CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ, CÔNG CHỨC NHÀ NƯỚC 1. KHÁI NIỆM VÀ ĐẶC ĐIỂM CỦA CÁN BỘ, CÔNG CHỨC NHÀ NƯỚC 1. Khái niệm cán bộ, công chức Nhà nước Các nước khác nhau thì quan niệm về cán bộ công chức cũng khác nhau, đa số các nước đều giới hạn cán bộ công chức trong phạm vi bộ máy hành chính nhà nước (Chính phủ và cấp chính quyền địa phương). Cộng hoà Pháp, định nghĩa: “Công chức là những người được tuyển dụng, bổ nhiệm vào làm việc trong các công sở gồm các cơ quan hành chính công quyền và các tổ chức dịch vụ công cộng do Nhà nước tổ chức, bao gồm cả trung ương và địa phương nhưng không kể đến các công chức địa phương thuộc các hội đồng thuộc địa phương quản lý”.
Nhật Bản, công chức được phân thành hai loại chính, gồm công chức Nhà nước và công chức địa phương: “Công chức Nhà nước gồm những người được nhậnm chức trong bộ máy của Chính phủ trung ương, ngành tư pháp, quốc hội, quân đội, trường công và bệnh viện quốc lập, xí nghiệp và đơn vị sự nghiệp quốc doanh được lĩnh lương của ngân sách Nhà nước. Công chức địa phương gồm những người làm việc và lĩnh lương từ tài chính địa phương”. Trung Quốc, khái niệm công chức được hiểu là: "Công chức Nhà nước là những người công tác trong cơ quan hành chính Nhà nước các cấp, trừ nhân viên phục vụ. Công chức gồm hai loại: + Công chức lãnh đạo là những người thừa hành quyền lực Nhà nước.
Các công chức này bổ nhiệm theo các trình tự luật định, chịu sự điều hành của Hiến pháp, Điều lệ công chức và Luật tổ chức của chính quyền các cấp. + Công chức nghiệp vụ là những người thi hành chế độ thường nhiệm, do cơ quan hành chính các cấp bổ nhiệm và quản lý căn cứ vào Điều lệ công chức. Họ 8 chiếm đại đa số trong công chức Nhà nước, chịu trách nhiệm quán triệt, chấp hành các chính sách và pháp luật”. Từ những khái niệm về công chức của một số nước như trên, có thể thấy: Công chức là những người được tuyển dụng và bổ nhiệm giữ một chức vụ hay thừa hành công vụ thường xuyên trong một công sở của Nhà nước từ trung ương đến địa phương, được hưởng lương từ ngân sách và chịu sự điều hành của Luật công chức.
Ở nước ta, ngày 20-5-1950 Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 76/SL về Quy chế công chức, tại Điều I, Mục 1 công chức được định nghĩa là:" Những công dân Việt Nam, được chính quyền nhân dân tuyển dụng để giữ một vị trí thường xuyên trong các cơ quan của Chính phủ ở trong hay ngoài nước”. Tuy nhiên, do hoàn cảnh chiến tranh chống ngoại xâm, bản quy chế này không được triển khai đầy đủ và trên thực tế các nội dung cơ bản của nó không được áp dụng. Để phù hợp với thể chế chính trị và tổ chức bộ máy nhà nước, Đảng, đoàn thể, chúng ta dùng khái niệm “cán bộ, công chức” theo Luật cán bộ, công chức năm 2008 là đạo luật mang số 22/2008/QH12 được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XII, kỳ họp thứ 4 thông qua ngày 13/11/2008 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2010, cán bộ và công chức là hai đối tượng khác nhau. Theo đó, cán bộ, công chức được quy định tại Điều 4 của Luật cán bộ, công chức năm 2008 là: Cán bộ là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kì trong cơ quan của Đảng cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, ở tỉnh, ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước.
Công chức là công dân Việt Nam được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện, trong cơ quan, đơn vị thuộc quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội, trong 9 biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước, đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lí của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được đảm bảo từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật. Đặc điểm cán bộ, công chức Nhà nước Thứ nhất, đội ngũ cán bộ công chức ngành hải quan là nguồn nhân lực có chất lượng cao đáp ứng những yêu cầu đa dạng về nhiệm vụ. Do tính chất phức tạp, đa dạng của hoạt động hải quan, vừa là cơ quan quản lý nhà nước, vừa là cơ quan kiểm soát chống buôn lậu và gian lận thương mại, vừa là cơ quan phục vụ cung cấp những dịch vụ công cho doanh nghiệp xuất nhập khẩu nên đòi hỏi công chức hải quan vừa có trình độ, am hiểu sâu sắc về nghiệp vụ tổng hợp hải quan từ khâu thủ tục thông quan hàng hoá, kiểm soát chống buôn lậu gian lận thương mại, xử lý vi phạm trong lĩnh vực hải quan, kiểm tra sau thông quan, thanh tra thuế. Với những loại nghiệp vụ này, công chức hải quan trong từng lúc, từng nơi, từng khách giao dịch khi thì là người kiểm soát, quản lý, khi thì là người chấp hành, phục vụ và phải luôn thực hiện văn minh, văn hóa trong ứng xử, giao dịch.
Do những đặc thù trên, khi một công chức mới tốt nghiệp đại học vào công tác tại cơ quan hải quan cấp cơ sở cũng đòi hỏi phải có thời gian từ 6 tháng đến 1 năm mới có thể hiểu được hết các phần hành nghiệp vụ của cơ quan hải quan nơi công tác và mới bắt đầu thực hiện được các công việc chuyên môn; phải mất từ 2-3 năm mới có thể đảm đương được công việc chuyên môn, nghiệp vụ theo ngạch được bổ nhiệm. Phần lớn cán bộ công chức ngành Hải quan có tư tưởng yên tâm công tác, có tinh thần đoàn kết nội bộ, ý thức trách nhiệm, thái độ làm việc, kỷ cương kỷ luật, tinh thần phục vụ doanh nghiệp tốt, năng lực đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong quá trình hiện đại hóa ngành Hải quan và hội nhập kinh tế quốc tế. Bên cạnh đó, trong ngành hải quan cũng có những công việc giản đơn, không mang tính phức tạp, chỉ cần qua những lớp đào tạo ngắn hạn là có thể thực hiện được một số công việc như: Bảo vệ, Lái xe hay phục vụ. Những công việc này chỉ 10 đòi hỏi người lao động chấp hành nghiêm kỷ luật, nội quy lao động và một số thao tác, quy trình đơn giản.
Sự đa dạng trong công việc đòi hỏi người quản lý trong quá trình xây dựng nhu cầu, kế hoạch đội ngũ cán bộ công chức phải có những tính toán hợp lý, đặc biệt về cơ cấu tuyển dụng nhằm tránh những lãng phí nguồn lực không cần thiết. Với những công việc đòi hỏi chuyên môn, kỹ năng cao nhất thiết phải tuyển dụng nguồn nhân lực chất lượng cao là những sinh viên khá, giỏi tại các Trường đại học tốt nghiệp đúng chuyên ngành cần tuyển. Còn những công việc đơn giản phải có chính sách tuyển dụng linh hoạt, có thể xét tuyển, không nhất thiết phải tuyển những người tốt nghiệp đại học vừa lãng phí nguồn lực xã hội vừa gây ra sự nhàm chán trong công việc đối với người được tuyển do họ không làm hết khả năng được đào tạo. Thứ hai, đội ngũ cán bộ công chức ngành hải quan mang tính chuyên nghiệp, chuyên sâu và hiện đại.
Ngành Hải quan là ngành đi đầu trong cải cách hành chính, hiện đại hoá ngành để đáp ứng được các đòi hỏi ngày càng cao về tạo thuận lợi cho hoạt động xuất nhập khẩu, thúc đẩy hợp tác kinh tế quốc tế, thương mại quốc tế. Để đáp ứng được yêu cầu đó, thời gian thông quan hàng hoá tại các cửa khẩu ngày càng được rút ngắn lại, thủ tục hải quan ngày càng đơn giản, thủ tục hải quan thủ công nay được thay thế bằng thủ tục hải quan điện tử. Trong thời đại công nghệ thông tin như hiện nay, người khai hải quan có thể ngồi bất cứ đâu cũng có thể làm thủ tục hải quan mà không cần phải đến cơ quan hải quan. Việc miễn kiểm tra thực tế hàng hoá được giảm thiểu với tỷ lệ chỉ còn 5%-10% tổng số các lô hàng và được lựa chọn theo pháp quản lý rủi ro, thông tin tình báo.
Chính vì vậy, đội ngũ cán bộ công chức hải quan ngày càng chuyên nghiệp theo chuẩn mực hải quan quốc tế, vừa chuyên sâu trong từng lĩnh vực được đảm nhận như phân loai hàng hoá, trị giá tính thuế, sở hữu trí tuệ, tình báo. Đội ngũ cán bộ công chức hải quan là một nguồn nhân lực hiện đại vì ngành thủ tục hải quan đang thí điểm thủ tục hải quan điện tử và tiến tới là thông quan điện tử. Cán bộ công chức hải quan phải sử dụng thành 11 thạo các chương trình, phần mềm điện tử trong khâu làm thủ tục hải quan đến sử dụng các trang thiết bị máy móc hiện đại phục vụ công tác kiểm tra giám sát phương tiện, hành lý khách hàng xuất nhập cảnh. Vai trò của đội ngũ cán bộ, công chức Nhà nước Vai trò quan trọng của đội ngũ cán bộ công chức Hải quan trong cải cách hiện đại hóa, phát triển ngành Hải quan.
Phù hợp với đặc thù hoạt động hải quan và yêu cầu cơ bản đối với công chức hải quan, việc đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng cao, có trình độ chuyên sâu, hoạt động có hiệu quả, đáp ứng đòi hỏi cải cách, hiện đại hoá là một yêu cầu cấp bách đặt ra trong điều kiện hiện nay của ngành Hải quan. Vì vậy, đào tạo đội ngũ nhân lực hải quan ở nước ta cần đảm bảo yêu cầu cơ bản sau đây: + Đào tạo được đội ngũ “cán bộ công chức hải quan phải có phẩm chất chính trị tốt, tinh thông về chuyên môn, nghiệp vụ đáp ứng yêu cầu xây dựng và phát triển đất nước thời kỳ mới. Bối cảnh, điều kiện của nền kinh tế nước ta đang trong quá trình tiếp tục đổi mới, mở cửa với khu vực và thế giới ngày càng đầy đủ, triệt để, toàn diện, nhưng theo định hướng xã hội chủ nghĩa.