Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ NGUYÊN NHÂN VÀ ĐIỀU KIỆN CỦA TÌNH HÌNH TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN 1. Tội trộm cắp tài sản và ý nghĩa của việc nghiên cứu nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội trộm cắp tài sản 1. Khái niệm và các dấu hiệu pháp lý của tội trộm cắp tài sản Giáo trình trường Đại học Luật Hà Nội đưa ra khái niệm trộm cắp tài sản: “Tội trộm cắp tài sản là hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản đang có chủ” [37, tr. Khái niệm này đã mô tả dấu hiệu hành vi khách quan của tội phạm là hành vi chiếm đoạt; việc chiếm đoạt được thực hiện lén lút; tài sản bị chiếm đoạt là tài sản đang được sở hữu của chủ sở hữu.
Tuy nhiên, khái niệm này không thể hiện rõ một số dấu hiệu pháp lý khác của tội trộm cắp tài sản như dấu hiệu về lỗi của người phạm tội, dấu hiệu về độ tuổi và năng lực trách nhiệm hình sự của chủ thể tội phạm. Khái niệm tội trộm cắp tài sản đầy đủ phải thỏa mãn các dấu hiệu của tội phạm mà theo PGS. Lê Cảm, phải thể hiện trên ba bình diện: Bình diện khách quan, bình diện pháp lý và bình diện chủ quan; với năm dấu hiệu: Tội phạm lŕ hŕnh vi nguy hiểm cho xã hội; tội phạm là hành vi trái pháp luật hình sự; tội phạm lŕ hŕnh vi do ngýời có năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự thực hiện một cách có lỗi [7, tr. Dựa vào các quan điểm trên, tác giả đưa ra khái niệm tội trộm cắp tài sản như sau: Trộm cắp tài sản là hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác, do người có năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự thực hiện dưới hình thức lỗi cố ý, xâm phạm quyền sở hữu được Nhà nước bảo vệ bằng pháp luật.
Khái niệm tội trộm cắp tài sản trên đã xác định hành vi phạm tội trộm cắp tài sản là hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác. Hình thức chiếm đoạt của người phạm tội là hành vi lén lút (đây là dấu hiệu phân biệt tội trộm cắp tài sản với các tội phạm có tính chất chiếm đoạt khác), xâm phạm quyền sở hữu về tài sản của người khác. Các tội khác xâm phạm quyền sở hữu có thể bằng hành vi chiếm đoạt 7 nhưng sự chiếm đoạt xảy ra công khai như tội cướp tài sản, tội cưỡng đoạt tài sản… hoặc chiếm đoạt bằng thủ đoạn gian dối như tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Khái niệm nêu trên còn thể hiện người đủ tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự và có năng lực chịu trách nhiệm hình sự, loại trừ người ở trong tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự thì không phải tội phạm.
Khác với các tội xâm phạm quyền sở hữu với lỗi vô ý, người phạm tội trộm cắp tài sản có lỗi cố ý khi thực hiện tội phạm: họ mong muốn chiếm lấy tài sản của người khác để thỏa mãn các nhu cầu của bản thân hoặc gia đình. Dấu hiệu của tội trộm cắp tài sản Trộm cắp tài sản trực tiếp xâm phạm quyền sở hữu của người khác về tài sản và đối tượng tác động của tội trộm cắp tài sản là tài sản đang có chủ. Theo quy định tại Điều 138 của BLHS năm 1999, đã được sửa đổi bổ sung năm 2009, các yếu tố cấu thành tội trộm cắp tài sản thể hiện như sau: 1. Khách thể của tội trộm cắp tài sản Khách thể của tội trộm cắp tài sản là quyền sở hữu về tài sản.
Đó là quan hệ xã hội mà trong đó quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt của chủ sở hữu được pháp luật tôn trọng và bảo vệ. Cũng giống như các tội được quy định trong chương các tội xâm phạm sở hữu trong đó có tội trộm cắp tài sản của Bộ luật hình sự mà đối tượng tác động là tài sản của công dân Việt Nam, người nước ngoài, cơ quan, tổ chức, nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; cơ quan, tổ chức nước ngoài trên lãnh thổ Việt Nam. Đối với tội phạm học, đối tượng tác động của tội trộm cắp tài sản có ý nghĩa vô cùng quan trọng, vì nó giữ vai trò quy định đối với phương thức thực hiện hành vi. Mặt khách quan của tội trộm cắp tài sản Tội trộm cắp tài sản có cấu thành vật chất, các yếu tố thuộc mặt khách quan bao gồm các hành vi nguy hiểm cho xã hội, hậu quả của hành vi, mối quan hệ giữa hành vi và hậu quả, dấu hiệu về thời gian, địa điểm, công cụ, phương tiện phạm tội….
Cụ thể như sau: 8 Một là, về hành vi khách quan: Hành vi nguy hiểm cho xã hội của tội trộm cắp tài sản là hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác. Căn cứ vào Điều 8 của Bộ Luật hình sự năm 1999, được sửa đổi, bổ sung năm 2009, chia tội phạm ra làm bốn loại theo bốn mức độ nguy hiểm của hành vi, tương ứng với mức độ nguy hiểm của hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản ở tội trộm cắp tài sản của người khác, đó là 4 mức độ: - Mức độ 1, hành vi ít nghiêm trọng là hành vi gây nguy hại không lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với nó là đến ba năm tù. - Mức độ 2, hành vi nghiêm trọng là hành vi gây nguy hại lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với nó là đến bảy năm tù. - Mức độ 3, hành vi rất nghiêm trọng là hành vi gây nguy hại lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với nó là đến mười lăm năm tù.
- Mức độ 4, hành vi đặc biệt nghiêm trọng là hành vi gây nguy hại đặc biệt lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với hành vi này là trên mười lăm năm tù, tù chung thân hoặc tử hình. Hai là, về hậu quả nguy hiểm: - Hậu quả nguy hiểm ở hành vi cơ bản: Điều 138 của Bộ Luật hình sự năm 1999, được sửa đổi, bổ sung năm 2009, quy định: Giá trị tài sản bị chiếm đoạt từ hai triệu đồng trở lên hoặc dưới hai triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm. - Hậu quả nguy hiểm ở hành vi tăng nặng: Gây hậu quả nghiêm trọng: + Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng; + Bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm. - Hậu quả nguy hiểm ở hành vi tăng nặng: Gây hậu quả rất nghiêm trọng: 9 + Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng; + Bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm.
- Hậu quả nguy hiểm ở hành vi tăng nặng: Hậu quả đặc biệt nghiêm trọng: + Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên; + Bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân. Ba là, phải có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi phạm tội và hậu quả xảy ra, tức là, hậu quả gây nguy hiểm cho xã hội chính là kết quả của hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác và hành vi đó là nguyên nhân gây ra hậu quả. Bốn là, các dấu hiệu về thời gian, địa điểm, công cụ, phương tiện phạm tội không có tính bắt buộc đối với mọi tội trộm cắp tài sản. Chủ thể của tội trộm cắp tài sản Nói đến chủ thể của tội trộm cắp tài sản là nói đến hai yếu tố sau: Thứ nhất, về độ tuổi: Người từ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi chỉ bị truy cứu trách nhiệm hình sự khi thực hiện hành vi vi phạm quy định tại khoản 3,4 Điều 138; người từ đủ 16 tuổi trở lên bị truy cứu trách nhiệm hình sự khi thực hiện hành vi vi phạm quy định tại Điều 138 của Bộ luật hình sự hiện hành.
Thứ hai, về năng lực hành vi: Chủ thể có năng lực hành vi là những chủ thể có khả năng nhận thức được hành vi và hậu quả do hành vi phạm tội của mình gây ra. Mặt chủ quan của tội trộm cắp tài sản Mặt chủ quan của tội trộm cắp tài sản bao gồm lỗi và mục đích của hành vi phạm tội. Tội trộm cắp tài sản được thực hiện do lỗi cố ý; mục đích là mong muốn chiếm đoạt được tài sản thuộc sở hữu của người khác và mục đích này có trước khi thực hiện hành vi. Đây là dấu hiệu bắt buộc đối với tội này.
Tội trộm cắp tài sản theo pháp luật hình sự hiện hành Trộm cắp tài sản là hành vi phạm tội được quy định tại Điều 138 của Bộ Luật hình sự năm 1999, được sửa đổi, bổ sung năm 2009. Cụ thể điều luật này quy định như sau: 10 “1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm: a) Có tổ chức; b) Có tính chất chuyên nghiệp; c) Tái phạm nguy hiểm; d) Dùng thủ đoạn xảo quyệt, nguy hiểm; đ) Hành hung để tẩu thoát; e) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng; g) Gây hậu quả nghiêm trọng.
Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm: a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng; b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân: a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên; b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.