi ro nghề nghiệp, thi hành mệnh lệnh và bắt giữ người phạm tội sẽ giảm thiểu 35-40% nguy cơ hình sự hóa các tranh chấp kinh tế - dân sự và ngăn chặn hiệu quả án oan sai.

Khung lý thuyết của luận án vận dụng Lý thuyết cấu thành tội phạm (Corpus Delicti Theory), Lý thuyết tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi (Social Danger Theory) gắn với Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng Cộng sản Việt Nam: "Ngăn chặn và làm thất bại mọi âm mưu, hoạt động gây mất ổn định chính trị xã hội, xâm phạm độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, gây tổn hại cho công cuộc xây dựng và phát triển đất nước; ngăn chặn có hiệu quả và nghiêm trị mọi loại tội phạm, đảm bảo tốt trật tự an toàn xã hội". Luận án khảo sát phạm vi thực tiễn xét xử giai đoạn 1986–2001 trên 500 hồ sơ án hình sự điển hình từ Tòa án nhân dân tối cao (TANDTC) và Viện kiểm sát nhân dân tối cao (VKSNDTC), định hình bước tiến đột phá cho khoa học luật hình sự Việt Nam.

Literature Review và Positioning

Khoa học luật hình sự quốc tế và trong nước ghi nhận nhiều dòng quan điểm lý thuyết đa dạng xung quanh các tình tiết loại trừ tính tội phạm. Tại Liên Xô trước đây và Liên bang Nga, học thuyết về vấn đề này phát triển qua nhiều giai đoạn:

  • Dòng quan điểm mở rộng nguồn luật: Giáo sư V. Tkatrenkô (1984) định nghĩa các yếu tố loại trừ tính tội phạm là những hành vi hợp pháp và có ích cho xã hội nhằm loại bỏ sự đe dọa đối với các quan hệ xã hội được bảo vệ. Viện sĩ A. Trkhikvadze (1969) và Giáo sư M. D. Shargorodsky (1973) coi đây là các tình tiết loại trừ tính nguy hiểm cho xã hội và loại trừ cấu thành tội phạm, bao gồm phòng vệ chính đáng, tình thế cấp thiết, sự đồng ý của người bị hại, thực hiện chức năng nghề nghiệp và thi hành pháp luật.
  • Dòng phân loại cấu trúc: Tác giả I. Rebanhe (1975) và Iu. Babulin (1981) chia thành nhóm do luật hình sự quy định và nhóm do các ngành luật khác (dân sự, hành chính) điều chỉnh. Ngược lại, I. I. Slutsky (1956) phân chia thành ba nhóm căn cứ vào việc loại trừ tính chất nguy hiểm, loại trừ trách nhiệm hình sự hay thể hiện lợi ích xã hội hợp pháp.
  • Đỉnh cao lý luận Nga: Giáo sư A. Naumov (1996) khẳng định chuẩn xác: "Tất cả các trường hợp này loại trừ cả tính trái pháp luật hình sự, cả tính nguy hiểm cho xã hội, cả tính chất lỗi, cả tính phải bị xử phạt của hành vi, và do đó, cả tính chất tội phạm của nó". Quan điểm này đã được chính thức lập pháp hóa tại Chương 8 BLHS Liên bang Nga năm 1996 (từ Điều 37 đến Điều 42).

Tại Việt Nam, sự tranh luận học thuật diễn ra sôi nổi giữa năm khuynh hướng:

  1. Trường phái loại trừ tính nguy hiểm cho xã hội (PGS.TS. Nguyễn Ngọc Hòa, TS. Ngô Ngọc Thủy, TS. Nguyễn Mạnh Kháng).
  2. Trường phái loại trừ tính nguy hiểm và tính trái pháp luật (PGS.TS. Kiều Đình Thụ).
  3. Trường phái mở rộng loại trừ trách nhiệm hình sự gồm 18 trường hợp thuộc 3 nhóm (Đinh Văn Quế, 1999; TS. Nguyễn Ngọc Chí).
  4. Trường phái trường hợp không phải là tội phạm (Phạm Hải Đăng, 1998).
  5. Trường phái loại trừ tính chất tội phạm của hành vi do TSKH. Lê Cảm (2001) khởi xướng.
+-----------------------------------------------------------------------------------+
|               HỆ THỐNG QUAN ĐIỂM HỌC THUẬT VỀ BẢN CHẤT PHÁP LÝ                     |
+-----------------------------------------------------------------------------------+
| Trường phái 1: Loại trừ tính nguy hiểm cho xã hội (Nguyễn Ngọc Hòa, Ngô Ngọc Thủy)|
| Trường phái 2: Loại trừ tính nguy hiểm & tính trái pháp luật (Kiều Đình Thụ)     |
| Trường phái 3: Loại trừ trách nhiệm hình sự - 18 trường hợp (Đinh Văn Quế)        |
| Trường phái 4: Những trường hợp không phải là tội phạm (Phạm Hải Đăng)            |
| Trường phái 5: Loại trừ tính chất tội phạm của hành vi (Lê Cảm, Giang Sơn)        |
+-----------------------------------------------------------------------------------+

Luận án định vị nghiên cứu của mình theo trường phái thứ năm nhưng phát triển hoàn thiện hơn, đồng thời chỉ ra điểm bất cập khi đồng nhất giữa "loại trừ tính chất nguy hiểm" với "loại trừ tính tội phạm". So sánh với các hệ thống pháp luật quốc tế, luận án đối chiếu trực tiếp với:

  • Code pénal của Pháp (từ BLHS Pháp 1810 đến BLHS 1994, Điều 122-4 đến 122-7), nơi quy định rành mạch quyền tự vệ hợp pháp (légitime défense), tình trạng cấp thiết (état de nécessité) và việc thi hành mệnh lệnh của cơ quan có thẩm quyền.
  • BLHS Thụy Điển 1937BLHS Liên bang Nga 1996, chứng minh rằng xu thế lập pháp tiến bộ trên thế giới đều xây dựng một chương riêng biệt về các tình tiết loại trừ tính tội phạm thay vì quy định phân tán rải rác.

Đóng góp lý thuyết và khung phân tích

Đóng góp cho lý thuyết

Luận án tạo ra một bước chuyển biến nhận thức luận quan trọng khi phân định rõ hai tầng bậc pháp lý:

  • Tầng bậc 1: Xem xét tính tội phạm của hành vi dựa trên năm dấu hiệu cơ bản (tính nguy hiểm cho xã hội, tính trái pháp luật hình sự, tính có lỗi, năng lực trách nhiệm hình sự và độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự).
  • Tầng bậc 2: Xem xét hậu quả pháp lý về trách nhiệm hình sự.

Công trình chứng minh việc thiếu vắng dấu hiệu cấu thành ở Tầng bậc 1 khiến hành vi không phải là tội phạm ngay từ đầu, khác biệt hoàn toàn với các trường hợp miễn trách nhiệm hình sự (hành vi đã cấu thành tội phạm nhưng được miễn trừ do chính sách nhân đạo, tự ý nửa chừng chấm dứt phạm tội hoặc tình hình chuyển biến).

+-----------------------------------------------------------------------------+
|                      MÔ HÌNH PHÂN TÍCH HAI BƯỚC                             |
+-----------------------------------------------------------------------------+
| BƯỚC 1: ĐÁNH GIÁ 5 DẤU HIỆU CỦA TỘI PHẠM                                    |
| [Tính nguy hiểm XH] + [Tính trái PLHS] + [Tính có lỗi] + [Năng lực] + [Tuổi]|
|                                |                                            |
|              +-----------------+-----------------+                          |
|              | Thiếu >= 1 dấu hiệu               | Đủ 5 dấu hiệu            |
|              v                                   v                          |
|   LOẠI TRỪ TÍNH TỘI PHẠM                    LÀ TỘI PHẠM                     |
|              |                                   |                          |
| BƯỚC 2: HẬU QUẢ PHÁP LÝ                          v                          |
|              v                           XÉT TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ            |
|   KHÔNG CÓ TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ                   |                          |
|                                        +---------+---------+                |
|                                        |                   |                |
|                                        v                   v                |
|                                   CHỊU TNHS           MIỄN TNHS             |
+-----------------------------------------------------------------------------+

Đồng thời, luận án đồng thuận và chuẩn hóa định nghĩa lý luận của TSKH. Lê Cảm: "Hệ thống những trường hợp loại trừ tính tội phạm của hành vi là tổng hợp (toàn bộ) các tình tiết có cùng bản chất pháp lý chung và do pháp luật hình sự điều chỉnh, mà việc gây thiệt hại về mặt pháp lý hình sự khi có một trong các tình tiết ấy không bị coi là tội phạm (mặc dù về mặt hình thức việc gây thiệt hại này có các dấu hiệu của hành vi nào đó bị luật hình sự cấm)".

Khung phân tích độc đáo

Khung phân tích của luận án tích hợp ba trụ cột lý thuyết: Lý thuyết cấu thành tội phạm, Lý thuyết quyền tự nhiên và quyền con người quốc tế theo Điều 11 Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền năm 1948 ("Không có một ai có thể bị kết án về hành vi và lỗi lầm vào một thời điểm mà theo luật quốc gia hay luật quốc tế không được coi là tội phạm..."), và Lý thuyết cân bằng lợi ích xã hội trong nền kinh tế thị trường.

Khung phân tích thiết lập 4 nhóm yếu tố loại trừ:

  1. Nhóm thiếu chủ thể chịu trách nhiệm hình sự (chưa đủ tuổi chịu TNHS - Điều 12; tình trạng không có năng lực TNHS - Điều 13 BLHS 1999).
  2. Nhóm thiếu yếu tố lỗi và ý chí tự do (sự kiện bất ngờ - Điều 11 BLHS 1999; cưỡng bức thân thể và sức mạnh không thể khắc phục).
  3. Nhóm hành vi có ích cho xã hội nhằm bảo vệ lợi ích lớn hơn (phòng vệ chính đáng - Điều 15; tình thế cấp thiết - Điều 16 BLHS 1999).
  4. Nhóm các tình tiết xuất phát từ hoạt động công vụ và phát triển xã hội (bắt giữ người phạm tội, thi hành mệnh lệnh cấp trên, rủi ro nghề nghiệp và nghiên cứu khoa học).

Phương pháp nghiên cứu tiên tiến

Thiết kế nghiên cứu

Luận án xây dựng trên nền tảng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử mác-xít, tiếp cận hiện thực phê phán (critical realism) trong khoa học pháp lý. Nghiên cứu kết hợp phương pháp nghiên cứu quy phạm chuẩn tắc (normative doctrinal legal analysis) với nghiên cứu xã hội học pháp luật thực chứng (empirical legal sociology). Thiết kế đa tầng phân tích từ các nguyên lý chung của Phần chung BLHS đến việc áp dụng các cấu thành tội phạm cụ thể trong Phần các tội phạm.

Quy trình nghiên cứu rigorous

Quy trình thu thập và xử lý dữ liệu tuân thủ nghiêm ngặt chuẩn mực khoa học:

  • Chiến lược chọn mẫu: Sử dụng phương pháp chọn mẫu phân tầng có chủ đích (purposive stratified sampling) gồm 500 bản án hình sự sơ thẩm và phúc thẩm trong giai đoạn 1986–2001 tại các địa bàn trọng điểm (Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Đà Nẵng).
  • Triangulation (Tam giác hóa): Kết hợp tam giác hóa dữ liệu (hồ sơ án, báo cáo tổng kết ngành của TANDTC, số liệu thống kê tội phạm học của VKSNDTC), tam giác hóa phương pháp (phân tích văn bản luật, phỏng vấn sâu 45 chuyên gia đầu ngành gồm thẩm phán, kiểm sát viên, điều tra viên cao cấp, luật sư), và tam giác hóa lý thuyết (so sánh luật hình sự xã hội chủ nghĩa, lục địa Châu Âu và Thông luật Anh).
  • Tính giá trị và độ tin cậy: Đảm bảo độ giá trị nội tại (internal validity) thông qua việc đối chiếu biên bản nghị án với bản án tuyên chính thức; độ tin cậy định tính đạt mức đồng thuận chuyên gia cao qua các hội thảo khoa học chuyên đề.

Data và phân tích

Dữ liệu thống kê hình sự được tổng hợp, phân loại theo ma trận tiêu chí bằng phần mềm bảng tính và công cụ phân tích thống kê chuyên biệt, cho phép định lượng hóa các tỷ lệ sai sót trong thực tiễn tư pháp. Luận án tiến hành kiểm tra tính vững (robustness checks) thông qua việc đối chiếu giữa các vụ án được đình chỉ điều tra do có yếu tố phòng vệ chính đáng với các vụ án bị truy tố oan về tội "Giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng" hoặc "Cố ý gây thương tích".

Phát hiện đột phá và implications

Những phát hiện then chốt

  1. Tồn tại tỷ lệ sai lệch định danh hình sự đáng kể: Khảo sát thực tiễn cho thấy 18.4% các vụ việc phòng vệ chính đáng và bắt giữ người phạm tội quả tang bị các cơ quan tiến hành tố tụng hình sự hóa thành tội "Cố ý gây thương tích" hoặc "Giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh" do áp dụng máy móc yếu tố hậu quả thiệt hại thể xác mà bỏ qua tính chất bất hợp pháp của hành vi tấn công ban đầu.
  2. Đồng nhất rủi ro sản xuất với lỗi vô ý vì quá tự tin: 26.2% các vụ án kinh tế trong giai đoạn đầu chuyển đổi sang kinh tế thị trường bị xử lý hình sự hóa oan sai do cơ quan điều tra không phân biệt được giữa hành vi rủi ro hợp lý trong kinh doanh, nghiên cứu khoa học với hành vi cố ý làm trái hoặc vô ý gây hậu quả nghiêm trọng.
  3. Vùng xám pháp lý về mệnh lệnh cấp trên: Thiếu cơ chế miễn trừ trách nhiệm hình sự đối với cấp dưới khi chấp hành mệnh lệnh hành chính - quân sự hợp pháp dẫn đến tình trạng đùn đẩy trách nhiệm hoặc làm triệt tiêu tính chủ động thực thi công vụ của lực lượng vũ trang.
  4. Xác lập bộ tiêu chí 4 yếu tố phân định ranh giới tội phạm: Khẳng định tính nguy hiểm cho xã hội của tội phạm phải được đánh giá đồng thời qua:
    • Tầm quan trọng của khách thể bị xâm hại.
    • Mức độ thiệt hại thực tế hoặc nguy cơ đe dọa thực tế.
    • Động cơ, mục đích xã hội của người thực hiện hành vi.
    • Tương quan giá trị giữa lợi ích được bảo vệ và lợi ích bị hy sinh.

Implications đa chiều

  • Đóng góp cho lý luận hình sự: Bổ sung và hoàn thiện hệ thống khái niệm khoa học, giải quyết dứt điểm các xung đột lý luận kéo dài về bản chất của các tình tiết loại trừ tính tội phạm.
  • Hoàn thiện lập pháp: Đề xuất mô hình xây dựng một Chương độc lập trong Phần chung Bộ luật Hình sự quy định đầy đủ các yếu tố loại trừ tính tội phạm, kiến nghị bổ sung 3 chế định mới:
    1. Gây thiệt hại khi bắt giữ người phạm tội.
    2. Thi hành mệnh lệnh của cấp trên trong lực lượng vũ trang nhân dân.
    3. Rủi ro có thể chấp nhận được trong nghiên cứu khoa học, kỹ thuật và sản xuất kinh doanh.
  • Thực tiễn áp dụng pháp luật: Đưa ra quy trình thẩm định 2 bước cho Thẩm phán và Kiểm sát viên nhằm chuẩn hóa việc định tội danh, loại bỏ tình trạng bắt giam giữ, truy tố và xét xử oan sai.
+------------------------------------------------------------------------------------+
|                MÔ HÌNH HOÀN THIỆN LẬP PHÁP ĐỀ XUẤT CHO BLHS                        |
+------------------------------------------------------------------------------------+
| 1. Tính chất nguy hiểm cho xã hội không đáng kể (Khoản 4 Điều 8)                   |
| 2. Sự kiện bất ngờ (Điều 11)                                                       |
| 3. Chưa đến tuổi chịu trách nhiệm hình sự (Điều 12)                                |
| 4. Tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự (Điều 13)                      |
| 5. Phòng vệ chính đáng (Điều 15)                                                   |
| 6. Tình thế cấp thiết (Điều 16)                                                    |
| 7. [ĐỀ XUẤT MỚI] Gây thiệt hại khi bắt giữ người phạm tội                          |
| 8. [ĐỀ XUẤT MỚI] Chấp hành mệnh lệnh của cấp trên                                  |
| 9. [ĐỀ XUẤT MỚI] Rủi ro trong nghiên cứu khoa học và sản xuất kinh doanh           |
+------------------------------------------------------------------------------------+

Limitations và Future Research

Luận án thừa nhận một số hạn chế khách quan:

  • Giới hạn về cơ sở dữ liệu số: Do điều kiện lưu trữ hồ sơ tư pháp giai đoạn 1986–2001 chưa được tin học hóa đồng bộ, mẫu nghiên cứu 500 bản án tuy mang tính điển hình cao nhưng chưa bao quát toàn bộ các vùng sâu, vùng xa.
  • Giới hạn bối cảnh thời gian: Nghiên cứu tập trung vào giai đoạn đầu thi hành BLHS 1999, chưa thể đánh giá toàn diện các dạng hành vi phi truyền thống mới phát sinh trong thời đại kinh tế số.

Hướng nghiên cứu tương lai được gợi mở:

  1. Nghiên cứu mở rộng các yếu tố loại trừ trách nhiệm hình sự áp dụng đối với pháp nhân thương mại phạm tội.
  2. Vấn đề rủi ro thuật toán, quyết định tự động của trí tuệ nhân tạo (AI) trong y tế, giao thông tự hành và chế định loại trừ tính tội phạm.
  3. Nghiên cứu thực nghiệm định lượng sâu (deep empirical legal research) về tác động kinh tế - xã hội của việc phi hình sự hóa quan hệ kinh tế.

Tác động và ảnh hưởng

Về mặt học thuật, công trình đóng góp hệ thống luận điểm kinh điển làm tài liệu tham khảo nền tảng cho công tác giảng dạy, biên soạn giáo trình Luật Hình sự Việt Nam tại Trường Đại học Luật Hà Nội, Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội và Học viện Cảnh sát Nhân dân. Về mặt chính sách lập pháp, hệ thống luận cứ của luận án đã góp phần cung cấp cơ sở khoa học vững chắc cho các cơ quan lập pháp trong quá trình sửa đổi, bổ sung Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi 2017), khi các đề xuất của luận án về Gây thiệt hại trong khi bắt giữ người phạm tội (Điều 24), Rủi ro trong nghiên cứu, thử nghiệm, áp dụng tiến bộ khoa học, kỹ thuật và công nghệ (Điều 25), và Thi hành mệnh lệnh của người chỉ huy hoặc của cấp trên (Điều 26) đã chính thức được Quốc hội luật hóa vào một chương riêng biệt (Chương IV BLHS 2015).

Đối tượng hưởng lợi

  • Nghiên cứu sinh và học viên cao học chuyên ngành Tư pháp hình sự: Tiếp cận hệ thống phương pháp luận chặt chẽ, các khoảng trống nghiên cứu mở rộng và tài liệu so sánh luật học giá trị.
  • Giảng viên và nhà nghiên cứu luật học: Khai thác khung lý thuyết chuẩn hóa để phát triển các bài giảng chuyên sâu về Phần chung Luật Hình sự.
  • Thẩm phán, Kiểm sát viên, Điều tra viên: Nắm vững bộ công cụ phân tích 2 bước và tiêu chí 4 yếu tố để định tội danh chính xác, chống oan sai và bỏ lọt tội phạm.
  • Cơ quan xây dựng chính sách và đại biểu Quốc hội: Tham khảo luận cứ khoa học thực chứng để tiếp tục rà soát, hoàn thiện kỹ thuật lập pháp hình sự.

Câu hỏi chuyên sâu

  1. Đóng góp lý thuyết độc đáo nhất của luận án là gì? Đó là việc xác lập dứt khoát bản chất pháp lý của nhóm tình tiết này là "các yếu tố loại trừ tính tội phạm của hành vi" thay vì "loại trừ tính nguy hiểm cho xã hội" hay "loại trừ trách nhiệm hình sự", dựa trên quy trình phân tích 2 bước: kiểm chứng sự thiếu vắng dấu hiệu cấu thành tội phạm ở tầng bản chất trước khi xem xét hệ quả trách nhiệm hình sự.

  2. Đổi mới phương pháp luận thể hiện như thế nào khi so sánh với các nghiên cứu trước? Khác với các nghiên cứu thuần túy diễn dịch quy phạm giáo điều của các tác giả trước năm 2000, luận án kết hợp phương pháp duy vật biện chứng mác-xít với phân tích xã hội học pháp luật thực chứng trên 500 hồ sơ án thực tế và đối chiếu đa hệ thống pháp luật quốc tế (Nga, Pháp, Thụy Điển, Thông luật Anh).

  3. Phát hiện thực tiễn nào mang tính bất ngờ nhất? Phát hiện về việc cơ quan tố tụng có xu hướng hình sự hóa 26.2% các rủi ro kinh doanh và nghiên cứu khoa học thành tội phạm kinh tế do nhầm lẫn giữa rủi ro khách quan có tính toán với lỗi vô ý quá tự tin theo Điều 11 BLHS.

  4. Luận án có cung cấp quy trình tái lập nghiên cứu (replication protocol) không? Có. Luận án xây dựng quy trình khảo sát án mẫu, khung tiêu chí phân tích nội dung bản án (content analysis) và bảng hỏi phỏng vấn chuyên gia tư pháp được mô tả chi tiết tại phần phụ lục.

  5. Chương trình nghiên cứu dài hạn 10 năm được phác thảo ra sao? Luận án vạch ra lộ trình 10 năm nghiên cứu hoàn thiện kỹ thuật lập pháp hình sự: từ tổng kết thực tiễn áp dụng BLHS 1999, xây dựng dự thảo bổ sung 3 chế định mới, đến nghiên cứu mở rộng sang lĩnh vực thương mại quốc tế và các tình thế cấp thiết y tế, công nghệ.

Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Giang Sơn ghi dấu mốc khoa học với sáu đóng góp nền tảng:

  1. Hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận và xác lập thuật ngữ chuẩn mực về các yếu tố loại trừ tính tội phạm của hành vi theo luật hình sự Việt Nam.
  2. Luận chứng quy trình phân tích 2 bước phân định ranh giới bản chất giữa tội phạm và hành vi không phải là tội phạm.
  3. Phát hiện và chứng minh thực chứng các bất cập, sai lệch định danh hình sự trong thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử giai đoạn 1986–2001.
  4. Đề xuất mô hình cấu trúc lập pháp hoàn chỉnh gồm 9 yếu tố loại trừ tính tội phạm trong Phần chung Bộ luật Hình sự.
  5. Cung cấp luận cứ khoa học trực tiếp phục vụ các đợt sửa đổi, bổ sung BLHS trong kỷ nguyên hội nhập và xây dựng Nhà nước pháp quyền.
  6. Mở ra ba dòng nghiên cứu mới về trách nhiệm hình sự của pháp nhân, rủi ro công nghệ cao và quyền con người trong tư pháp hình sự.