phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Phụ lục, và 3 chƣơng: - Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động tự học của sinh viên. - Chƣơng 2: Thực trạng công tác quản lý hoạt động tự học của sinh viên Học viện Công nghệ Bƣu chính viễn thông cơ sở tại TP. Hồ Chí Minh. - Chƣơng 3: Đề xuất biện pháp quản lý hoạt động tự học của sinh viên Học viện Công nghệ Bƣu chính viễn thông cơ sở tại TP.
Hồ Chí Minh. 7 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TỰ HỌC CỦA SINH VIÊN 1. Tổng quan nghiên cứu về hoạt động tự học và quản lý hoạt động tự học của sinh viên trên thế giới và tại Việt nam Trong lịch sử phát triển của nhân loại, tự học có tính chất quyết định sự phát triển năng lực của mỗi ngƣời. Tự học và quản lý hoạt động tự học là vấn đề đƣợc các học giả trên thế giới cũng nhƣ trong nƣớc quan tâm nghiên cứu cả về lý luận và thực tiễn, nhằm phát huy vai trò của ngƣời học và nâng cao chất lƣợng của hoạt động tự học.
Trên thế giới Khổng Tử (551- 479, TCN) là nhà khai sáng Nho giáo, triết gia lỗi lạc của văn minh Á Đông. Ông đã xây dựng các phƣơng pháp giáo dục khá chặt chẽ. Phƣơng pháp đối thoại gợi mở phát huy tính năng động, khả năng tƣ duy, sáng tạo của ngƣời học. Phƣơng pháp học đi đôi với hành, thực hành điều đã học và đem tri thức của mình vận dụng vào trong cuộc sống.
Phƣơng pháp "ôn cũ biết mới", văn ôn võ luyện, nắm chắc kiến thức cũ thì mới có nền tảng tiếp thu kiến thức mới. Các phƣơng pháp này đến nay hậu thế vẫn đang áp dụng. Ngoài ra, ngƣời học còn phải tự rèn luyện, phải khách quan, cầu tiến trong học tập thì mới tiến bộ đƣợc. Là giảng gia, là một ngƣời thầy, đây là cách mà ông đã quản lý việc học tập nói chung và tự học nói riêng của đệ tử, của học trò để họ tự tu luyện, tiếp thu tốt nhất trí thức mà ông truyền giảng (Đào Thị Ngọc Anh, 2017, tr.
Socrates (469-399, TCN) là một triết gia Hy Lạp cổ đại. Ông nổi tiếng với phƣơng pháp truy vấn biện chứng, hay còn gọi là "phƣơng pháp Sokrates" hay phƣơng pháp "bác bỏ bằng logic". Ngƣời ta cho rằng đây là đóng góp quan trọng nhất của ông cho tƣ tƣởng phƣơng Tây. Ở phƣơng pháp của ông, để giải quyết một vấn đề, cần chia nhỏ nó thành các câu hỏi có hệ thống, từ các câu trả lời cho các câu hỏi đó, sẽ dần hình thành lời giải (Đào Thị Ngọc Anh, 2017, tr.
Ngày nay, ảnh hƣởng của phƣơng pháp này thấy rõ nhất trong việc nghiên cứu khoa học, mà bƣớc 8 đầu tiên là đặt ra giả thuyết. Đặt câu hỏi Socrates có thể đƣợc sử dụng ở mọi cấp lớp và là một công cụ hữu ích với mọi giáo viên. Kỹ thuật này phát huy tƣ duy độc lập ở ngƣời học, họ sẽ nắm vững đƣợc những nội dung đã học. Các kỹ năng tƣ duy bậc cao đƣợc thể hiện khi ngƣời học suy nghĩ, thảo luận, đánh giá, phân tích nội dung bằng tƣ duy của bản thân và của những ngƣời khác.
Đây là phƣơng pháp mà ngƣời dạy tác động đến hoạt động tiếp thu kiến thức của ngƣời học cũng nhƣ hình thành và rèn luyện kỹ năng tự học cho ngƣời học. Theo nhà sử học ngƣời Anh Edward Gibbon thì mỗi ngƣời đều nhận đƣợc hai thứ giáo dục: một thứ do ngƣời khác truyền cho; một thứ, quan trọng hơn nhiều, do mình tự tạo lấy. “Every person has two educations, one which he receives from others, and one, more important, which he gives to himself.” Âu đó cũng nói lên tầm quan trọng của tự học. Các tác giả Jiaming Zhong, Jisheng He* và Zhijuan Liu tại trƣờng đại học Xiangnan, trong bài báo “On Self-learning Ability of College Students and Its Cultivation”, nghiên cứu về năng lực tự học và sự rèn luyện các kỹ năng tự học đã khẳng định: năng lực tự học của sinh viên ảnh hƣởng trực tiếp đến hiệu quả học tập của họ.
Đào tạo sinh viên năng lực tự học phải là nhiệm vụ quan trọng của giáo dục đại học (Zhong J. Trong một nghiên cứu khác của tác giả Anna Studenska (2012) của trƣờng đại học Silesia (Ba Lan) tại bài báo “Predictors of Learning Autonomy and its Components”, bà cho rằng mức độ tự chủ trong học tập có liên hệ với đặc điểm tính cách, để thúc đẩy sự tự chủ trong học tập, cần nâng cao ý thức chia sẻ các quyết định liên quan đến học tập giữa nhà giáo dục và ngƣời học (Studenska A. “Learning to Learn” là bài báo của tác giả Erika Andersen trong Tạp chí Harvard Business Review. Tác giả nhấn mạnh đến 4 thuộc tính tâm lý giúp những ngƣời thành công trong tự học, trở thành ngƣời mới nhiều lần.
Đó là: khát vọng, tự nhận thức, tò mò và dễ bị tổn thƣơng. Họ thực sự muốn hiểu và thành thạo kỹ năng mới, họ nhìn thấy bản thân rất rõ ràng, họ liên tục đặt ra những câu hỏi hay và họ 9 chấp nhận những sai lầm của chính họ khi họ tiến lên trên con đƣờng học tập (Andersen E. Một nghiên cứu về Hệ thống quản lý tự học có định hƣớng (self-directed Learning Management System-LMS) của các tác giả Young-hwan Woo, Suk-won Hong, Sang-bok Kim của trƣờng đại học Geochang (Hàn quốc) đã đƣa ra mô hình quản lý hệ thống học tập LMS. LMS giúp sinh viên học tập E-learning hiệu quả.
LMS là một hệ thống cho phép quản lý giáo dục từ xa dựa trên web thông qua hỗ trợ môi trƣờng học tập của sinh viên và tích hợp các nội dung liên quan đến ngƣời học (Woo Y. Kucheryaviy của Học viện Luật Donetsk, Ukrana, trong bài báo “Một số vấn đề quản lý hoạt động tự học của sinh viên ngành Luật (The Problems with Self-Learning Activities Management of Law Students)"” đã nêu lên một số nhận định từ nghiên cứu của tác giả. Những ngƣời không có kỹ năng thực hiện các nhiệm vụ học tập dƣờng nhƣ không thể hoạt động tự học thành công. Không phải do thiếu tài nguyên học tập, mà do sinh viên không đƣợc đào tạo đọc sách, làm bài tập viết, học văn bản bằng cách học vẹt, ….
Một trong những nhiệm vụ mà các trƣờng đại học luật đƣợc giao là đào tạo sinh viên tốt nghiệp thành những ngƣời đáp ứng tiêu chuẩn cao về đạo đức xã hội, nhu cầu của cộng đồng và thực hiện các chức năng xã hội của họ một cách phù hợp. Đạo đức phải đƣợc rèn luyện trong thời gian tự học. Không thể sử dụng cùng một hệ thống quản lý tự học cho tất cả sinh viên luật. Với các tổ chức giáo dục luật dân sự, quy định giờ học trên lớp cho theo lịch trình, với các hoạt động tự học đƣợc thực hiện giữa các lần.
Cách tiếp cận này cho phép sinh viên có đƣợc khả năng lên lịch cho các hoạt động học tập của họ, cùng với các biện pháp tự quản lý và tự kiểm soát đƣợc sử dụng một cách thích hợp. Đối với các tổ chức giáo dục luật quân sự, các hoạt động của họ đƣợc tổ chức tƣơng tự nhƣ các hoạt động của các cơ sở quân đội, tức là các hoạt động và hành vi của sinh viên đƣợc kiểm soát chặt chẽ hơn. Đối với các hoạt động tự học, các sinh viên chỉ đƣợc phép sắp xếp thời gian rảnh rỗi theo quy định của tổ chức hoặc quy tắc ứng xử. Quản lý hoạt động tự học của sinh viên gồm các hoạt động thiết kế nội 10 dung của từng môn học cụ thể; sắp xếp khối lƣợng công việc sinh viên theo giờ; xây dựng mục tiêu cho từng mô hình hoạt động tự học; phát triển bài tập tự học; phản hồi thích hợp; giám sát các hoạt động tự học, với kết quả đƣợc kiểm tra; thiết kế các hƣớng dẫn thực hành dành cho các hoạt động tự học (Kucheryaviy A.
Tại Việt Nam Chủ tịch Hồ Chí Minh (1890-1969), lãnh tụ thiên tài của Đảng và nhân dân Việt Nam. Cuộc đời của Ngƣời là tấm gƣơng sáng về tinh thần tự học. Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên hợp quốc (UNESCO) đã tôn vinh Ngƣời là Anh hùng giải phóng dân tộc và Nhà văn hóa kiệt xuất của Việt Nam (Unesco, 1987, tr. Ngƣời không chỉ để lại cho dân tộc ta một sự nghiệp vĩ đại, mà còn để lại một di sản tinh thần vô giá, đó là tƣ tƣởng Hồ Chí Minh.
Đặc biệt, tƣ tƣởng về giáo dục của Ngƣời đến nay vẫn mang hơi thở của thời đại. Bác dặn học hỏi là một việc phải tiếp tục suốt đời. Suốt đời phải gắn liền lý luận với công tác thực tế. Không ai có thể tự cho mình đã biết đủ rồi, biết hết rồi.
Thế giới ngày ngày đổi mới, nhân dân ta ngày càng tiến bộ, cho nên chúng ta phải tiếp tục học và hành để tiến bộ kịp nhân dân (Hồ Chí Minh, 2000, tr. Trong tác phẩm sửa đổi lề lối làm việc, Ngƣời nhấn mạnh: “Lấy tự học làm cốt” (X.68), và "không phải có thầy thì học, thầy không đến thì đùa, phải biết tự động học tập”, "học ở trƣờng, học ở sách vở, học hỏi lẫn nhau và học ở nhân dân" (Hồ Chí Minh, 2011, tr. Nguyễn Hiến Lê (1912–1984) là một nhà văn, dịch giả, nhà ngôn ngữ học, nhà giáo dục và hoạt động văn hóa độc lập. Theo Ông thì “tự học là một nhu cầu tự nhiên của loài ngƣời.
Tự học là không ai bắt buộc mà tự mình tìm tòi, học hỏi để hiểu biết thêm. Ngƣời tự học hoàn toàn làm chủ mình, muốn học môn nào tùy ý, muốn học lúc nào cũng đƣợc: đó mới là điều kiện quan trọng” (Nguyễn Hiến Lê, 1954, tr. Nguyễn Cảnh Toàn, là một nhà Toán học, nhà Quản lý giáo dục và một Thầy giáo mẫu mực, trong tuyển tập “Tự giáo dục, Tự học, Tự nghiên cứu-Tập 1” (Nguyễn Cảnh Toàn, 2001), ông nêu quan điểm: khả năng tự giáo dục, tự học, tự 11 nghiên cứu là tài nguyên quý giá, tiềm ẩn trong bất cứ ngƣời nào (trừ ngƣời bị bệnh tâm thần). Giáo dục đƣợc coi nhƣ một ngoại lực tác động lên ngƣời học, phải tạo đƣợc sự cộng hƣởng với nội lực là khả năng tự giáo dục, tự học, tự nghiên cứu.
Đƣợc nhƣ thế thì học một, biết mƣời…” (Nguyễn Cảnh Toàn, 2001, tr.