Chương 1: Một số vấn đề lí luận nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ nguồn địa chính xã, phường, thị trấn. Chương 2: Chất lượng của đội ngũ cán bộ nguồn địa chính xã, phường, thị trấn thành phố Hà Nội. Chương 3: Những giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao chất lượng cán bộ nguồn địa chính xã, phường, thị trấn thành phố Hà Nội. 7 CHƢƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN NÂNG CAO CHẤT LƢỢNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ NGUỒN ĐỊA CHÍNH XÃ, PHƢỜNG, THỊ TRẤN THÀNH PHỐ HÀ NỘI 1.
Khái niệm, vai trò đội ngũ công chức nguồn địa chính xã, phường, thị trấn 1. Khái niệm Khái niệm CBCC cấp XPTT được quy định tại Khoản 3 Điều 4 Luật CBCC ngày 13/11/2008 như sau: “Cán bộ xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là cấp xã) là công dân Việt Nam, được bầu cử giữ chức vụ theo nhiệm kỳ trong Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Bí thư, Phó Bí thư Đảng ủy, người đứng đầu tổ chức chính trị - xã hội; công chức cấp xã là công dân Việt Nam được tuyển dụng giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước”. Điều 1 thông tư 06 ngày 30/10/2012 của Bộ nội vụ “hướng dẫn về chức trách, tiêu chuẩn cụ thể, nhiệm vụ và tuyển dụng công chức XPTT” có nêu rõ chức trách của công chức xã, phường, thị trấn: “Công chức xã, phường, thị trấn (xã, phường, thị trấn sau đây gọi chung là cấp xã) làm công tác chuyên môn thuộc biên chế của Ủy ban nhân dân cấp xã, có trách nhiệm tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân cấp xã thực hiện chức năng QLNN về lĩnh vực công tác được phân công và thực hiện các nhiệm vụ khác do Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã giao”. Tạo nguồn CBCC được hiểu là công tác phát hiện sớm nguồn cán bộ, công chức trẻ có tài, có đức, có triển vọng đưa vào quy hoạch để từ đó xây dựng nên chương trình ĐTBD để tạo nguồn các chức danh công chức nhằm thay thế đội ngũ CBCC đến tuổi về hưu để đáp ứng nhiệm vụ chính trị trước mắt và lâu dài của từng địa phương.
Đội ngũ này cần có chuyên môn, năng lực, trình độ và phẩm chất phù hợp và được lựa chọn để đào tạo và bố trí công tác. Đội ngũ CCNĐC là một trong 8 số cán bộ được lựa chọn để đào tạo bổ sung và thay thế đội ngũ công chức địa chính trước đó. Do đó, cán bộ nguồn địa chính XPTT là công chức địa chính làm việc tại bộ phận địa chính XPTT và làm công tác tham mưu giúp UBND XPTT thực hiện việc QLNN về TN&MT trong phạm vi XPTT chịu sự chỉ đạo, kiểm tra, hướng dẫn chuyên môn nghiệp vụ của Sở TN&MT và Phòng TN&MT. Đội ngũ này thuộc một trong 7 chức danh công chức chuyên môn nghiệp vụ thuộc UBND XPTT (quy định tại khoản 2 điều 3 Nghị định 92/2009/NĐ-CP ngày 22/10/2009), giúp UBND cấp xã thực hiện nhiệm vụ QLNN về TN&MT trong phạm vi địa phương của mình.
Nhiệm vụ, vai trò QLNN về đất đai là một lĩnh vực hết sức quan trọng và phức tạp ở địa phương do đó đòi hỏi nhiệm vụ của người cán bộ nguồn địa chính XPTT khá nặng nề. Về nhiệm vụ của công chức địa chính – xây dựng được quy định rõ tại Điều 6 thông tư 06 của Bộ nội vụ ngày 30/10/2012. Để làm tốt chức trách của mình, người cán bộ nguồn địa chính XPTT phải thực hiện tốt các nhiệm vụ sau: - Nắm vững thông tin và có kỹ năng viết báo cáo để xây dựng các báo cáo về đất đai, địa giới hành chính, TNMT, công tác xây dựng, xây dựng nông thôn mới, giải phóng mặt bằng… trên địa bàn theo quy định của pháp luật. Công việc này đồng nghĩa với việc phải biết thu thập thông tin, lập sổ sách, tổng hợp số liệucác tài liệu liên quan tới chuyên môn địa chính.
- Người cán bộ nguồn địa chính cấp XPTT đồng thời cũng là người phải biết tổ chức vận động người dân áp dụng các tiến bộ KHKT vào sản xuất, bảo vệ môi trường trên địa bàn cấp XPTT. - Một nhiệm vụ quan trọng của người cán bộ địa chính xã là giám sát về kỹ thuật đối với các công trình xây dựng thuộc thẩm quyền quản lý của UBND cấp XPTT Nhiệm vụ này đòi hỏi người cán bộ nguồn địa chính phải am hiểu về lĩnh vực xây dựng đảm bảo đúng tiến độ, chất lượng và tiết kiệm. - Trong quá trình làm việc, cán bộ nguồn địa chính phải chủ động, phối hợp 9 với CBCC khác để thực hiện thủ tục tiếp nhận hồ sơ, thẩm tra hồ sơ, xác nhận nguồn gốc đất, hiện trạng đăng ký đất đai và việc SDĐ đai, tình trạng tranh chấp về đất đai. Đây là một khâu quan trong quá trình cấp GCN quyền SDĐ cho các hộ gia đình, cá nhân.
Đồng thời, theo dõi những biến động đất đai trên địa bàn phục vụ đăng ký biến động đất đai. Bên cạnh đó, tham gia hoà giải tranh chấp, tiếp nhận đơn thư KNTC của người dân về đất đai, giúp UBND cấp có thẩm quyền giải quyết cũng là một trong các nhiệm vụ quan trọng của CCNĐC XPTT; đòi hỏi CCNĐC ngoài các hiểu biết về chuyên môn nghiệp vụ còn phải có các kỹ năng giao tiếp, tiếp công dân tốt nhằm tạo ấn tượng tốt trong lòng người dân. Hơn nữa, KN thu thập thông tin, dữ liệu từ bản đồ cũng là một trong những kỹ năng cần thiết đòi hỏi đội ngũ này cần nắm bắt tốt. - Ngoài ra, cán bộ nguồn địa chính sẽ phải thực hiện các nhiệm vụ khác theo quy định và do lãnh đạo quản lý giao.
Thông qua việc làm tốt các nhiệm vụ trên, đội ngũ này cũng thể hiện vai trò trọng yếu trong hệ thống CBCC XPTT và trong việc phục vụ công dân. Do đó có thể thấy vị trí, vai trò của CCNĐC như sau: - Trong bộ máy chính quyền cấp cơ sở, CCNĐC là một bộ phận không thể thiếu trong hệ thống CBCC XPTT – là cầu nối cần thiết và quan trọng nhất giữa Đảng, nhà nước với người dân. - Đối với việc triển khai chủ trương, chính sách pháp luật của Đảng và Nhà nước, CCNĐC là người đóng vai trò quyết định trong việc hiện thực hoá việc lãnh đạo của Đảng và QLNN về đất đai ở cơ sở. Quán triệt các về đề và tổ chức thực hiện các quyết định của cấp trên, cũng như kế hoạch, chương trình của chính quyền cấp xã; tham mưu cho chủ tịch UBND cấp xã về: thu hồi, cho thuê, chuyển quyền SDĐ, cấp GCN quyền SDĐ, chuyển mục đích SDĐ; thực hiện việc đăng ký, lập và quản lý HSĐC; theo dõi, quản lý biến động đất đai; chỉnh lý HSĐC; thống kê, kiểm kê đất; hòa giải, giải quyết các tranh chấp, khiếu nại về đất đai.
Đặc biệt là hiện nay khi các vấn đề về đất đai đang trở thành điểm nóng, nhiều khiếu kiện, tố cáo liên quan đến công tác bồi thường, GPMB, tranh chấp đất đai.đòi hỏi chuyên môn 10 cao cũng như sự nhiệt huyết của người CCNĐC. - Đối với công dân, CCNĐC là người đáp ứng và cung cấp dịch vụ cho công dân trong lĩnh vực chuyên môn. Đồng thời là người trực tiếp tuyên truyền phổ biến chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước về lĩnh vực TN&MT cho dân. Tiên phong thực hiện và vận động nhân dân thực hiện chủ trương, chính sách, pháp luật đó.
Đồng thời, phản ánh tâm tư, nguyện vọng, ý kiến của nhân dân về lĩnh vực chuyên môn lên các cơ quan cấp trên để kịp thời đề ra các chủ trương, chính sách đúng đắn. Chính vì vậy, CCNĐC XPTT cũng có vai trò quan trọng trong tập hợp khối đại đoàn kết toàn dân ở cơ sở, phát huy tính tự quản của cộng đồng do đều là người tiếp xúc trực tiếp với nhân dân hàng ngày, am hiểu tập quán, phong tục, truyền thống của địa phương. Chất lƣợng đội ngũ công chức nguồn địa chính xã, phƣờng, thị trấn 1. Khái niệm chất lượng đội ngũ CCNĐC Để đánh giá chất lượng (hay năng lực) của một cá nhân trong mỗi một tập thể, một môi trường làm việc có rất nhiều tiêu chí và phương pháp đánh giá khác nhau cũng như nhiều cách định nghĩa chất lượng khác nhau.
Để đánh giá tổng quát các nhà nghiên cứu đã xây dựng mô hình năng lực để đánh giá, nó là sự mô tả tổ hợp các kiến thức, kỹ năng và đặc điểm cá nhân cần để hoàn thành tốt công việc. Mô hình đánh giá năng lực được ứng dụng phổ biến nhất hiện nay là mô hình ASK. Sơ đồ mô hình ASK Nguồn: internet 11 Mô hình này đưa ra các tiêu chuẩn cho các chức danh công việc trong tổ chức dựa theo 3 nhóm tiêu chuẩn chính: Phẩm chất hay thái độ (Attitude), Kỹ năng (Skills) và Kiến thức (Knowledges). Nhìn chung, năng lực được định nghĩa là tập hợp của kiến thức, kỹ năng, phẩm chất của một cá nhân được biểu hiện thông qua hành vi cụ thể để đạt hiệu năng cao trong công việc mà cá nhân đó đảm nhiệm, phụ trách.
Trong khu vực công, năng lực được nhìn nhận là các yếu tố giúp CBCCVC thực thi nhiệm vụ với sự hài lòng của người dân và tổ chức. Trong đó Thái độ (Attitudes) là quan điểm, ý thức hay phần nào đó là tính cách của người thực thi. Đây là yếu tố vô cùng quan trọng tạo nên năng lực thực sự và trọn vẹn. Hai người có cùng kỹ năng và kiến thức thì thái độ sẽ tạo ra sự khác biệt.
Cụ thể, cùng đối mặt với một vấn đề, một số người sẽ nhìn ra cơ hội, một số khác chỉ thấy thách thức. Thái độ là yếu tố đóng vai trò quyết định (trong số ba yếu tố cấu thành năng lực) thành công dài hạn hay phát triển bền vững của tổ chức. Kỹ năng (Skills) là yếu tố tạo ra sự khác biệt trong những tình huống, công việc cụ thể. Kỹ năng bao gồm kinh nghiệm và mức độ thành thạo trong xử lý công việc.
Kỹ năng chính là biểu hiện cao nhất của việc áp dụng kiến thức hay kinh nghiệm đã học hỏi, tích lũy được vào thực tiễn. Theo thời gian, kỹ năng có thể trở thành phản xạ có điều kiện. Đây chính là năng lực thực hiện các công việc, biến kiến thức thành hành động. Kỹ năng có thể xem xét ở 2 lĩnh vực: kỹ năng cứng và kỹ năng mềm.
Kiến thức (Knowledge) là nhận thức về quy luật vận động của thế giới xung quanh. Khái niệm kiến thức khá rộng.