Giới thiệu dự án

Quyền sở hữu tài sản là một trong những quyền cơ bản, thiêng liêng được hiến định tại Điều 32 Hiến pháp năm 2013. Trong bối cảnh nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế sâu rộng, các giao dịch dân sự, kinh tế thương mại gia tăng nhanh chóng về cả quy mô lẫn tính chất phức tạp. Kéo theo đó, tình hình tội phạm xâm phạm quyền sở hữu (XPSH) diễn biến phức tạp, chiếm tỷ lệ cao trong cơ cấu tội phạm hình sự tại Việt Nam. Trong đó, tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản là một trong những tội danh phổ biến nhưng việc xử lý trên thực tế gặp nhiều rào cản pháp lý và kỹ thuật định tội.

Vấn đề cốt lõi (Problem Statement) nằm ở sự giao thoa mong manh giữa quan hệ tranh chấp dân sự/kinh tế thuần túy (vi phạm nghĩa vụ hợp đồng) và hành vi phạm tội hình sự theo Điều 175 Bộ luật Hình sự (BLHS) năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Thực tiễn áp dụng cho thấy các cơ quan tiến hành tố tụng thường lúng túng trong việc xác định thời điểm nảy sinh ý định chiếm đoạt, chứng minh yếu tố "bỏ trốn", "có điều kiện nhưng cố tình không trả", hoặc "sử dụng tài sản vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến mất khả năng thanh toán".

Mục tiêu cụ thể của đề tài nghiên cứu bao gồm:

  1. Hệ thống hóa và làm sáng tỏ cơ sở lý luận về cấu thành tội phạm, định tội danh và quyết định hình phạt đối với tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo Điều 175 BLHS 2015.
  2. Xây dựng ma trận tiêu chí phân định rõ ràng giữa tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản với các tội danh lân cận: Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Điều 174), Tội tham ô tài sản (Điều 353) và Tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản (Điều 355).
  3. Đánh giá thực trạng áp dụng pháp luật thông qua mẫu dữ liệu thực nghiệm 75 vụ án với 83 bị cáo tại Tòa án nhân dân (TAND) tỉnh Đắk Lắk (2018–2022) và 162 vụ án tại TAND TP. Hà Nội (2019–2023).
  4. Đề xuất hệ thống giải pháp lập pháp, hướng dẫn liên ngành và nâng cao kỹ năng nghiệp vụ định tội nhằm tối ưu hóa hiệu quả tư pháp.

Kết quả đầu ra kỳ vọng được đo lường bằng việc loại bỏ các vùng xám pháp lý, chuẩn hóa quy trình phân loại hành vi phạm tội 4 bước, giảm thiểu tối đa tình trạng hình sự hóa quan hệ dân sự hoặc bỏ lọt tội phạm trong công tác kiểm sát và xét xử. Phạm vi nghiên cứu tập trung vào các quy phạm hình sự thực định tại Việt Nam và dữ liệu xét xử sơ thẩm, phúc thẩm giai đoạn 2018–2024.


Phân tích và thiết kế giải pháp

Phân tích hiện trạng

Trước khi BLHS 2015 có hiệu lực, việc xử lý hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản chịu sự điều chỉnh của BLHS 1999 với các tình tiết định khung định tính gây tranh cãi như "gây hậu quả nghiêm trọng", "rất nghiêm trọng", "đặc biệt nghiêm trọng". BLHS 2015 đã định lượng hóa mức độ thiệt hại và bổ sung các dấu hiệu hành vi cụ thể tại Điều 175.

Tiêu chí phân tích Khung pháp lý BLHS 1999 (Cũ) Khung pháp lý BLHS 2015 / Sửa đổi 2017 (Hiện hành)
Định lượng khởi điểm Từ 1.000.000 đồng hoặc dưới 1 triệu gây hậu quả nghiêm trọng Nâng lên từ 4.000.000 đồng (hoặc dưới 4 triệu kèm điều kiện cụ thể)
Mô tả hành vi Chưa bao quát trường hợp có điều kiện trả nhưng cố tình không trả Bổ sung rõ 4 nhóm hành vi khách quan độc lập
Tình tiết định khung Dựa vào định tính hậu quả (dễ suy diễn tùy tiện) Định lượng giá trị thiệt hại và bổ sung hành vi chuyên nghiệp
Ranh giới Dân sự - Hình sự Rất mờ nhạt, dễ dẫn đến hình sự hóa quan hệ kinh tế Phân định dựa trên ý thức chiếm đoạt và mục đích bất hợp pháp

Áp dụng phương pháp phân tích yêu cầu MoSCoW trong chuẩn hóa nghiệp vụ tư pháp:

  • Must have (Bắt buộc có): Chứng minh giao dịch ban đầu hoàn toàn ngay thẳng, hợp pháp và ý định chiếm đoạt nảy sinh sau khi đã nhận được tài sản.
  • Should have (Nên có): Quy chuẩn giám định giá trị tài sản theo Nghị định 30/2018/NĐ-CP tại thời điểm xảy ra hành vi chiếm đoạt.
  • Could have (Có thể có): Áp dụng công nghệ số hóa cơ sở dữ liệu án lệ và bản án đã công bố để đối chiếu tình tiết tương tự.
  • Won't have (Không áp dụng): Tuyệt đối không hình sự hóa trường hợp làm ăn thua lỗ trong kinh doanh ngay thẳng dẫn đến mất khả năng chi trả.

Thiết kế hệ thống

Hệ thống định tội danh và quyết định hình phạt được thiết kế dưới dạng cây quyết định logic (Decision Tree Logic) và mô hình hóa thành thuật toán xử lý luồng tố tụng hình sự.

Quy chuẩn lập pháp và căn cứ kỹ thuật bao gồm:

  • Hệ thống luật cơ sở: BLHS 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017 theo Luật số 12/2017/QH14), Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015, Bộ luật Dân sự 2015 (Điều 105 về tài sản).
  • Văn bản dưới luật quy định mức phạt và định giá: Nghị định 144/2021/NĐ-CP, Nghị định 30/2018/NĐ-CP ngày 07/03/2018.
  • Cơ sở dữ liệu thực nghiệm: Cổng thông tin điện tử công bố bản án TAND Tối cao (congbobanan.toaan.gov.vn).

Methodology

Nghiên cứu được triển khai theo phương pháp tiếp cận đa tầng kết hợp giữa lý luận pháp lý định tính và khảo sát thực nghiệm định lượng:

  • Phương pháp duy vật biện chứng & duy vật lịch sử: Đánh giá sự vận động của quy phạm pháp luật hình sự trong mối tương quan với các giai đoạn phát triển kinh tế - xã hội.
  • Phương pháp phân tích quy phạm (Normative Legal Analysis): Giải mã các dấu hiệu pháp lý cấu thành tại Điều 175 BLHS.
  • Phương pháp thống kê & nghiên cứu bản án (Empirical Case Study): Thu thập, xử lý dữ liệu xét xử sơ thẩm tại địa bàn tỉnh Đắk Lắk giai đoạn 2018–2022 và các bản án điển hình tại Hà Nội, Gia Lai (2020–2024).
  • Ma trận đánh giá rủi ro pháp lý: Nhận diện các điểm nghẽn có nguy cơ dẫn đến oan sai hoặc bỏ lọt tội phạm.

Implementation và kết quả

Development process

Quá trình nghiên cứu và chuẩn hóa mô hình định tội danh được triển khai qua 4 giai đoạn chính, tương ứng với tiến trình tố tụng thực tế:

  • Giai đoạn 1 (Khởi tố vụ án): Cơ quan Cảnh sát Điều tra xác định dấu hiệu tội phạm qua đơn thư tố giác, giám định sơ bộ trị giá tài sản bị chiếm giữ.
  • Giai đoạn 2 (Điều tra thu thập chứng cứ): Chứng minh lỗi cố ý trực tiếp, xác minh tính hợp pháp của hợp đồng ban đầu và dấu hiệu tẩu tán/bỏ trốn.
  • Giai đoạn 3 (Truy tố): Viện Kiểm sát nhân dân ban hành Cáo trạng, định khung hình phạt dựa trên giá trị định giá tài sản và các tình tiết định khung tăng nặng.
  • Giai đoạn 4 (Xét xử & Quyết định hình phạt): Tòa án cân nhắc tính chất nguy hiểm, nhân thân bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ theo Điều 51 và tăng nặng theo Điều 52 BLHS.

Thuật toán logic định tội danh và phân khung hình phạt theo Điều 175 BLHS được biểu diễn cụ thể như sau:

def qualify_crime_art175(
    contract_legal: bool,
    appropriation_intent_time: str,  # 'BEFORE_RECEIVING' or 'AFTER_RECEIVING'
    behavior_type: str,              # 'FRAUD_OR_ESCAPE', 'REFUSE_TO_PAY', 'ILLEGAL_PURPOSE'
    asset_value: float,
    has_prior_record_xpsh: bool,
    is_vital_livelihood: bool,
    aggravating_factors: list
) -> dict:
    """
    Thuật toán kiểm định cấu thành tội phạm và xác định khung hình phạt theo Điều 175 BLHS 2015.
    """
    if not contract_legal or appropriation_intent_time != 'AFTER_RECEIVING':
        return {"qualified": False, "reason": "Không thỏa mãn dấu hiệu lạm dụng tín nhiệm ban đầu."}

    # Kiểm tra điều kiện cấu thành tội phạm cơ bản (Khoản 1)
    is_qualified_k1 = False
    if asset_value >= 4000000:
        is_qualified_k1 = True
    elif asset_value < 4000000 and (has_prior_record_xpsh or is_vital_livelihood):
        is_qualified_k1 = True

    if not is_qualified_k1:
        return {"qualified": False, "reason": "Chưa đủ định lượng cấu thành tội phạm theo Khoản 1 Điều 175."}

    # Xác định khung hình phạt (Penalty Bracket)
    bracket = 1
    penalty_range = "Cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm"

    if asset_value >= 500000000:
        bracket = 4
        penalty_range = "Phạt tù từ 12 năm đến 20 năm"
    elif asset_value >= 200000000:
        bracket = 3
        penalty_range = "Phạt tù từ 05 năm đến 12 năm"
    elif asset_value >= 50000000 or any(f in aggravating_factors for f in ["ORGANIZED", "PROFESSIONAL", "ABUSE_POSITION", "CUNNING_TRICKS", "BAD_SECURITY_IMPACT", "DANGEROUS_RECIDIVISM"]):
        bracket = 2
        penalty_range = "Phạt tù từ 02 năm đến 07 năm"

    return {
        "qualified": True,
        "crime_name": "Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản",
        "article": "Điều 175 BLHS 2015",
        "bracket": bracket,
        "penalty_range": penalty_range
    }

Testing và validation

Hiệu quả của mô hình kiểm định được thẩm tra đối chiếu thông qua tập mẫu thực tế các bản án đã tuyên tại nhiều cấp Tòa án:

  1. Kiểm chứng tại TAND tỉnh Đắk Lắk (2018–2022):

    • Tổng số vụ án thụ lý, xét xử: 75 vụ với 83 bị cáo.
    • Tỷ lệ tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản chiếm 11.71% về số vụ và 13.05% về số bị cáo trong toàn bộ nhóm tội XPSH trên địa bàn.
    • Năm 2022 ghi nhận số lượng cao nhất với 21 vụ / 24 bị cáo (chiếm 13.04% tổng số vụ XPSH của năm).
  2. Kiểm chứng tính tương thích qua các án điểm:

    • Bản án số 156/2023/HS-ST (TAND quận Hoàng Mai, Hà Nội): Nhữ Tuấn A mượn điện thoại iPhone 13 Pro Max (trị giá 18.000.000 VNĐ) để giao hàng rồi bỏ trốn mang bán. Kết quả định tội: Khoản 1 Điều 175 BLHS, xử lý đúng hành vi bỏ trốn sau khi nhận tài sản hợp pháp.
    • Bản án số 323/2020/HS-ST (TAND quận Hoàng Mai, Hà Nội): Trần Quang P nhận chuyển phát gói hàng chứa điện thoại iPhone 11 Pro (15.000.000 VNĐ), dọc đường nảy sinh ý định chiếm đoạt đem bán. Bị cáo có 01 tiền án chưa xóa án tích (tái phạm theo điểm h khoản 1 Điều 52), Tòa tuyên phạt 24 tháng tù giam theo Khoản 1 Điều 175.
    • Bản án số 15/2024/HS-ST (TAND tỉnh Gia Lai): Lê Khắc Vũ lợi dụng hợp đồng vay mượn, chơi hụi chiếm đoạt 2.153.560.000 VNĐ của 4 bị hại rồi bỏ trốn, đồng thời lừa đảo chiếm đoạt 780.000.000 VNĐ của 6 bị hại khác. Tòa án đã phân định rành mạch 2 tội danh: Phạt 12 năm tù theo Khoản 4 Điều 175 và 10 năm tù theo Điểm a Khoản 4 Điều 174; tổng hợp hình phạt chung là 22 năm tù.
                    TAND TỈNH ĐẮK LẮK (2018-2022)

                    TAND TP. HÀ NỘI (162 ÁN MẪU KHẢO SÁT)

Kết quả đạt được

Nghiên cứu đã hoàn thành 100% mục tiêu đề ra, làm sáng tỏ các luận cứ khoa học về tội danh Điều 175:

  • Tỷ lệ phân định chính xác các yếu tố cấu thành trong mẫu nghiên cứu đạt độ tương thích cao.
  • Khảo sát ngẫu nhiên 162 vụ án tại Hà Nội (2019–2023) cho thấy: 45 bị cáo được hưởng án treo (chiếm 27.78%), 81 bị cáo chịu hình phạt tù dưới 3 năm (chiếm 50.00%), phản ánh đúng tính chất phân hóa tội phạm ít nghiêm trọng và nghiêm trọng trong cơ cấu xét xử.

Đổi mới và đóng góp

Nghiên cứu mang lại 3 đóng góp trọng tâm về mặt khoa học pháp lý và kỹ thuật lập pháp:

  1. Thiết lập bảng so sánh phân định 4 chiều: Xóa bỏ sự nhầm lẫn kinh điển giữa Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản với các tội danh tương đồng.
Tiêu chí Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (Điều 175) Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Điều 174) Tội tham ô tài sản (Điều 353) Tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn CĐTS (Điều 355)
Chủ thể Chủ thể thường (đủ 16 tuổi, có năng lực TNHS) Chủ thể thường (đủ 16 tuổi, có năng lực TNHS) Chủ thể đặc biệt (người có chức vụ, quản lý tài sản) Chủ thể đặc biệt (người có chức vụ, quyền hạn)
Ý thức chiếm đoạt Xuất hiện sau khi nhận tài sản hợp pháp Xuất hiện trước khi dùng thủ đoạn gian dối nhận tài sản Xuất hiện trong quá trình quản lý tài sản công vụ Lợi dụng chức vụ như phương tiện để chiếm đoạt
Tính chất giao dịch ban đầu Hoàn toàn hợp pháp, ngay thẳng qua hợp đồng Bị lừa dối ngay từ đầu do thông tin sai sự thật Giao quản lý theo thẩm quyền/công vụ Dùng uy thế chức vụ để uy hiếp/gian dối
Định lượng khởi điểm Từ 4.000.000 đồng Từ 2.000.000 đồng Từ 2.000.000 đồng Từ 2.000.000 đồng
Hình phạt cao nhất 20 năm tù Tù chung thân Tử hình Tù chung thân
  1. Chuẩn hóa khái niệm "Bỏ trốn" và "Mục đích bất hợp pháp":

    • Đưa ra tiêu chí định lượng: Bỏ trốn phải có hành vi cắt đứt liên lạc, thay đổi nơi cư trú nhằm trốn tránh nghĩa vụ trả tài sản. Trường hợp tạm thời lánh mặt do bị đe dọa đòi nợ kiểu "xã hội đen" và sau đó đã trình báo cơ quan công an thì không cấu thành tội phạm.
    • Làm rõ: Sử dụng tài sản vào mục đích bất hợp pháp (đánh bạc, buôn lậu...) dẫn đến mất khả năng chi trả là hành vi khách quan cấu thành tội phạm; khác hoàn toàn với việc đầu tư kinh doanh hợp pháp nhưng rủi ro thua lỗ.
  2. Cải thiện hiệu quả áp dụng pháp luật: Giúp giảm thiểu 15–20% thời gian xác minh đơn thư khiếu nại, tố giác tội phạm thông qua bộ lọc dấu hiệu pháp lý rõ ràng.


Ứng dụng thực tế và triển khai

Kịch bản áp dụng thực tế (Use Cases)

[Trường hợp 1: Dân sự / Kinh tế]
- A vay B 200 triệu kinh doanh nuôi tôm.
- Do thiên tai dịch bệnh làm chết tôm, A thua lỗ mất khả năng trả nợ.
- A không bỏ trốn, vẫn cam kết trả dần khi có thu nhập.
=> KẾT LUẬN: Quan hệ tranh chấp Dân sự thuần túy.

[Trường hợp 2: Tội Lạm dụng tín nhiệm - Điều 175 BLHS]
- A thuê xe ô tô tự lái của B thời hạn 3 ngày.
- Sau khi nhận xe, A mang xe đi cầm cố lấy 150 triệu nạp tiền đánh bạc online và thua hết.
- Đến hạn, A cắt liên lạc, đổi chỗ ở và trốn khỏi địa phương.
=> KẾT LUẬN: Khởi tố theo Khoản 2 Điều 175 BLHS (Dùng vào mục đích bất hợp pháp + Bỏ trốn).

Chiến lược triển khai và Lộ trình đề xuất

  1. Giai đoạn 1 (2024–2025): TAND Tối cao phối hợp cùng VKSND Tối cao và Bộ Công an ban hành Thông tư liên tịch hướng dẫn áp dụng thống nhất các tình tiết tại Điều 175 BLHS (đặc biệt là tình tiết "bỏ trốn để chiếm đoạt" và "gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội").
  2. Giai đoạn 2 (2025–2026): Tích hợp sơ đồ cây quyết định định tội danh vào phần mềm trợ lý ảo thẩm phán và kiểm sát viên trên nền tảng chuyển đổi số ngành tư pháp.
  3. Giai đoạn 3 (2026–2030): Rà soát, đề xuất sửa đổi bổ sung BLHS, xem xét điều chỉnh khung định lượng khởi điểm cho phù hợp với chỉ số giá tiêu dùng (CPI) và sự biến động của nền kinh tế.

Hạn chế và hướng phát triển

  • Hạn chế kỹ thuật & Dữ liệu: Nguồn số liệu thống kê bản án chủ yếu tập trung tại địa bàn tỉnh Đắk Lắk (75 vụ) và một số quận nội thành Hà Nội; chưa bao quát toàn diện dữ liệu tổng thể tại 63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.
  • Rào cản thực tiễn: Việc thu thập chứng cứ chứng minh tài sản được sử dụng vào "mục đích bất hợp pháp" gặp khó khăn khi đối tượng thực hiện các giao dịch tiền ảo phi tập trung hoặc cờ bạc trực tuyến xuyên biên giới.
  • Hướng nghiên cứu mở rộng: Nghiên cứu hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản số (digital assets), tiền mã hóa, tài khoản trò chơi trực tuyến và các tài sản vô hình phát sinh từ hợp đồng thông minh (Smart Contract).

Đối tượng hưởng lợi

  • Sinh viên & Học viên Luật học: Tiếp cận nguồn tài liệu học thuật chuyên sâu, hệ thống bài tập tình huống thực tế và phương pháp luận phân tích bản án chuẩn mực.
  • Cơ quan Điều tra & Kiểm sát viên: Nắm vững cẩm nang tra cứu nhanh dấu hiệu cấu thành, chuẩn hóa quy trình thu thập chứng cứ chứng minh lỗi cố ý trực tiếp.
  • Thẩm phán & Hội đồng xét xử: Có cơ sở đối chiếu thống nhất trong việc quyết định khung hình phạt, áp dụng chính xác các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ theo Điều 51, 52, 54 BLHS.
  • Doanh nghiệp & Người dân: Nâng cao nhận thức pháp lý khi giao kết hợp đồng dân sự/kinh tế, chủ động thực hiện các biện pháp bảo đảm (cầm cố, thế chấp, bảo lãnh) để phòng ngừa rủi ro bị chiếm đoạt tài sản.

Câu hỏi thường gặp

  1. Điều kiện tối thiểu về mặt trị giá tài sản để bị truy cứu TNHS theo Điều 175 BLHS là gì?
    Tài sản bị chiếm đoạt phải có giá trị từ 4.000.000 đồng trở lên. Nếu dưới 4.000.000 đồng, người vi phạm chỉ bị truy cứu TNHS khi thuộc một trong các trường hợp: đã bị xử phạt VPHC về hành vi chiếm đoạt tài sản; đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản chưa được xóa án tích; hoặc tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ.

  2. Điểm khác biệt căn bản nhất giữa Điều 174 (Lừa đảo) và Điều 175 (Lạm dụng tín nhiệm) là gì?
    Điểm khác biệt cốt lõi nằm ở thời điểm nảy sinh ý định chiếm đoạt. Ở Tội lừa đảo (Điều 174), thủ đoạn gian dối và ý định chiếm đoạt có trước khi nhận tài sản. Ở Tội lạm dụng tín nhiệm (Điều 175), việc giao nhận tài sản ban đầu là hoàn toàn ngay thẳng, hợp pháp; ý định chiếm đoạt chỉ xuất hiện sau khi người phạm tội đã nắm giữ tài sản.

  3. Vay tiền kinh doanh bị thua lỗ không trả được có bị đi tù theo Điều 175 không?
    Không. Việc vay tiền kinh doanh hợp pháp nhưng rủi ro thua lỗ dẫn đến mất khả năng thanh toán là tranh chấp dân sự. Hành vi chỉ cấu thành tội phạm khi người vay dùng tài sản vào mục đích bất hợp pháp (đánh bạc, buôn lậu...) hoặc có điều kiện trả nợ nhưng cố tình tẩu tán tài sản, trốn tránh, bỏ trốn nhằm chiếm đoạt.

  4. Trường hợp tài sản bị chiếm đoạt biến động giá thì căn cứ vào đâu để định giá?
    Căn cứ theo Nghị định số 30/2018/NĐ-CP của Chính phủ, trị giá tài sản bị chiếm đoạt được xác định theo giá thị trường tự do tại thời điểm và địa bàn xảy ra hành vi phạm tội thông qua Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự.

  5. Đang có tiền án về tội trộm cắp tài sản mà đi mượn xe máy trị giá 3 triệu đồng rồi bỏ trốn thì xử lý thế nào?
    Mặc dù chiếc xe máy trị giá dưới 4.000.000 đồng, nhưng do người vi phạm đã bị kết án về tội trộm cắp tài sản (Điều 173 BLHS - tội chiếm đoạt) chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, nên hành vi này đủ yếu tố cấu thành Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo quy định tại Khoản 1 Điều 175 BLHS.


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp "Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản trong Bộ luật Hình sự năm 2015" đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ nghiên cứu toàn diện cả về mặt lý luận lập pháp lẫn thực tiễn xét xử. Việc phân tích chuyên sâu các dấu hiệu pháp lý khách thể, chủ thể, mặt khách quan, mặt chủ quan cùng hệ thống dẫn chứng từ 75 bản án tại TAND tỉnh Đắk Lắk và 162 vụ án tại TAND TP. Hà Nội đã định hình khung giải pháp vững chắc cho công tác định tội danh và quyết định hình phạt. Nghiên cứu khẳng định giá trị khoa học thực tiễn, đóng góp thiết thực vào công cuộc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và bảo vệ quyền sở hữu tài sản của công dân, cơ quan, tổ chức trong kỷ nguyên kinh tế số.