Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Quyền sở hữu tài sản là một trong những quyền cơ bản của công dân được ghi nhận tại Điều 32 Hiến pháp năm 2013, khẳng định mọi người có quyền sở hữu về thu nhập hợp pháp, của cải để dành, nhà ở, tư liệu sinh hoạt, tư liệu sản xuất và các phần vốn góp. Nhằm cụ thể hóa tinh thần hiến định, Bộ luật Hình sự (BLHS) năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đã hoàn thiện nhóm tội xâm phạm sở hữu, trong đó có tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản. Trong bối cảnh kinh tế thị trường phát triển nhanh chóng, các quan hệ giao dịch dân sự và kinh tế gia tăng cả về số lượng lẫn tính chất phức tạp. Tình hình tội phạm xâm phạm sở hữu có chiều hướng gia tăng với nhiều thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt, gây thiệt hại nghiêm trọng cho tài sản của Nhà nước, tổ chức và công dân. Thực tiễn áp dụng các quy định của BLHS năm 2015 cho thấy vẫn còn tồn tại những khó khăn, vướng mắc trong việc phân loại hành vi, định tội danh và quyết định hình phạt đối với loại tội phạm này.

Từ đòi hỏi thực tiễn và yêu cầu khoa học pháp lý, tác giả Nguyễn Hồng Định đã thực hiện khóa luận tốt nghiệp với đề tài "Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản trong Bộ luật Hình sự năm 2015" dưới sự hướng dẫn của TS. Lưu Hải Yên tại Trường Đại học Luật Hà Nội (năm 2024).

Mục đích nghiên cứu của khóa luận là trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hình sự hiện hành về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, đưa ra các kiến nghị góp phần hoàn thiện quy định pháp luật và nâng cao hiệu quả thi hành. Để đạt được mục đích trên, đề tài thực hiện 3 nhiệm vụ cụ thể:

  1. Phân tích, làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận chung về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản trong BLHS (khái niệm, đặc điểm, cơ sở quy định, lý luận về định tội danh và quyết định hình phạt).
  2. Phân tích làm rõ quy định của BLHS đối với tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, phân biệt tội phạm này với một số tội phạm khác có dấu hiệu dễ nhầm lẫn.
  3. Trên cơ sở đánh giá thực tiễn xét xử tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản từ năm 2018 đến nay, chỉ ra những hạn chế, vướng mắc trong áp dụng pháp luật vào giải quyết vụ việc cụ thể, từ đó đề xuất giải pháp hoàn thiện quy định và nâng cao hiệu quả áp dụng.
  • Đối tượng nghiên cứu: Quy định về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản trong BLHS hiện hành.
  • Phạm vi nghiên cứu: Đề tài tiếp cận dưới góc độ Luật Hình sự, tập trung vào các quy định pháp luật hình sự và thực tiễn xét xử tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk trong giai đoạn từ năm 2018 đến năm 2022 (kết hợp các mẫu khảo sát bản án tại TP. Hà Nội giai đoạn 2019 - 2023 và tỉnh Gia Lai năm 2024).

Cơ sở pháp lý và phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu được triển khai dựa trên cơ sở lý luận là chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, cùng quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Khóa luận quán triệt các văn kiện định hướng gồm:

  • Chỉ thị số 48-CT/TW ngày 22/10/2010 của Bộ Chính trị (Khóa X) về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tội phạm trong tình hình mới;
  • Chiến lược quốc gia phòng, chống tội phạm giai đoạn 2016 - 2025 và định hướng đến năm 2030 (ban hành theo Quyết định số 1944/QĐ-TTg ngày 19/11/2021 của Thủ tướng Chính phủ);
  • Nghị quyết số 96/2019/QH14 của Quốc hội về công tác phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp luật, công tác của Viện kiểm sát nhân dân, Tòa án nhân dân và công tác thi hành án.

Khung văn bản pháp luật thực định được sử dụng trực tiếp trong nghiên cứu gồm: Hiến pháp năm 2013 (Điều 32); Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) với trọng tâm là Điều 175 và các điều luật liên quan (Điều 8, 9, 12, 21, 36, 50, 51, 52, 53, 54, 57, 58, 174, 353, 355); Bộ luật Dân sự năm 2015 (Điều 105 về tài sản); Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012; Nghị định số 30/2018/NĐ-CP ngày 07/3/2018 của Chính phủ về định giá tài sản trong tố tụng hình sự; Nghị định số 144/2021/NĐ-CP của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự.

Về phương pháp nghiên cứu, đề tài vận dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, kết hợp các phương pháp nghiên cứu chuyên ngành luật học: phân tích tài liệu và bản án, tổng hợp, bình luận, so sánh pháp luật, thống kê tư pháp, suy luận logic, khảo sát thực tiễn, diễn dịch và quy nạp. Nguồn dữ liệu thực nghiệm bao gồm: Báo cáo kết quả công tác xét xử của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk giai đoạn 2018 - 2022 (75 vụ án/83 bị cáo); số liệu khảo sát ngẫu nhiên 162 vụ án tại Tòa án các cấp trên địa bàn TP. Hà Nội giai đoạn 2019 - 2023; tập mẫu khảo sát ngẫu nhiên 30 bản án về nhân thân người phạm tội và 50 bản án về quyết định hình phạt; các bản án hình sự sơ thẩm cụ thể của TAND quận Hoàng Mai (TP. Hà Nội) và TAND tỉnh Gia Lai.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Những vấn đề chung về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

Chương 1 tập trung xây dựng cơ sở lý luận về tội danh thông qua việc phân tích khái niệm, đặc điểm pháp lý, cơ sở quy định và lý luận về định tội danh, lượng hình. Tác giả tổng hợp các định nghĩa từ Từ điển tiếng Việt, Từ điển Luật học và quan điểm của PGS. Trần Văn Độ để đưa ra định nghĩa: Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản là hành vi nguy hiểm cho xã hội do người có năng lực trách nhiệm hình sự (TNHS) thực hiện hành vi vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó; hoặc đến thời hạn trả lại tài sản mặc dù có điều kiện, khả năng nhưng cố tình không trả; hoặc sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản; với lỗi cố ý xâm phạm quyền sở hữu tài sản.

Tác giả chỉ rõ 3 đặc điểm bản chất:

  1. Xâm hại quyền sở hữu của Nhà nước, cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp hoặc cá nhân; đối tượng tác động là tài sản đã được giao ngay thẳng cho người phạm tội.
  2. Tài sản bị chiếm đoạt là tài sản mà người phạm tội đang quản lý thông qua một giao dịch hợp pháp, ngay thẳng ban đầu (hợp đồng vay, mượn, thuê, gia công, sửa chữa, vận chuyển, trông giữ).
  3. Thời điểm phát sinh ý định chiếm đoạt luôn diễn ra sau khi đã nhận được tài sản hợp pháp.

Cơ sở quy định tội danh trong BLHS gồm 5 yếu tố: bảo đảm quyền sở hữu hiến định; đáp ứng tiêu chuẩn và xu hướng pháp lý quốc tế; thực hiện chính sách hình sự của Đảng và Nhà nước; khắc phục những hạn chế, chưa chặt chẽ của các quy định trước đây; xuất phát từ tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi trên thực tế.

Về mặt lý luận, định tội danh là hoạt động diễn ra qua 4 giai đoạn tố tụng: Khởi tố vụ án (Quyết định khởi tố vụ án), Điều tra (Quyết định khởi tố bị can, Bản kết luận điều tra), Truy tố (Bản Cáo trạng) và Xét xử (Bản án). Cấu thành cơ bản của Điều 175 BLHS đòi hỏi xác định trị giá tài sản theo giá thị trường tự do tại thời điểm phạm tội (theo Nghị định 30/2018/NĐ-CP), tình tiết đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt (theo Luật Xử lý vi phạm hành chính 2012) hoặc đã bị kết án về một trong các tội xâm phạm sở hữu (Điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 174, 290) chưa được xóa án tích. Về quyết định hình phạt, Tòa án căn cứ Điều 50 BLHS cùng các trường hợp đặc biệt như quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt (Điều 54), quyết định hình phạt trong đồng phạm (Điều 58), và trường hợp chuẩn bị phạm tội hoặc phạm tội chưa đạt (Điều 57).

Chương 2: Quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015 về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

Chương 2 đi sâu phân tích 4 yếu tố cấu thành tội phạm theo Điều 175 BLHS:

  • Khách thể: Quyền sở hữu tài sản của Nhà nước, tổ chức, cá nhân (theo Điều 105 BLDS). Tội phạm không xâm phạm đến quan hệ nhân thân (khác với tội cướp, bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản, cướp giật). Nếu người phạm tội có hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe thì phải cấu thành tội phạm độc lập khác.
  • Mặt khách quan: Thể hiện ở 4 dạng hành vi sau khi đã nhận tài sản qua hợp đồng hợp pháp: (1) Dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt (ví dụ: Trần Văn T thu 140 triệu đồng của Công ty TNHH Đầu tư Thương mại L T rồi nói dối bị tai nạn bồi thường 40 triệu và đánh rơi 100 triệu); (2) Bỏ trốn để chiếm đoạt (ví dụ: Bản án số 156/2023/HS-ST ngày 20/7/2023 của TAND quận Hoàng Mai, xử phạt Nhữ Tuấn A chiếm đoạt điện thoại iPhone 13 Promax 128GB trị giá 18 triệu đồng được giao để giao hàng); (3) Đến hạn trả mặc dù có điều kiện, khả năng nhưng cố tình không trả; (4) Sử dụng tài sản vào mục đích bất hợp pháp (đánh bạc, buôn lậu, mua bán hàng cấm...) dẫn đến không có khả năng trả lại. Trường hợp kinh doanh thua lỗ thông thường hoặc sử dụng sai mục đích thỏa thuận nhưng không phải mục đích bất hợp pháp thì không cấu thành tội này mà có thể chỉ là quan hệ dân sự hoặc phạm tội sử dụng trái phép tài sản (Điều 177). Hậu quả bắt buộc là thiệt hại tài sản trị giá từ 4.000.000 đồng trở lên, hoặc dưới 4.000.000 đồng nhưng thuộc các trường hợp luật định.
  • Mặt chủ quan: Lỗi cố ý trực tiếp (lý trí nhận thức rõ hành vi nguy hiểm, ý chí mong muốn tước đoạt tài sản). Ví dụ: Bản án số 169/2023/HS-ST ngày 27/2/2023 của TAND quận Hoàng Mai, xử lý T.C mượn xe máy Honda Airblade BKS 29Y3-655.67 của bạn cùng phòng trọ đi mua cơm rồi mang đi cầm đồ lấy tiền tiêu xài cá nhân, tắt điện thoại bỏ trốn. Mục đích chiếm đoạt là dấu hiệu bắt buộc, chỉ nảy sinh sau khi đã nhận tài sản hợp pháp.
  • Chủ thể: Là người đủ 16 tuổi trở lên có năng lực TNHS (theo Điều 12 và Điều 21 BLHS). Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi không phải chịu TNHS về tội này. Ví dụ minh họa: Vũ Quốc K (15 tuổi 11 tháng 28 ngày) mượn xe Honda SH đi cầm 10 triệu đồng chơi game bắn súng thua hết rồi bỏ trốn, không phải chịu TNHS do chưa đủ tuổi luật định.

Về đường lối xử lý, Điều 175 quy định 4 khung hình phạt chính và 1 khung hình phạt bổ sung:

  • Khung 1 (khoản 1): Phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm (chiếm đoạt từ 4 triệu đến dưới 50 triệu đồng hoặc dưới 4 triệu đồng kèm điều kiện nhân thân/phương tiện kiếm sống chính).
  • Khung 2 (khoản 2): Phạt tù từ 02 năm đến 07 năm (chiếm đoạt từ 50 triệu đến dưới 200 triệu đồng; có tổ chức; có tính chất chuyên nghiệp; lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc mượn danh nghĩa cơ quan, tổ chức; dùng thủ đoạn xảo quyệt; gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội; tái phạm nguy hiểm).
  • Khung 3 (khoản 3): Phạt tù từ 05 năm đến 12 năm (chiếm đoạt từ 200 triệu đến dưới 500 triệu đồng).
  • Khung 4 (khoản 4): Phạt tù từ 12 năm đến 20 năm (chiếm đoạt từ 500 triệu đồng trở lên).
  • Hình phạt bổ sung (khoản 5): Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng; cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

Chương này cũng thiết lập các tiêu chí so sánh, phân biệt Điều 175 BLHS với các tội danh có tính chất tương đồng:

Tiêu chí phân biệt Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (Điều 175) Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Điều 174) Tội tham ô tài sản (Điều 353) Tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản (Điều 355)
Chủ thể Chủ thể thường (từ đủ 16 tuổi, có năng lực TNHS) Chủ thể thường (từ đủ 16 tuổi, có năng lực TNHS) Chủ thể đặc biệt (người có chức vụ, quyền hạn quản lý tài sản) Chủ thể đặc biệt (người có chức vụ, quyền hạn)
Khách thể Xâm phạm quyền sở hữu tài sản Xâm phạm quyền sở hữu tài sản Xâm phạm hoạt động đúng đắn của cơ quan, tổ chức và quyền sở hữu Xâm phạm hoạt động đúng đắn của cơ quan, tổ chức và quyền sở hữu
Thời điểm xuất hiện ý định chiếm đoạt Xuất hiện sau khi đã nhận tài sản thông qua hợp đồng ngay thẳng Xuất hiện trước khi nhận tài sản Xuất hiện trong quá trình quản lý tài sản theo chức vụ Xuất hiện trước hoặc trong khi thực hiện hành vi lạm quyền
Đặc điểm hành vi và thủ đoạn Nhận tài sản hợp pháp rồi gian dối, bỏ trốn, cố tình không trả hoặc dùng vào việc bất hợp pháp Dùng thủ đoạn gian dối đưa thông tin sai sự thật làm cho chủ tài sản tin tưởng giao tài sản Lợi dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản do chính mình có trách nhiệm quản lý Lợi dụng chức vụ, quyền hạn uy hiếp tinh thần hoặc gian dối để chiếm đoạt tài sản do người khác quản lý
Định lượng truy cứu TNHS tối thiểu Từ 4.000.000 đồng (hoặc dưới 4 triệu kèm điều kiện) Từ 2.000.000 đồng (hoặc dưới 2 triệu kèm điều kiện) Từ 2.000.000 đồng (hoặc dưới 2 triệu kèm điều kiện) Từ 2.000.000 đồng (hoặc dưới 2 triệu kèm điều kiện)
Hình phạt cao nhất Tù có thời hạn đến 20 năm Tù chung thân Tử hình Tù chung thân

Chương 3: Thực tiễn xét xử và một số kiến nghị nhằm hoàn thiện và nâng cao hiệu quả áp dụng quy định của Bộ luật Hình sự về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

Chương 3 phản ánh thực tiễn xét xử qua các số liệu thống kê tư pháp cụ thể. Tác giả dẫn chứng dữ liệu dân số Việt Nam (99.335.671 người, diện tích 310.060 km², mật độ 320 người/km²) để làm rõ áp lực quản lý xã hội, từ đó phân tích số liệu xét xử tại tỉnh Đắk Lắk giai đoạn 2018 - 2022: Tòa án nhân dân hai cấp tỉnh Đắk Lắk đã xét xử 75 vụ án với 83 bị cáo. Trung bình mỗi năm xét xử khoảng 15 vụ án và 16,6 bị cáo. Tỷ lệ xét xử tội này chiếm 11,71% về số vụ án và 13,05% về số bị cáo trong tổng số các vụ án xâm phạm sở hữu tại địa phương. Riêng năm 2022 ghi nhận số lượng cao nhất với 21 vụ án và 24 bị cáo (chiếm 13,04% tổng số vụ xâm phạm sở hữu gồm 21/161 vụ).

Khảo sát ngẫu nhiên 30 bản án cho thấy đa số người phạm tội có trình độ học vấn từ trung học phổ thông trở xuống và làm nghề nghiệp tự do. Nghiên cứu ngẫu nhiên 162 vụ án tại TP. Hà Nội giai đoạn 2019 - 2023 cho thấy Tòa án cho 45 bị cáo hưởng án treo và áp dụng hình phạt tù dưới 3 năm đối với 81 bị cáo; quyết định hình phạt đối với loại tội ít nghiêm trọng chiếm tỷ lệ áp đảo.

Tác giả phân tích chi tiết 2 bản án điển hình:

  1. Bản án số 323/2020/HS-ST ngày 29/10/2020 của TAND quận Hoàng Mai (Hà Nội): Bị cáo Trần Quang P (sinh năm 1996 tại Hà Nam, lao động tự do) nhận chuyển phát một bọc hàng chứa 01 điện thoại iPhone 11 Pro 64GB màu xám xanh (trị giá bán lại 15.000.000 đồng) từ anh Phạm Đức D tại bến xe Giáp Bát đi Bắc Ninh với giá cước 80.000 đồng. P nảy sinh ý định chiếm đoạt, mở gói hàng đem nhờ người bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. Bị cáo có 1 tiền án chưa xóa án tích (tái phạm theo điểm h khoản 1 Điều 52) và 1 tiền sự; có tình tiết giảm nhẹ thành khẩn khai báo và gia đình đã tự nguyện bồi thường (điểm s, điểm b khoản 1 Điều 51). TAND quận Hoàng Mai tuyên phạt Trần Quang P 24 tháng tù theo khoản 1 Điều 175 BLHS, miễn hình phạt bổ sung do không có thu nhập ổn định.
  2. Bản án số 15/2024/HS-ST ngày 12/3/2024 của TAND tỉnh Gia Lai: Bị cáo Lê Khắc Vũ (sinh năm 1984 tại Gia Lai, nghề nghiệp: Giáo viên) từ năm 2019 đến tháng 9/2021 đã vay mượn tiền, chơi hụi của 4 người rồi bỏ trốn, chiếm đoạt: 745.000.000 đồng của ông Phạm Văn Hoài; 1.000.560.000 đồng của ông Nguyễn Thanh Quang; 158.000.000 đồng của bà Nguyễn Thị Tai; 150.000.000 đồng của anh Nguyễn Văn Công. Tổng số tiền chiếm đoạt là 2.053.560.000 đồng. TAND tỉnh Gia Lai tuyên phạt Lê Khắc Vũ 12 năm tù về tội "Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản" theo khoản 4 Điều 175 BLHS (áp dụng tình tiết tăng nặng phạm tội 2 lần trở lên theo điểm g khoản 1 Điều 52, và giảm nhẹ do đầu thú, thành tích xuất sắc, nhân thân tốt theo điểm t, v khoản 1, khoản 2 Điều 51). Đồng thời, Vũ còn bị xử phạt 10 năm tù về tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản" (chiếm đoạt 780.000.000 đồng của 6 bị hại khác theo điểm a khoản 4 Điều 174). Tổng hợp hình phạt chung của 2 tội là 22 năm tù.

Về hạn chế, bất cập, tác giả chỉ ra: BLHS 2015 đã bỏ các tình tiết định khung "gây hậu quả nghiêm trọng", "rất nghiêm trọng", "đặc biệt nghiêm trọng" của BLHS 1999 và thay bằng "phạm tội có tính chất chuyên nghiệp", "gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội". Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng gặp vướng mắc do chưa có văn bản giải thích, hướng dẫn thống nhất về nội hàm các tình tiết này, dẫn đến sự nhầm lẫn giữa tình tiết định khung và tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Ngoài ra, các cơ quan tiến hành tố tụng vẫn thường nhầm lẫn trong việc định tội danh giữa tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản và tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản khi đánh giá thời điểm nảy sinh ý thức chiếm đoạt và vai trò của thủ đoạn gian dối.

Kết quả và đóng góp

Nghiên cứu mang lại những kết quả và số liệu cụ thể:

  • Hệ thống hóa toàn bộ số liệu xét xử sơ thẩm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản tại TAND hai cấp tỉnh Đắk Lắk trong chuỗi 5 năm liên tục (2018 - 2022):
Năm Số vụ án xét xử Số bị cáo xét xử Đặc điểm đáng chú ý
2018 11 11 Số lượng thấp nhất trong giai đoạn khảo sát
2019 13 14 Có phát sinh vụ án đồng phạm
2020 14 16 Diễn biến dịch bệnh Covid-19, tội phạm đường phố giảm nhưng tội lạm dụng vẫn phức tạp
2021 16 18 Xu hướng gia tăng rõ nét
2022 21 24 Số lượng cao nhất; có 2 vụ án đồng phạm; chiếm 13,04% tổng số vụ xâm phạm sở hữu (21/161 vụ)
Tổng cộng 75 83 Trung bình: 15 vụ/năm và 16,6 bị cáo/năm; chiếm 11,71% tổng số vụ và 13,05% số bị cáo nhóm XPSH
  • Kết quả khảo sát 162 vụ án tại Tòa án các cấp thuộc TP. Hà Nội chỉ ra xu hướng lượng hình: có 45 bị cáo được hưởng án treo (chiếm 27,78%) và 81 bị cáo chịu hình phạt tù dưới 3 năm (chiếm 50,00%), phản ánh đa số các vụ việc được đưa ra xét xử thuộc khung hình phạt cơ bản hoặc tội phạm ít nghiêm trọng.
  • Làm rõ đặc điểm xã hội học của tội phạm: khảo sát ngẫu nhiên 30 bản án cho thấy đa phần người phạm tội có trình độ học vấn từ THPT trở xuống và hành nghề tự do.
  • Đóng góp tự nêu của tác giả: Đề tài cung cấp cái nhìn toàn diện, có hệ thống về mặt lý luận của Điều 175 BLHS 2015; gắn kết chặt chẽ giữa lý luận với thực tiễn xét xử cụ thể tại địa phương (tỉnh Đắk Lắk) và các thành phố lớn (Hà Nội, Gia Lai); chỉ ra các vướng mắc áp dụng văn bản pháp luật thực định; làm tài liệu tham khảo cho việc định tội danh và quyết định hình phạt trong thực tiễn tư pháp.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận có một số giới hạn nhất định:

  • Dữ liệu thực tiễn xét xử trọng tâm thu thập tại Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk trong giai đoạn 2018 - 2022, kết hợp mẫu khảo sát tại Hà Nội (2019 - 2023) và Gia Lai (năm 2024); phạm vi khảo sát chưa mở rộng đồng bộ trên toàn quốc.
  • Văn bản nghiên cứu dừng lại ở việc khái quát bất cập về hướng dẫn áp dụng tình tiết định khung và phân định ranh giới tội danh; các giải pháp lập pháp cụ thể chỉ mới được định hình bước đầu trước phần tiểu kết.

Hướng nghiên cứu tiếp theo có thể mở rộng khảo sát thực tiễn tại nhiều vùng kinh tế trọng điểm khác nhau; nghiên cứu chuyên sâu về các tiêu chuẩn định lượng và bằng chứng nhằm phân định ranh giới giữa tranh chấp hợp đồng kinh tế - dân sự không có khả năng thanh toán với hành vi chiếm đoạt tài sản trong các giao dịch kinh doanh, tín dụng và huy động vốn.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là nguồn tài liệu hữu ích cho:

  • Sinh viên, học viên chuyên ngành Luật Hình sự và Tố tụng hình sự nghiên cứu về nhóm tội xâm phạm sở hữu và kỹ năng định tội danh.
  • Cán bộ làm công tác thực tiễn (Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán) cần tài liệu tham khảo về việc giải quyết các vụ án chiếm đoạt tài sản phát sinh từ quan hệ hợp đồng, vay mượn, chơi hụi hoặc vận chuyển hàng hóa.

Phần đáng tham khảo nhất trong văn bản gồm:

  • Mục phân biệt tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Điều 174), tội tham ô tài sản (Điều 353) và tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản (Điều 355) tại Chương 2.
  • Phân tích chi tiết đường lối xét xử và quyết định hình phạt trong hai vụ án thực tế (Bản án số 323/2020/HS-ST của TAND quận Hoàng Mai và Bản án số 15/2024/HS-ST của TAND tỉnh Gia Lai) tại Chương 3.

Câu hỏi thường gặp

1. Tình hình xét xử tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản tại TAND tỉnh Đắk Lắk giai đoạn 2018 - 2022 diễn biến ra sao?
Trong giai đoạn 2018 - 2022, Tòa án hai cấp tỉnh Đắk Lắk đã xét xử 75 vụ án và 83 bị cáo về tội danh này (trung bình 15 vụ và 16,6 bị cáo mỗi năm), chiếm 11,71% tổng số vụ án và 13,05% tổng số bị cáo thuộc nhóm tội xâm phạm sở hữu. Xu hướng xét xử gia tăng mạnh nhất vào năm 2022 với 21 vụ và 24 bị cáo (chiếm 13,04% tổng số vụ án xâm phạm sở hữu của năm).

2. Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi có phải chịu trách nhiệm hình sự về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản không?
Không. Căn cứ khoản 2 Điều 12 BLHS năm 2015, tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (Điều 175) không thuộc danh mục các tội danh mà người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu TNHS. Điển hình như trường hợp của Vũ Quốc K (15 tuổi 11 tháng 28 ngày) mượn xe SH đem cầm 10.000.000 đồng để chơi game rồi bỏ trốn, cơ quan tố tụng xác định K không phải chịu TNHS.

3. Điểm khác biệt cốt lõi giữa tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản và tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là gì?
Khác biệt cốt lõi nằm ở thời điểm xuất hiện ý định chiếm đoạt và tính chất của thủ đoạn gian dối. Ở tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Điều 174), thủ đoạn gian dối và ý định chiếm đoạt luôn có trước khi giao nhận tài sản, là nguyên nhân khiến nạn nhân tin tưởng tự nguyện giao tài sản. Ở tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (Điều 175), việc giao nhận tài sản ban đầu hoàn toàn hợp pháp, ngay thẳng dựa trên hợp đồng; ý thức chiếm đoạt chỉ nảy sinh sau khi người phạm tội đã nắm giữ tài sản.

4. Bị cáo Lê Khắc Vũ trong Bản án số 15/2024/HS-ST của TAND tỉnh Gia Lai bị xét xử về hành vi và hình phạt như thế nào?
Lê Khắc Vũ vay mượn tiền và tham gia chơi hụi của 4 người với tổng số tiền 2.053.560.000 đồng rồi bỏ trốn nhằm chiếm đoạt tài sản; bị xử phạt 12 năm tù theo khoản 4 Điều 175 BLHS. Ngoài ra, Vũ còn dùng thủ đoạn gian dối đưa thông tin sai sự thật để lừa đảo chiếm đoạt 780.000.000 đồng của 6 bị hại khác, bị phạt 10 năm tù theo điểm a khoản 4 Điều 174 BLHS. Tổng hợp hình phạt chung của 2 tội là 22 năm tù.

5. Vay tiền kinh doanh nhưng thua lỗ dẫn đến không trả được nợ thì có cấu thành tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản không?
Theo phân tích của tác giả, nếu người vay nhận tài sản hợp pháp rồi đưa vào kinh doanh nhưng do rủi ro thị trường bị thua lỗ, không cố tình trốn tránh, không dùng thủ đoạn gian dối để tẩu tán và không sử dụng tiền vào mục đích bất hợp pháp (như đánh bạc, buôn lậu) thì không cấu thành tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản mà đây là quan hệ tranh chấp dân sự.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Hồng Định đã hệ thống hóa toàn diện các vấn đề lý luận về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, đồng thời phân tích chi tiết bốn yếu tố cấu thành tội phạm theo quy định tại Điều 175 BLHS năm 2015. Thông qua nguồn số liệu thực tiễn xét xử cụ thể tại TAND hai cấp tỉnh Đắk Lắk giai đoạn 2018 - 2022 và các bản án thực tế tại Hà Nội, Gia Lai, nghiên cứu đã chỉ ra những vướng mắc pháp lý và ranh giới định tội còn dễ nhầm lẫn. Đây là công trình có giá trị tham khảo rõ ràng cho sinh viên luật, học viên nghiên cứu cũng như cán bộ tiến hành tố tụng trong công tác định tội danh và áp dụng hình phạt.