Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CÁC TÌNH TIẾT LOẠI TRỪ TÍNH CHẤT TỘI PHẠM CỦA HÀNH VI 1. Khái niệm và ý nghĩa của việc quy định các tình tiết loại trừ tính chất tội phạm của hành vi Nguyên tắc chung của luật hình sự Việt Nam là truy cứu trách nhiệm hình sự đối với những hành vi nguy hiểm cho xã hội đã cấu thành tội phạm. Trong thực tế, có những hành vi nguy hiểm cho xã hội, nhưng được thực hiện trong những trường hợp được xem như là những tình tiết làm mất đi tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi đó. Do đó, hành vi ấy không cấu thành tội phạm (tính chất phạm tội không có) và dĩ nhiên, người thực hiện hành vi đó không phải chịu trách nhiệm hình sự.
Khoa học luật hình sự gọi những trường hợp này là tình tiết loại trừ tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi hoặc là tình tiết loại trừ tính chất tội phạm của hành vi [4, tr. Khái niệm các tình tiết loại trừ tính chất tội phạm của hành vi Theo quy định tại Điều 8 BLHS năm 1999 của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam: “Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, xâm phạm chế độ nhà nước xã hội chủ nghĩa, chế độ kinh tế và sở hữu xã hội chủ nghĩa, xâm phạm tính mạng sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tự do, tài sản, các quyền và lợi ích hợp pháp khác của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác nhau của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa” [24, tr. Điều 2 BLHS năm 1999 quy định: “Chỉ người nào phạm tội đã được luật hình sự quy định mới phải chịu trách nhiệm hình sự” [24, tr. Như vậy, cơ sở trách nhiệm hình sự là tội phạm tại Điều 8 BLHS phải hội tụ đầy đủ các dấu hiệu của tội phạm và 04 yếu tố cấu thành tội phạm.
Các yếu tố đó theo khoa học luật hình sự Việt Nam bao gồm: Khách thể, mặt khách quan, chủ thể, mặt chủ quan. Một hành vi bị coi là tội phạm khi nó hội tụ đủ bốn yếu tố cấu thành tội phạm, ngược lại 8 không phải là tội phạm và người có hành vi không bị truy cứu trách nhiệm hình sự, nếu không hội tụ đủ bốn yếu tố nêu trên. Chính vì lẽ đó, khi nghiên cứu các tình tiết loại trừ tính chất tội phạm của hành vi không thể không nghiên cứu tội phạm và các yếu tố cấu thành tội phạm. Tuy nhiên, việc nghiên cứu tội phạm và các yếu tố cấu thành tội phạm không nhằm mục đích tìm hiểu đặc điểm, tính chất hoặc các yếu tố cấu thành tội phạm trong luật hình sự Việt Nam mà nhằm nghiên cứu các tình tiết loại trừ tính chất tội phạm của hành vi theo pháp luật hình sự Việt Nam [27, tr.
Khi thực hiện hành vi được mô tả trong BLHS, người thực hiện có thể bị những động cơ khác nhau thúc đẩy. Tính chất khác nhau của những động cơ này có ảnh hưởng đến tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi đã thực hiện - có thể làm tăng hoặc có thể làm giảm tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội. Đặc biệt, có trường hợp vì gắn với động cơ nhất định mà hành vi đã thực hiện trở thành hành vi cần thiết cho xã hội và do vậy cần được pháp luật cho phép và bảo vệ. Từ thực tế đó, pháp luật hình sự Việt Nam cũng như pháp luật hình sự các quốc gia khác có chế định trong đó xác định những trường hợp cho phép công dân (có tính ngoại lệ) được thực hiện hành vi mà trong trường hợp bình thường, hành vi này bị coi là tội phạm.
Hành vi đã thực hiện do được pháp luật cho phép nên không bị coi là tội phạm và vấn đề trách nhiệm hình sự không được đặt ra. Những căn cứ cho phép công dân được thực hiện các loại hành vi (có tính ngoại lệ) nói trên có tên gọi không giống nhau trong luật hình sự cũng như trong nghiên cứu ở các quốc gia. Tuy nhiên, trong sách báo pháp lý Việt Nam, nhóm căn cứ này từ trước đến nay thường được gọi là “Những tình tiết loại trừ tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi”. Bên cạnh đó, cũng có tài liệu sử dụng tên gọi khác.
Ví dụ: Giáo trình Luật hình sự phần chung của Khoa luật Đại học Quốc gia Hà Nội gọi đây là các tình tiết loại trừ trách nhiệm hình sự; còn trong cuốn “Tội phạm và cấu thành tội phạm”, tác giả gọi đây là các căn cứ hợp pháp của hành vi nguy hiểm cho xã hội; hay cuốn giáo trình Luật hình sự phần chung của Học viện Khoa học xã hội gọi đây là các tình tiết loại trừ tính chất tội phạm của hành vi. 9 Mặc dù còn nhiều tên gọi khác nhau như: Các trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự; những trường hợp loại trừ tính chất tội phạm của hành vi; những trường hợp không phải là tội phạm; các tình tiết loại trừ tính chất nguy hiểm cho xã hội và tính trái pháp luật hình sự. , nhưng về cơ bản, các quan điểm khoa học trong nước về khái niệm loại trừ trách nhiệm hình sự giữa các nhà khoa học - luật gia luật hình sự là tương đối thống nhất. Tương tự như vậy, trong khoa học luật hình sự cũng như trong BLHS của các quốc gia khác cũng có nhiều cách gọi khác nhau về các căn cứ này như: Căn cứ loại trừ tính chất trái pháp luật; căn cứ giải phóng trách nhiệm hình sự; hoặc là các căn cứ loại trừ hình phạt.
Sở dĩ có tên gọi khác nhau về nhóm căn cứ này là do các tác giả đã gắn tên gọi khác nhau với các khía cạnh khác nhau của nhóm căn cứ - khía cạnh nội dung và khía cạnh pháp lí. Xét về nội dung, nhóm căn cứ này làm mất tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi gây thệt hại và do vậy, hành vi đã thực hiện không phải là tội phạm. Hành vi đã thực hiện, xét về khách quan đã gây ra thiệt hại cho xã hội nhưng xét về chủ quan thì chủ thể thực hiện không có lỗi vì đã lựa chọn cách xử sự phù hợp với đòi hỏi của xã hội. Ở đây có sự xung đột giữa lợi ích mà chủ thể “cần bảo vệ” và “lợi ích khác” sẽ bị xâm phạm khi chủ thể thực hiện việc bảo vệ đó.
Ví dụ: Để bảo vệ tính mạng của mình đang bị người khác đe dọa xâm hại, người phòng vệ buộc phải gây thương tích cho người đang thực hiện sự đe dọa đó. Trong trường hợp này, lợi ích mà người phòng vệ cần bảo vệ (sự an toàn tính mạng của mình) xung đột với “lợi ích khác” (sự an toàn sức khỏe của người tấn công) mà người phòng vệ buộc phải xâm phạm để bảo vệ lợi ích “cần bảo vệ” đó. Khi lựa chọn hành vi gây thương tích cho người tấn công để bảo vệ tính mạng của mình trong tình huống xung đột lợi ích như vậy, chủ thể hành động tuy có gây thiệt hại về khách quan nhưng lại không có lỗi về mặt chủ quan vì sự lựa chọn đó là hợp lí, xã hội có thể chấp nhận được. Do không có lỗi nên hành vi gây thiệt hại không bị coi là có tính nguy hiểm cho xã hội của tội phạm.
Từ đó mà chúng ta có tên gọi: Các tình tiết loại trừ tính nguy hiểm 10 cho xã hội của hành vi. Lựa chọn và thực hiện hành vi gây thương tích cho người khác trong điều kiện bình thường là trường hợp cố ý gây thương tích và có thể cấu thành tội cố ý gây thương tích nhưng khi gắn với tình tiết “phòng vệ” thì hành vi đó không thể là tội phạm vì tình tiết phòng vệ đã loại trừ tính có lỗi và qua đó loại trừ tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi gây thương tích. Xét về hình thức pháp lý, nhóm căn cứ làm mất tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi gây thiệt hại cần phải được quy định trong luật hình sự. Đó là trách nhiệm của cơ quan xây dựng luật.
Trên cơ sở đánh giá các tình tiết có tính chất làm mất tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi gây thiệt hại, cơ quan xây dựng pháp luật cần xác định các tình tiết cụ thể thuộc nhóm các tình tiết loại trừ tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi gây thiệt hại và mô tả từng tình tiết này trong luật hình sự. Nói cách khác, các tình tiết loại trừ tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi gây thiệt hại cần phải được luật hóa để đảm bảo nguyên tắc pháp chế. Điều đó đảm bảo sự thống nhất trong nhận thức về các tình tiết này và như vậy mới có thể có sự điều chỉnh thống nhất xử sự của mọi người dân cũng như của các cơ quan bảo vệ pháp luật. Khi các tình tiết loại trừ tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi gây thiệt hại đã được quy định trong luật hình sự thì các quy định này trở thành căn cứ pháp lí xác nhận tính hợp pháp của hành vi gây thiệt hại hay nói cách khác là căn cứ loại trừ tính trái pháp luật của hành vi gây thiệt hại.
Từ đó, các tình tiết loại trừ tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi còn có thể được gọi là các tình tiết loại trừ tính trái pháp luật hay tính tội phạm của hành vi gây thiệt hại [54, tr. Các tình tiết loại trừ tính chất tội phạm của hành vi là những trường hợp một người tuy có hành vi gây thiệt hại hoặc đe dọa gây ra thiệt hại cho xã hội, nhưng theo pháp luật họ không bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Các tình tiết loại trừ tính chất tội phạm của hành vi cũng có thể được hiểu là hành vi không cấu thành tội phạm, tuy nhiên, loại trừ tính chất tội phạm của hành vi có nội dung cụ thể hơn vì hành vi không cấu thành tội phạm chủ yếu mang tính lý luận và nó được nghiên cứu dưới góc độ khái niệm tội phạm, tính chất của tội phạm cũng như các đặc điểm của tội phạm [27, tr. 11 Xét về bản chất, các tình tiết loại trừ tính chất tội phạm của hành vi khác với các tình tiết (trường hợp) miễn trách nhiệm hình sự được quy định tại các Điều 19, 23, 25 và 70 BLHS năm 1999.