chương 1 như sau: “Cán bộ là công dân Việt Nam được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị xã hội ở trung ương, ở huyện, quận, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách Nhà nước. Công chức là công dân Việt Nam được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị xã hội ở trung trong, cấp tỉnh, huyện, trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng, những cơ quan đơn vị thuộc công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách Nhà nước; Đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật ” [31]. Từ những quy định của Luật cán bộ, công chức, các Nghị định của Chính phủ và văn bản hướng dẫn của Bộ Nội vụ, bước đầu xin đưa ra khái niệm về công chức hành chính như sau: “Công chức hành chính nhà nước là công dân Việt Nam, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước được bổ nhiệm vào một ngạch công 13 chức hành chính giao giữ một công vụ thường xuyên trong các cơ quan nhà nước ở trong, cấp tỉnh, cấp huyện, thực hiện quản lý nhà nước trên các lĩnh vực của đời sống xã hội, thực thi quyền hành pháp, sử dụng quyền lực nhà nước để thực thi công vụ đảm bảo và phát huy quyền làm chủ của nhân dân” - Công chức hành chính nhà nước là những người làm việc trong hệ thống các cơ quan hành pháp ở Trung ương và cấp tỉnh, cấp huyện, họ có trách nhiệm phục vụ nhà nước, phục vụ nhân dân thi hành các chính sách pháp luật, thực hiện việc quản lý nhà nước, quản lý xã hội dựa trên sự uỷ thác quyền lực của nhà nước. Như vậy công chức hành chính là những người được quy định theo khoan 1 điều 4 của Luật Cán bộ, công chức, nhưng chỉ gồm một bộ phận những người được xếp vào ngạch hành chính.
- Ngạch công chức hành chính là ngạch dùng cho các công chức làm những công việc về hành chính nhà nước. Nó được áp dụng cho tất cả các cơ quan, công sở nhà nước có loại công chức chuyên môn này. - Công chức hành chính được giao thẩm quyền quản lý nhà nước, thực hiện chức năng quản lý nhà nước theo chức trách được giao. Công chức hành chính là những người thực thi công vụ trong bộ máy hành chính nhà nước, là một bộ phận quan trọng trong công cuộc cải cách hành chính.
Theo quy định của Luật Cán bộ, công chức, giữa cán bộ hành chính và công chức hành chính có các điểm chung: là công dân Việt Nam, đang làm việc trong các cơ quan hành chính, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước. Sự khác biệt giữa cán bộ hành chính và công chức hành chính thể hiện ở chỗ: cán bộ hành chính là những người do bầu cử để đảm nhiệm chức vụ theo nhiệm kỳ; còn công chức hành chính là những người được tuyển dụng, bổ nhiệm vào một ngạch công chức hoặc được giao giữ một chức vụ thường xuyên. Theo đó, có thể xác định: Cán bộ hành chính gồm những người được bầu cử để đảm nhiệm chức vụ theo nhiệm kỳ trong các cơ quan hành chính nhà nước ở trung ương, 14 ở các tỉnh thành phố trực thuộc trung ương, ở huyện, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh, như Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và cấp huyện; những người do bầu cử để đảm nhiệm chức vụ theo nhiệm kỳ trong Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân ở xã, phường, thị trấn. Công chức hành chính gồm những người được tuyển dụng, bổ nhiệm vào một ngạch công chức hoặc được giao giữ một chức vụ thường xuyên trong các cơ quan nhà nước ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện, như cán sự, chuyên viên làm việc trong các Sở thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, các Phòng thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện; những người được tuyển dụng, được giao giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã, gồm có các chức danh: Trưởng công an (nơi chưa bố trí lực lượng công an chính quy), Chỉ huy trưởng quân sự, Văn phòng - Thống kê, Địa chính - Xây dựng, Tài chính - Kế toán, Tư pháp - Hộ tịch, Văn hóa - Xã hội.
Tóm lại, cán bộ, công chức hành chính là một bộ phận quan trọng của nguồn nhân lực hành chính, là lực lượng nòng cốt trong cơ quan quản lý hành chính nhà nước, thực hiện nhiệm vụ quản lý hành chính một cách trực tiếp hoặc gián tiếp. Nhà nước trao quyền cho cán bộ, công chức hành chính để họ hoàn thành nhiệm vụ quản lý xã hội. Với chức năng, nhiệm vụ như vậy, cán bộ, công chức hành chính là nhân tố quyết định chất lượng và hiệu quả công tác quản lý hành chính. Hoạt động chuyên môn của họ mang những đặc trưng riêng và bản thân họ phải đáp ứng những tiêu chuẩn (yêu cầu) nhất định.
Quan niệm cán bộ, công chức hành chính cấp huyện Mô hình quản lý nhà nước ta hiện nay có 4 cấp quản lý hành chính Trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã. Luật Tổ chức chính quyền địa phương Điều 2 quy định đơn vị hành chính huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (gọi chung là cấp huyện). Trong đó, cấp huyện có vai trò quan trọng cụ thể hóa và triển khai thực hiện các chủ trương, chỉ thị, nghị quyết của Đảng, hiến pháp và pháp luật của nhà nước, các Nghị quyết, quyết định, chi 15 thị của tỉnh là nơi chỉ đạo phát triển toàn diện các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội trên địa bàn chung với định hướng phát triển của tỉnh. Xuất phát từ những nội dung trên yêu cầu của quản lý hành chính nhà nước ở cấp huyện phải có những con người có khả năng tổ chức, chỉ đạo và điều chỉnh các hoạt động diễn ra hằng ngày trong phạm vi cấp huyện.
Từ định nghĩa công chức hành chính như nêu trên có thể suy ra: Công chức hành chính cấp huyện là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch công chức hành chính, giữ một chức vụ, chức danh trong cơ quan hành chính nhà nước ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (gọi chung là cấp huyện) trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước. Cán bộ hành chính cấp huyện là những người có chuyên môn nghiệp vụ phù hợp, được tuyển dụng, bổ nhiệm, phụ trách một công việc thường xuyên trong cơ quan hành chính cấp huyện, hưởng lương từ ngân sách Nhà nước. Khoản 2, Điều 6, Nghị định số 06/2010/NĐ-CP ngày 25/1/2010 của Chính phủ quy định những người là cán bộ, công chức trong cơ quan hành chính ở cấp huyện được quy định như sau: - Chánh văn phòng, Phó Chánh văn phòng và người làm việc trong Văn phòng HĐND và UBND; - Chủ tịch, Phó Chủ tịch UBND quận, huyện, Chánh Văn phòng, Phó Chánh Văn phòng và người làm việc trong văn phòng UBND quận, huyện nơi thí điểm không tổ chức HĐND; - Người giữ chức vụ cấp trưởng, cấp phó và người làm việc trong cơ quan chuyên môn thuộc UBND. Từ sự diễn giải trên có thể đưa ra khái niệm đội ngũ cán bộ, công chức hành chính cấp huyện như sau:“đội ngũ cán bộ, công chức hành chính cấp huyện là toàn thể những công dân Việt Nam được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan Nhà nước thuộc ủy ban nhân dân huyện và trong bộ máy lãnh đạo quản lý của đơn vị sự nghiệp công của Nhà 16 nước ở huyện trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách Nhà nước.
Đối với công chức, cán bộ trong bộ máy lãnh đạo quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được đảm bảo từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật”. Quan niệm về tiêu chí chất lượng đội ngũ cán bộ công chức hành chính cấp huyện 1. Quan niệm chất lượng đội ngũ cán bộ công chức hành chính Chất lượng là một khái niệm được dùng khá rộng rãi trong đời sống xã hội. Trong thực tế tồn tại nhiều khái niệm thuộc về chất lượng với những nội hàm khác nhau do cách tiếp cận khác nhau ở những đối tượng được đánh giá chất lượng khác nhau.
Do đó khái niệm chất lượng tương đối được đặt ra và trả lời câu hỏi: Chất lượng dành cho đối tượng nào? Tùy theo đối tượng mà chủ thể đánh giá cần gì, muốn gì, mục tiêu hướng đến là gì? Để từ đó đưa ra khái niệm về chất lượng phù hợp với yêu cầu đòi hỏi của mỗi chủ thể. Việc xác định và đưa ra khái niệm chất lượng phù hợp có ý nghĩa quan trọng trong việc định rõ chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức trong điều kiện cải cách hành chính nói chung và xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức hành chính nói riêng. Chất lượng hiểu theo nghĩa phổ biến: “chất lượng là tổng thể những tính chất, những thuộc tính cơ bản của sự vật, làm cho sự vật này phân biệt với sự vật khác". Từ điển ngôn ngữ đã chú dẫn: “chất lượng một là cái làm nên phẩm chất, giá trị của con người, sự vật: chất lượng hàng hóa, nâng cao chất lượng học tập.
Hai là cái tạo nên phẩm chất của sự vật làm cho sự vật này khác với sự vật kia, phân biệt rõ số lượng, tăng trưởng số lượng đến mức nào thi làm cho thay đổi về chất lượng" [54, tr 313]. Theo từ điển triết học, khái niệm chất lượng được phân tích sâu hơn: "chất và lượng là hai phạm trù triết học phản ánh những mặt quan trọng của hiện thực khách quan.… Chất là tính quy định của một sự vật khiến nó là sự vật này chứ không phải sự vật khác và khác với sự vật khác. Mọi sự vật đều có quy định về lượng: đại lượng, số lượng, khối 17 lượng nhất định của các đặc tính.