phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung của luận văn bao gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở khoa học về chất lƣợng cán bộ, công chức của Ủy ban nhân dân quận Chƣơng 2: Thực trạng chất lƣợng đội ngũ cán bộ, công chức của Ủy ban nhân dân quận Hoàn Kiếm, Thành phố Hà Nội Chƣơng 3: Mục tiêu, quan điểm và một số giải pháp nâng cao chất lƣợng đội ngũ CBCC của UBND quận Hoàn Kiếm, Thành phố Hà Nội. Luan van Chƣơng 1 CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ CHẤT LƢỢNG CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CỦA ỦY BAN NHÂN DÂN QUẬN 1. Cán bộ, công chức của Ủy ban nhân dân quận 1. Khái niệm cán bộ, công chức Trong khoa học hành chính và đời sống xã hội, theo các cách tiếp cận khác nhau có những quan niệm khác nhau về các thuật ngữ CBCC.
Khái niệm cán bộ Thuật ngữ cán bộ thƣờng đƣợc dùng khá phổ biến trong xã hội. Trên thế giới, thuật ngữ “cán bộ” đƣợc sử dụng khá lâu tại các nƣớc XHCN, bao hàm một phạm vi rộng, gồm những ngƣời làm việc trong các cơ quan, đơn vị thuộc khu vực nhà nƣớc, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội. Tuy nhiên, xác định cụ thể những tiêu chí nào là cán bộ thì đến nay chƣa có văn bản nào quy định chính thức. Ở Việt Nam, theo cách hiểu thông thƣờng trƣớc đây, cán bộ là những ngƣời tham gia cách mạng, làm việc trong các cơ quan Đảng, Nhà nƣớc, đoàn thể, quân đội, công an và đƣợc hƣởng lƣơng từ ngân sách nhà nƣớc.
Theo Từ điển Tiếng Việt, cán bộ có hai nghĩa: thứ nhất, cán bộ là ngƣời làm công tác có nghiệp vụ chuyên môn trong các cơ quan nhà nƣớc; Thứ hai, là ngƣời làm công tác có chức vụ trong một cơ quan, một tổ chức, phân biệt với ngƣời thƣờng, không có chức vụ. Tại điều 4, khoản 1 và khoản 3, Luật cán bộ, công chức năm 2008 quy định: “Cán bộ là công dân Việt Nam, đƣợc bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nƣớc, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ƣơng, ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ƣơng, ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, trong biên chế và hƣởng lƣơng từ ngân sách nhà nƣớc. Luan van Vậy cán bộ theo nghĩa cơ bản nhất, đó là những ngƣời lãnh đạo, dẫn dắt quần chúng, tổ chức điều hành công việc, là hạt nhân của một tổ chức, là nòng cốt của một phong trào. Cán bộ không chỉ là khâu then chốt trong công tác xây dựng Đảng mà còn là mắt xích trọng yếu trong toàn bộ hoạt động của Đảng ta, là nhân tố quyết định sự thành công của cách mạng.
Vì: “Cán bộ là ngƣời đem chính sách của Đảng, của Chính phủ giải thích cho dân chúng hiểu rõ và thi hành. Đồng thời đem tình hình của dân chúng báo cáo cho Đảng, cho Chính phủ hiểu rõ để đặt chính sách cho Đảng. Cán bộ là cái gốc của mọi công việc nên huấn luyện cán bộ là công việc gốc của Đảng” (Hồ Chí Minh toàn tập, tập 5, tr. Căn cứ xác định cán bộ gắn với cơ chế bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ.
Hoạt động của cán bộ luôn gắn với quyền lực chính trị đƣợc nhân dân, các thành viên trong tổ chức trao cho và chịu trách nhiệm chính trị trƣớc Đảng, Nhà nƣớc và nhân dân. Cán bộ trong cơ quan của Đảng, Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị - xã hội do cơ quan có thẩm quyền của Đảng quy định. Cán bộ trong cơ quan nhà nƣớc do Quốc hội, Ủy ban Thƣờng vụ Quốc hội và Chính phủ quy định thông qua các văn bản luật và dƣới luật. Khái niệm công chức Khái niệm công chức trên thế giới xuất hiện cùng với sự ra đời của chế độ công chức ở các nƣớc tƣ bản phƣơng Tây từ nửa cuối thế kỷ XIX, đánh dấu bƣớc phát triển quan trọng của lịch sử các tổ chức nhà nƣớc.
Tuy vậy, mỗi quốc gia có quan niệm khác nhau về công chức. Ở Cộng hoà Pháp: Công chức là những ngƣời đƣợc tuyển dụng, bổ nhiệm vào làm việc trong các công sở gồm các cơ quan hành chính công quyền và các tổ chức dịch vụ công cộng do Nhà nƣớc tổ chức, bao gồm cả Trung ƣơng và địa phƣơng, nhƣng không kể đến các công chức địa phƣơng thuộc các hội đồng địa phƣơng quản lý. Luan van Ở Vƣơng quốc Anh, khái niệm công chức bao hàm những nhân viên làm việc trong ngành hành chính, ví dụ nhƣ nội chính và ngoại giao. Ở Hợp chủng quốc Hoa Kỳ, tất cả những nhân viên trong bộ máy hành chính của Chính phủ đƣợc gọi chung là công chức.
Các nghị sĩ Quốc hội (thƣợng nghĩ sĩ, hạ nghị sĩ) và những ngƣời làm việc trong Quốc hội đều không phải là công chức. Nhƣ vậy, không có một khái niệm thống nhất về công chức, nhƣng có điểm chung, công chức là những công dân đƣợc tuyển dụng, bổ nhiệm giữ một chức danh, thừa hành một công vụ trong cơ quan nhà nƣớc, đƣợc xếp vào một ngạch, hƣởng lƣơng từ ngân sách nhà nƣớc và chịu sự điều chỉnh của pháp luật. Ở Việt Nam, khái niệm công chức xuất hiện lần đầu tiên khi Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 76/SL, ngày 20-5-1950 về Quy chế công chức. Điều 1 của Sắc lệnh này quy định: “Những công dân Việt Nam đƣợc chính quyền nhân dân tuyển dụng, giao giữ một chức vụ thƣờng xuyên trong các cơ quan Chính phủ, ở trong hay ở ngoài nƣớc đều là công chức theo Quy chế này, trừ những trƣờng hợp riêng biệt do Chính phủ quy định”.
Công chức theo Quy chế này giới hạn trong phạm vi rất hẹp, chỉ có trong các cơ quan của Chính phủ. Tuy nhiên, do chiến tranh và nhiều nguyên nhân khác, Quy chế này không đƣợc phổ biến, khái niệm công chức rất ít sử dụng mà thay vào đó là thuật ngữ “cán bộ, công nhân, viên chức”, không có sự phân biệt cụ thể ai là cán bộ, công chức, công nhân, viên chức. Trƣớc yêu cầu của thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập quốc tế và xây dựng Nhà nƣớc pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; Quốc hội nƣớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XII, Kỳ họp thứ 4, ngày 13/11/2008 đã thông qua Luật cán bộ, công chức. Khoản 2, Điều 4 Luật cán bộ, công chức quy định về công chức nhƣ sau: “Công chức là công dân Việt Nam, đƣợc tuyển dụng, bổ nhiệm vào Luan van ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nƣớc, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ƣơng, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nƣớc, tổ chức chính trị - xã hội, trong biên chế và hƣởng lƣơng từ ngân sách nhà nƣớc; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lƣơng đƣợc bảo đảm từ quỹ lƣơng của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật.
Việc quy định công chức trong phạm vi nhƣ vậy xuất phát từ mối quan hệ liên thông giữa các cơ quan của Đảng, Nhà nƣớc và tổ chức chính trị xã hội trong hệ thống chính trị. Đây là điểm đặc thù của Việt Nam rất khác so với một số nƣớc trên thế giới nhƣng lại hoàn toàn phù hợp với điều kiện cụ thể và thể chế chính trị ở Việt Nam. Tóm lại, công chức là công dân Việt Nam, đƣợc tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh, trong biên chế, hƣởng lƣơng từ ngân sách nhà nƣớc hoặc đƣợc bảo đảm từ quỹ lƣơng của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật, làm việc trong các cơ quan, tổ chức, đơn vị của Đảng, Nhà nƣớc, tổ chức chính trị- xã hội và bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập. Những đặc điểm cơ bản của cán bộ, công chức của Ủy ban nhân dân quận CBCC của UBND quận trƣớc hết cũng phải hội tụ đủ những điều kiện là CBCC nhƣng làm việc trong bộ máy hành chính nhà nƣớc ở quận.
Do tính chất đặc thù của công việc, CBCC của UBND quận có những đặc điểm cơ bản sau đây: Thứ nhất, CBCC của UBND quận là những ngƣời làm việc trong cơ Luan van quan HCNN và phải chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật của Nhà nƣớc: Luật Cán bộ, công chức; Bộ luật Lao động; Bộ luật Dân sự,. Trong đó, CBCC của UBND quận không những là ngƣời chấp hành luật và các văn bản QPPL của cơ quan nhà nƣớc cấp trên mà còn là ngƣời thực thi và bảo vệ pháp luật. Họ là những ngƣời thuộc phạm vi điều chỉnh trực tiếp của Luật cán bộ, công chức và hệ thống luật pháp có liên quan, nhƣ Luật Hành chính, Luật Phòng chống tham nhũng, Luật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí… CBCC của UBND quận là ngƣời thực hiện quyền lực của nhà nƣớc, giám sát, kiểm tra đối với các lĩnh vực hoạt động trên địa bàn quận, từ phát triển kinh tế, văn hóa, y tế, xã hội, xây dựng chính quyền địa phƣơng, phát triển dịch vụ công đáp ứng tốt nhu cầu của ngƣời dân trên địa bàn quận. Do đó, việc thực thi công vụ của CBCC của UBND quận có tính pháp lý cao và phải tuân thủ đầy đủ các quy định của pháp luật.
Thứ hai, địa bàn hoạt động của CBCC của UBND quận không rộng nhƣng thƣờng rất phức tạp, đòi hỏi sự sâu sát của CBCC của UBND quận. Trên địa bàn một quận thƣờng có rất nhiều tổ chức, ngành nghề cùng hoạt động, lĩnh vực sản xuất, kinh doanh cũng rất đa dạng. Thành phần dân cƣ sinh sống tại các quận hiện nay thƣờng cũng rất phức tạp, ngƣời tạm trú khá đông. Đây là điều kiện dễ làm phát sinh các tệ nạn xã hội, gây mất trật tự an toàn trên địa bàn.
Thứ ba, CBCC của UBND quận có mối quan hệ công tác phức tạp với các cơ quan nhà nƣớc cấp trên, với các lãnh đạo UBND quận, các phòng ban thuộc UBND quận. Trên địa bàn hoạt động của UBND quận, CBCC còn phải có quan hệ hệ nghiệp vụ với cơ quan nhà nƣớc khác, nhƣ thuế, quản lý thị trƣờng và ngƣời dân buôn bán nhỏ.