Chương 1 : Luận án viết về các dấu hiệu đặc trưng của tội lạm dụng tin nhiệm chiếm đoạt tài san XHCN theo luật hình sự Việt Nam. + Chương 2 : Tình hình nguyên nhân điều kiện phạm tội lạm dung tín nhiệm chiếm đoạt tài sản XHCN nói chung và trong lĩnh vực Ngân hàng nói riêng hiện nay 6 nước ta. + Chương 3 : Một số giải pháp đấu tranh phỏng chống tội lam dung tin nhiệm chiếm đoạt tài sản XHCN trong lĩnh vực Ngân hang ở nước ta. + Phẩn kết luận: Luận án tóm tắt nội dung cơ bản trong quá trình nghiên cứu đã thu được và kiến nghị.
+ Danh mục tai liệu tham khảo. Trang 7 CHƯƠNG MỘT : CÁC DẤU HIỆU ĐẶC TRƯNG CUA TỘI LAM DUNG TIN NHHIỆM CHIẾM ĐOẠT TÀI SAN XHCN THEO LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM I.1/ Các dấu hiêu về khách thể của tôi pham Lam dung tín nhiêm chiếm đoat tài sản XHCN : "Là một loại hoạt động của con người - dù chỉ là những hoạt động tồn tai trong giai đoạn lịch sử nhất định - nên như mọi hoạt động khác, tội phạm cũng nhằm vào những khách thể cụ thể tồn tại ngoài ý thức và độc lập với ý thức của chủ thể, nhưng không phải để cải biến mà là để gay thiệt hại cho chính những khách thể đó. Luật hình sự Việt Nam trên cơ sở thừa nhận tính giai cấp của pháp luật nói chung, cũng như Luật hình sự nói riêng, khẳng định khách thể bị tội phạm gây thiệt hại là hệ thống những quan hệ xã hội của chế độ xã hội có giai cấp, được Luật hình sự của chế độ đó bảo vệ. Quan điểm này đã được khang định ở điều 1 - BLHS : "Nhiệm vu của BLHS" và ở điều 8-BLHS: "Khái niệm toi phạm "2 Nhưng như vậy, khong có nghĩa hành vi pây thiệt hại hoặc de dọa gay thiệt hại cho những quan hệ xã hội này, tronp mọi trường hợp đều bị coi là tội phạm, mà chỉ tong những trường hợp đã được cụ thể hóa qua những quy phạm pháp luật hình sự - phần các tội phạm cụ thể.
Với ý nghia là những quan hệ xã hội bị tội phạm gây thiệt hại hoặc de dọa gây thiệt hại, khách thể là một trong bốn yếu tố cấu thành tội phạm (CTTP) nó có vị trí đặc biệt. Việc nphiên cứu khách thể có ý nghĩa về nhiều mặt, kể cả trong công tác lập pháp và trong thực tiễn áp dụng pháp luật. Trong khoa học Luật hình su Việt Nam phân biệt 3 loại khách thể của tội phạm : Khách thể chung, khách thể loại và khách thể trực tiếp. Các khái niệm này đều chỉ các quan hệ xã hội được Luật hình sự bảo vệ và bị tội phạm xâm hại, nhưng ở mức độ khái quát khác nhau.
prs Nguyên Ngọc Hòa. Tội phạm trong luật hình su Việt Nam. Nhà xuất ban Cong an nhân dan. Trang 46 SFrang § - Khi phân tích các yếu tố cấu thành tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản XHCN , thì việc xác định khách thể loại và khách thể trực tiếp của tội phạm này có ý nghĩa lý luận và thực tiễn quan trọng.
Xác định đúng khách thể loại và khách thể trực tiếp sẽ tạo điều kiện cho việc định tội danh đúng, phân biệt được tội này với tội khác, đồng thời chỉ ra các tác hại mà lội phạm đó gay ra đối với khách thể bị xâm hai. "_ Khách thể của tội Lam dung tín nhiệm chiếm đoạt tài sản XIICN (viết tắt là LDTNCDTSXHCN) là quan hệ sở hữu XHCN. Quan hệ xã hội này bị tội phạm gây thiệt hại thông qua việc làm biến đổi tình trạng bình thường của những đối tượng vat chất. Tuy cách gọi này chưa thể hiện bản chất của tội phạm nhưng nó thể hiện sự xâm phạm các đối tượng tác động luôn luôn có ý nghĩa là sự xâm hại mot bộ phận của quan hệ xã hội và từ đó dan đến sự gáy thiệt hại cho toàn bộ quan hệ xã hội.
Sự bảo vệ các đối tượng tác động có nghĩa là bảo vệ bộ phận của quan hệ xã hội, qua đó bảo vệ toàn bộ quan hệ xd hội. - Tài sản XHCN là đối tượng tác động. đối tượng vat chất. có ý nghĩa là khách thể của quan hệ sở hữu XHCN.
Sở hữu XHCN là quan hệ xã hội trong đó quyền chiếm hữu, sử dụng. định đoạt được lôn trọng và bảo vệ. lành vi gây thiệt hại hoặc de doa gây thiệt hại cho sở hữu XHCN là những hành vi xâm phạm các quyển chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tai sản XHCN."? - Trong pháp lệnh trừng tri các tội xâm phạm tài san XHCN do ủy ban thường vụ Quốc hội ban hành ngày 21/10/1970 đã nêu ra định nghĩa khái quát về tài sản XHCN là : "Tài sdn thuộc quyền sở hữu của Nhà nước (sở hữu tuàn dân) và tài sdn thuộc sé hữu của hop tác xã và các tổ chức hop pháp khác của nhàn dân (sử hữu tập thể)". Pháp lệnh không nêu ra tài sản XHCN pồm những gi vì sẽ khong kể hết được, dé bỏ sót.
Thời điểm đó, Miền Bắc đã hoàn toàn giải phóng, Nhà nước ta đã tiến hành công cuộc khôi phục nên kinh tế quốc dan bị tan phá nặng nề, cải tạo XHCN để xây dựng CNXH, để bao vệ có hiệu qua hoạt động kinh tế, tài chính - tiền tệ, đo có những biến đổi to lớn về mọi mặt, Nhà nước phải quản lý khối lượng tài san lớn, phải có biện pháp bảo vệ tài sản XHCN, vi trong thực tế đã phát sinh phát triển đa dang biểu hiện xâm phạm tài sản XHCN. Do đó pháp lệnh đã ra đời nhằm đáp ứng yêu cầu đấu tranh các tội xâm phạm sở hữu XHCN trong giai đoạn mới lúc đó. Chính sách hình sự của Dang và Nhà nước ta lúc đó là : "Coøi tai ° Giáo trình luật hình sự Việt Nam tập II (phần các tội phạm cu thể) - Trường Đại học luật Hà Nội. Nhà xuất bản giáo dục 1997 SFrang 9 sản XHCN là thiêng liêng, không ai được xâm phạm, tùy theo mức độ vi phạm sé trừng trị theo mức độ nặng nhẹ”; Pháp lệnh có hiệu lực hồi 16 : "Những tội phạm xâm phạm tai san XHCN đã phạm trước ngày công bố Pháp lệnh này nhưng chua bị xét xử, thì xét xu theo Pháp lệnh nay" ; Đồng thời nhà nước ta cũng cho phép áp dụng nguyên tắc ấn lệ.
Theo điều I7 Hiến pháp 1992 và điều 205 Bộ luật dan sự hiện hành thì tài san XHCN được quy định là : Dat dai, rừng núi, sông hồ, nguồn nước, tai nguyên trong long đất, nguồn lợi, vùng biển , thêm lục địa và vùng troi, phần vốn va tai sadn do Nhà nước đầu tu vào các xí nghiệp, công trình thuộc các ngành và lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội, khoa học kỹ thuật, ngoại giao, quốc phòng, an ninh cùng các tài sản khác mà pháp luật quy định là cua Nhà nước, déu thuộc sở hữu toàn dan" Theo quy định của pháp luật hiện hành thi các tài san sau đây cũng được coi là tài san XHCN : + Tài sản của các Nhà nước và tổ chức quốc tế trên lãnh thổ Việt Nam. + Tài sản thuộc sự quan lý của các co quan Nhà nước, xí nghiệp quốc doanh, Hợp tác xã, hoặc các tổ chức xã hội khác (Ví dụ : Công an hoặc quản ly thị trường dang quan lý hàng hóa bị bắt giữ do phạm pháp). + Tài sản của Nhà nước giao cho các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị xã hội - là sở hữu của cả tổ chức đó nhằm thực hiện mục đích chung quy định trong điều lệ - Điều 214 Bộ luật dân sự. + Tài san của Nhà nước giao cho các tổ chức xã hội ,t6 chức xã hội nghé nghiệp - là sở hữu của cả tổ chức đó nhằm thực hiện mục dich chung của các thành viên được quy định trong điều lệ - Điều 223 Bộ luật dân sự.
+ Tài sản thuộc hình thức sở hữu hỗn hợp (là sở hữu đối với tài sẵn do các chủ sở hữu thuộc các thành phần kinh tế khác nhau góp vốn để sản xuất kinh doanh thu lợi nhuận - Điều 226 Bộ luật dân sự) có sự dóng góp tài sản của sở hữu toàn dân tham gia : Tài sản của các doanh nghiệp Nhà nước liên doanh với các công dân Việt Nam, cá nhân nước ngoài, pháp nhân nước ngoài. Tuy tài sản này không phải là của Nhà nước tất cả, nhưng khi bị xâm phạm thi Nha nước cũng bị thiệt hại. Theo Bộ luật dan sự Việt Nam thi tài sản được biểu hiện dưới 3 hình thức : Vật - Tiền - Quyền về tài san (diều 172 - Bộ luật dân sự). - Vật và tiền nói chung luôn luôn là đối tượng tác động của tội "Lam dung tín nhiệm chiếm đoạt tài san XHCN".
Frang 10 - Về những giấy tờ thể hiện quyền tài sẵn (như hóa đơn, phiếu lĩnh hàng, séc, công trái, tín phiếu.) có thể là đối tượng tác động của loại lội phạm này. Trong thời pian trước đây khi nên kinh tế nước ta chưa chuyển sang nền kinh tế thị trường , vấn dé sở hữu tương đối rõ ràng. Còn trong điều kiện hiện này của nền kinh tế thị trường, với việc tồn tại nhiều thành phần kinh tế mà các thành phần kinh tế lại bình đẳng với nhau trước pháp luật, Nhà nước bảo hộ mọi hình thức sở hữu, trong đó có hình thức sở hữu hỗn hợp, có sự liên kết, liên doanh với nhau theo nhiều hình thức thì việc xác định tài sản thuộc loại hình sở hữu nào trong nhiều trường hợp rất phức tạp, khó xác định. có ý kiến đề nghị nhập các tội xâm phạm sở hữu XHCN và các tội xâm phạm sở hữu cua công dân thành các tội xâm phạm sở hữu (nói chung).
sẽ tránh bot phức tap cho việc áp dụng mà còn thuận tiện cho ky thuật lập phdp".“” Tuy nhiên, việc phép thành một chương không có nghĩa là xóa nhòa vai trò của hình thức sở hữu toàn dân, sở hữu tập thể là nên tang của chế độ kinh tế. Hành vi phạm tội xâm phạm các hình thức sở hữu này được coi là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự và bị xử phạt nặng hơn. Ý kiến khác cho rằng, Hiến pháp quy định sự bình đăng giữa các thành phần kinh tế, nhưng thành phần kinh tế XHCN là nhân tố quyết định cho việc định hướng phát triển đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.