Chương 1. Cơ sở lý luận về chất lượng học tập của sinh viên trong bối cảnh chuyển đổi số Chương 2. Thực trạng chất lượng học tập của sinh viên Học viện Hành chính Quốc gia trong bối cảnh chuyển đổi số Chương 3. Giải pháp và kiến nghị nhằm tăng cường chất lượng học tập của sinh viên Học viện Hành chính Quốc gia trong bối cảnh chuyển đổi số 8 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƢỢNG HỌC TẬP CỦA SINH VIÊN TRONG BỐI CẢNH CHUYỂN ĐỔI SỐ 1.
Một số khái niệm cơ bản 1. Khái niệm về sinh viên Khái niệm về SV cho thấy SV là đại biểu một nhóm xã hội đang trong giai đoạn phát triển và hoàn thiện bản thân. SV có trình độ học vấn cao hơn so với học sinh ở mức phổ thông. SV là những người đang trong quá trình chuẩn bị tri thức nghề nghiệp để trở thành chuyên gia lao động trong một lĩnh vực nhất định [20].
Theo Từ điển Giáo dục học: “SV là người học của một cơ sở giáo dục cao đẳng, đại học. Có thể phân loại SV đại học theo những phạm trù khác nhau. SV tập trung, SV chính quy, SV không tập trung…” Khái niệm SV được sử dụng rộng rãi với nghĩa: “SV là đại biểu của một nhóm xã hội, đặc biệt gồm những người đang trong quá trình chuẩn bị tri thức nghề nghiệp, để trở thành các chuyên gia hoạt động, lao động trong một lĩnh vực nhất định thuộc các ngành kinh tế, văn hóa, xã hội”. Theo Từ điển Tiếng Việt: Khái niệm “SV” được dùng để chỉ người học ở bậc đại học [19].
Theo Từ điển Hán - Việt: “SV là người học ở bậc đại học, bao gồm hệ cao đẳng và hệ đại học” [24]. Theo Luật Giáo dục Đại học: “SV là người đang học tập và nghiên cứu khoa học tại cơ sở GDĐH, theo học chương trình đào tạo cao đẳng, chương trình đào tạo đại học” [21]. Như vậy, ta có thể thấy khái niệm SV thường được dùng và hiểu với nghĩa là chỉ người đang học tập trong các trường cao đẳng và đại học. SV là một nhóm quan trọng trong xã hội, là những người đang trong quá trình tích lũy, lĩnh hội những tri thức và kiến thức quý báu để đáp ứng nguồn nhân lực cho sự phát triển của đất nước vì thế SV cần được quan tâm và hỗ trợ để phát triển toàn diện.
Khái niệm về chất lƣợng học tập của sinh viên Theo tác giả Nguyễn Văn Hộ, học tập là một quá trình hoạt động căng thẳng của tư duy. Muốn đạt tới mục đích học tập, cho dù là rất nhỏ (giải một bài tập, học thuộc một công thức…). Người học tập phải tập cách suy nghĩ thông qua các thao tác trí tuệ, từ nhận biết, so sánh, phân tích, tổng hợp đến cụ thể hóa đến khả năng dự đoán, phân tích, tổng hợp đến cụ thể hóa đến khả năng dự đoán, bảo vệ chân lý do mình đế xuất… Toàn bộ những gì có được về phương pháp nhận thức, về tư duy là kết quả tất 9 yếu của một quá trình học tập lâu dài, bền bỉ. Khi người học đã tích lũy được một khối lượng tri thức cần thiết có được một trình độ khách quan một cách sâu sắc hơn.
[16] Học và luyện tập để nắm vững những điều cần học. Thu nhận kiến thức và rèn luyện và giải quyết các bài tập. Học tập về bản chất là hoạt động nhận thức của người học được thực hiện dưới dự tổ chức điều khiển của nhà sư phạm. Học là một trong những loại hình nhận thức, đó là sự phản ánh hiện thực khách quan vào não người, sự phản ánh đó diễn ra trong quá trình hoạt động tích cực của bộ phận vỏ não.
Là một hoạt động nhận thức độc đáo, nó có sự lãnh đạo, tổ chức, điều khiển. Quá trình nhận thức không diễn ra theo con đường mò mẫm, mà diễn ra theo con đường đã được khám phá, được những nhà xây dựng nội dung dạy học và người giáo viên gia công vào. Quá trình nhận thức không phải tìm ra cái mới cho nhân loại, mà là tái tạo những tri thức của nhân loại đã tạo ra, nhận thức cái mới. Theo tác giả Trần Khánh Đức (Viện nghiên cứu phát triển giáo dục) quan niệm: Chất lượng học tập được đánh giá qua mức độ xác định trước mục tiêu đào tạo đã đặt ra trong một chương trình đào tạo và chất lượng học tập là kết quả của hoạt động học tập được phản ánh qua các đặc trưng về phẩm chất, giá trị, đạo đức và giá trị sức lao động hay khả năng nghề nghiệp của người học phù hợp với mục tiêu, chương trình đào tạo theo từng nghề nghiệp cụ thể.
Chất lượng học tập của SV là mức độ đạt được mục tiêu đào tạo thông qua các khía cạnh như: SV phải nắm vững những kiến thức cơ bản về chuyên ngành học của mình, có khả năng vận dụng những kiến thức vào thực tiễn để giải quyết các vấn đề, có khả năng tiếp thu những kiến thức mới và thông tin liên quan đến ngành học. SV phải có tư duy logic và sáng tạo khi giải quyết vấn đề bên cạnh đó còn có các kỹ năng phụ như giao tiếp, thuyết trình, làm việc nhóm hay kỹ năng sử dụng công nghệ thông tin và ứng dụng vào học tập, nghiên cứu. Để đánh giá chất lượng học tập của SV dựa trên các tiêu chí như kết quả học tập, điểm số các môn học, kết quả thi. Khả năng tham ra các hoạt động ngoại khóa của nhà trường của mỗi SV.
Ý thức học tập, rèn luyện, đạo đức và lối sống, tinh thần trách nhiệm, kỷ luật và tự giác trong học tập. Tinh thần học hỏi, sáng tạo trong học tập. Bên cạnh đó còn có các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng học tập của SV như tư duy, trí nhớ, khả năng tiếp thu kiến thức. Ý thức thái độ trong học tập, phương pháp học và điều kiện cá nhân của mỗi SV.[26] 10 Từ các phân tích nhóm nghiên cứu đưa ra quan điểm như sau: Chât lượng học tập là thành quả hoạt động nhận thức của người học thể hiện đáp ứng theo cầu mục tiêu của quá trình dạy học.
Chất lượng học tập được đánh giá bằng tỷ lệ người học sau khi đào tạo so với trước khi đào tạo, số lượng người học ra trường so với nhập học, tỷ lệ người học ra trường đáp ứng được nhu cầu công việc của nhà tuyển dụng và phù hợp với nhu cầu của xã hội. Tóm lại: Chất lượng học tập của SV là vấn đề có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển của đất nước, cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa nhà trường, gia đình xã hội để nâng cao chất học tập của SV góp phần đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho đất nước. Chất lượng học tập của SV nhằm bảo đảm cho quá trình học tập của SV thực hiện tốt nhất mục tiêu yêu cầu đào tạo mà nhà trường đã xác định. Để quản lý và đánh giá chất lượng học tập của SV cần phải đảm bảo quá trình học tập, rèn luyện của SV phải được thực hiện đúng theo mục tiêu và yêu cầu của nhà trường đã đề ra.
Khái niệm về chuyển đổi số Chuyển đổi số là một giai đoạn phát triển tiếp theo của công nghệ thông tin. Chuyển đổi số được hiểu là sự vận dụng những thành tựu về công nghệ số như trí tuệ nhân tạo, internet, điện toán đám mây, dữ liệu lớn (big data)… vào mọi hoạt động của đời sống xã hội. Sử dụng chuyển đổi số nhằm mang lại các lợi ích như việc chuyển đổi các dữ liệu và quy trình sang điện tử. Kết nối các hệ thống và dữ liệu với nhau.
Tự động hóa các quy trình thủ công sang công nghệ hóa. Ứng dụng trí tuệ nhân tạo để phân tích dữ liệu.[8] Việc chuyển đổi số cũng mang đến một số thách thức như việc con người đã quá quen với môi trường thực nhiều thế kỷ qua vì thế khi chuyển đổi lên môi trường số sẽ phải thay đổi thói quen. Bên cạnh đó còn có các yếu tố khác như việc hạ tầng công nghệ số chưa phát triển đồng đều, khả năng tiếp cận công nghệ còn hạn chế, môi trường bảo mật số còn kém. Chuyển đổi số khởi nguồn từ những đột phá công nghệ số, chuyển đổi số không chỉ là công nghệ số mà đúng hơn chuyển đổi số là sự tiếp nhận cái mới.
Do đó chuyển đổi số chính là một cuộc cách mạng về tư duy, nhận thức, cơ chế, chính sách nhiều hơn là một cuộc cách mạng về công nghệ. [8] Tóm lại, chuyển đổi số là một xu thế tất yếu và là cơ hội để có thể phát triển 11 trong thời đại công nghệ số như hiện nay. Để thực hiện thành công chuyển đổi số chúng ta cần chung tay góp sức xây dựng một môi trường công nghệ hiện đại, văn minh phát triển. Khái niệm về chất lƣợng học tập của sinh viên trong bối cảnh chuyển đổi số Chuyển đổi số trong giáo dục là việc mà chúng ta ứng dụng công nghệ kĩ thuật số và hệ thống internet vào lĩnh vực giáo dục để nâng cao chất lượng giảng dạy học tập và quản lý giáo dục trong trường học.
Chuyển đổi số bao gồm cả việc cải tiến phương pháp giảng dạy, cải tiến các thiết bị và dụng cụ hỗ trợ học tập để nâng cao trải nghiệm cho SV và người tham gia đào tạo giúp chất lượng của học tập của SV ngày càng được phát triển và mở rộng. Việc chuyển đổi số giúp tạo ra môi trường học tập mọi lúc mọi nơi và dù ở đâu đều có thể kết nối với nhau. Sự kết hợp mới mẻ của công nghệ nhằm thu hẹp được khoảng cách địa lý để tạo ra trải nghiệm mới trong học tập đồng thời tăng cường sự tương tác giữa mọi người với nhau. Tuy nhiên công tác chuyển đổi số trong giáo dục cũng lại đặt ra một số thách thức lớn trong việc đảm bảo chất lượng học tập bao gồm đảm bảo truy cập công bằng đến công nghệ, đào tạo và hỗ trợ cho GV và SV, đảm bảo an toàn và bảo mật thông tin trong môi trường số.
[16] Chuyển đổi số mang đến nhiều cơ hội để nâng cao chất lượng học tập cho SV như SV có thể học tập theo tốc độ và nhu cầu của bản thân, có thể tương tác với bạn bè hay GV một cách dễ dàng hơn, tiếp cận với những nguồn tài liệu phong phú và cập nhật một cách nhanh chóng. Bên cạnh đó SV có thể rèn luyện được kỹ năng sử dụng công nghệ thông tin một cách thường xuyên.