CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ, CÔNG CHỨC, VIÊN CHỨC TẠI CÁC CƠ QUAN CHUYÊN MÔN THUỘC ỦY BAN NHÂN DÂN HUYỆN 1. Tổng quan lý luận về nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức tại các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân huyện 1. Khái niệm đội ngũ cán bộ công chức, viên chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân huyện 1. Khái niệm cán bộ Tại Khoản 1, Điều 4, Luật cán bộ, công chức năm 2008 quy định: “Cán bộ là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong các cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh), ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cấp huyện) trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước”[34].
Căn cứ xác định cán bộ gắn với cơ chế bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ. Hoạt động của cán bộ luôn gắn với quyền lực chính trị được nhân dân, các thành viên trong tổ chức trao cho và chiụ trách nhiệm chính trị trước Đảng, Nhà nước và nhân dân. Cán bộ trong cơ quan của Đảng, Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị - xã hội do cơ quan có thẩm quyền của Đảng quy định. Cán bộ trong cơ quan nhà nước do Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội và Chính phủ quy định thông qua các văn bản luật và dưới luật.
7 Vậy cán bộ theo nghĩa cơ bản nhất đó chính là những người lãnh đạo, dẫn dắt quần chúng, tổ chức điều hành công việc, là hạt nhân của một tổ chức, là nòng cốt của một phong trào. Cán bộ không chỉ là khâu then chốt trong công tác xây dựng Đảng mà còn là mắt xích trọng yếu trong toàn bộ hoạt động của Đảng ta, là nhân tố quyết định sự thành công của cách mạng. Trong từng giai đoạn cách mạng, người cán bộ luôn có một vị trí hết sức quan trọng. Có được những người cán bộ tốt, cán bộ giỏi đó là các phúc của Đảng, của dân tộc; nó làm cho các chủ trương, quyết sách của Đảng, của Nhà nước được thể hiện một cách đúng đắn, chính xác và việc triển khai được thông suốt, đạt hiệu quả cao, hoàn thành sự nghiệp cách mạng mà Đảng và nhân dân giao phó.
Còn ngược lại, nó có thể làm trì hoãn hoặc thất bại sự nghiệp cách mạng. Khái niệm công chức Theo luật số: 52/2019/QH14, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Cán bộ, công chức và Luật Viên chức: “Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh tương ứng với vị trí việc làm trong cơ quan của Đảng Cộng Sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan đơn vị thuộc quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan đơn vị thuộc công an nhân dân mà không phải sĩ quan, hạ sĩ quan phục vụ theo chế độ chuyên nghiệp, công nhân công an trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước”[35]. Công chức trong các cơ quan của Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội, bộ máy lãnh đạo, quản lý đơn vị sự nghiệp công lập, lực lượng vũ trang đã được quy định cụ thể tại Nghị định số 06/2010/NĐ-CP ngày 25/01/2010 của Chính phủ và Thông tư 08/2011/TT-BNV ngày 02/6/2011 của Bộ Nội vụ hướng dẫn một số điều của Nghị định số 06/2010/NĐ-CP ngày 25/01/2010 của Chính phủ về việc quy định những người là công chức. Theo Điều 2, Nghị định số 06/2010/NĐ-CP ngày 25/01/2010 của Chính phủ quy định: “Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh, trong biên chế, hưởng lương từ ngân sách nhà nước 8 hoặc được đảm bảo từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật, làm việc trong các cơ quan, tổ chức, đơn vị theo quy định tại Nghị định này”[6].
Khái niệm viên chức Với các quy định để phân biệt và xác định cán bộ, công chức, từ ngày 01/01/2010, những người làm việc trong các đơn vị sự nghiệp công lập đã không thuộc phạm vi điều chỉnh của pháp luật về cán bộ, công chức mà do Luật viên chức năm 2010 điều chỉnh, những người này được gọi là viên chức. Đây là những người mà hoạt động của họ nhằm cung cấp các dịch vụ cơ bản, thiết yếu cho người dân như giáo dục, đào tạo, y tế, an sinh xã hội, hoạt động khoa học, văn hóa, nghệ thuật, thể dục, thể thao. Những hoạt động này không nhân danh quyền lực chính trị hoặc quyền lực công, không phải là các hoạt động quản lý nhà nước mà chỉ thuần tuý mang tính nghề nghiệp gắn với nghiệp vụ, chuyên môn. Tại Điều 2, Luật Viên chức năm 2010, quy định: “Viên chức là công dân Việt Nam được tuyển dụng theo vị trí việc làm, làm việc tại đơn vị sự nghiệp công lập theo chế độ hợp đồng làm việc, hưởng lương từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật”[36].
Khái niệm đội ngũ cán bộ công chức, viên chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp huyện Cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp huyện gồm có phòng và cơ quan tương đương phòng (sau đây gọi chung là phòng). Phòng có chức năng tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân cấp huyện quản lý nhà nước về ngành, lĩnh vực ở địa phương và thực hiện một số nhiệm vụ, quyền hạn theo sự ủy quyền của Ủy ban nhân dân cấp huyện và theo quy định của pháp luật; góp phần bảo đảm sự thống nhất quản lý của ngành hoặc lĩnh vực công tác ở địa phương. Phòng chịu sự chỉ đạo, quản lý về tổ chức, vị trí việc làm, biên chế công chức, cơ cấu ngạch công chức và công tác của Ủy ban nhân dân cấp huyện, đồng thời chịu sự chỉ đạo, kiểm tra, hướng dẫn về chuyên môn nghiệp vụ của cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh. Từ những khái niệm về cán bộ, công chức, viên chức và cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp huyện, có thể hiểu đội ngũ cán bộ công chức, viên chức các 9 cơ quan chuyên môn thuộc UBDN cấp huyện là những người làm việc trong các phòng chuyên môn thuộc UBDN huyện, bao gồm trưởng phòng, các phó trưởng phòng và nhân viên được tuyển dụng theo vị trí việc làm tại các phòng chuyên môn.
Đặc điểm cơ bản của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp huyện Cán bộ, công chức, viên chức của các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp huyện trước hết cũng phải hội tụ đủ những điều kiện là cán bộ, công chức, viên chức, nhưng họ là những người làm việc trong bộ máy hành chính nhà nước ở cấp huyện. Do tính chất đặc thù của công việc, cán bộ, công chức, viên chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp huyện có những đặc điểm cơ bản sau: - Thứ nhất, cán bộ, công chức, viên chức của các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp huyện là những người làm việc trong cơ quan hành chính nhà nước, các đơn vị sự nghiệp trực thuộc UBND huyện và phải chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật của Nhà nước: Luật Cán bộ, công chức; Luật viên chức; Bộ luật Lao động; Bộ luật Dân sự…Đồng thời, cán bộ, công chức, viên chức của các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp huyện vừa là người chấp hành luật và các văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên, vừa là người thực thi và bảo vệ pháp luật. Họ là đối tượng thuộc phạm vi điều chỉnh trực tiếp của Luật Cán bộ, công chức; Luật viên chức và hệ thống pháp luật có liên quan như Luật Hành chính, Luật Phòng chống tham nhũng, Luật thực hành tiết kiệm, chống lãng phí… Cán bộ, công chức, viên chức làm việc tại các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp huyện là những người thực hiện quyền lực của Nhà nước; giám sát, kiểm tra đối với các lĩnh vực hoạt động, có vai trò quan trọng trong việc thực hiện các nhiệm vụ, mục tiêu phát triển, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh và nhiệm vụ quản lý nhà nước trên địa bàn huyện. Bên cạnh đó, đỗi ngũ cán bộ, công chức, viên chức UBND huyện có nhiệm vụ xây dựng chính quyền địa phương, phát triển dịch vụ công đáp ứng tốt nhu cầu của người dân trên địa bàn huyện.
Do đó, việc thực thi công vụ của cán bộ, công chức, viên chức có tính pháp lý cao và phải tuân thủ đầy đủ các quy định của pháp luật. 10 - Thứ hai, cán bộ, công chức, viên chức của các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp huyện có mối quan hệ phức tạp với cơ quan nhà nước các cấp; mối quan hệ công tác với các lãnh đạo UBND cấp huyện, các đơn vị thuộc UBND cấp huyện và các cơ quan, đơn vị đóng trên địa bàn huyện. Như vậy, khi thực thi công vụ, cán bộ, công chức, viên chức của các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp huyện đồng thời phải giải quyết nhiều mối quan hệ khác nhau nên đòi hỏi sự khéo léo, kỹ năng giao tiếp và kỹ năng hành chính trong việc thực thi công vụ. - Thứ ba, về trình độ, năng lực và kỹ năng làm việc của cán bộ, công chức, viên chức tại các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp huyện là lực lượng lao động chuyên nghiệp, có tính chuyên môn hóa cao.
Các cơ quan nhà nước từ Trung ương đến địa phương được tổ chức theo những nguyên tắc nhất định nhằm thực hiện quyền hành pháp của Nhà nước để điều hành, quản lý các lĩnh vực của đời sống xã hội theo pháp luật và bằng pháp luật, vì lợi ích của Nhà nước và của toàn xã hội, nhằm đảm bảo cho xã hội ổn định và phát triển. Với chức năng đó, bộ máy nhà nước đòi hỏi phải có đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức mang tính chất chuyên nghiệp, là những người thực thi công vụ thường xuyên, liên tục, có trình độ chuyên môn và được đào tạo, bồi dưỡng về kỹ năng, nghiệp vụ ở các mức độ khác nhau. Đồng thời, qua thực tiễn hoạt động, họ chính là lực lượng sáng tạo pháp luật, tham mưu đề xuất những chủ trương, chính sách, pháp luật quản lý và phát triển xã hội, đất nước.