Chương 1 NHẬN THỨC CHUNG VỀ THU THẬP, ĐÁNH GIÁ, SỬ DỤNG CHỨNG CỨ TRONG ĐIỀU TRA VỤ ÁN GIẾT NGƯỜI 1. Khái niệm thu thập, đánh giá, sử dụng chứng cứ trong hoạt động điều tra vụ án hình sự 1. Chứng cứ và nguồn chứng cứ - Khái niệm chứng cứ: Trong quá trình giải quyết vụ án hình sự, muốn xác định sự thật khách quan và có cơ sở để kết luận đúng về hành vi phạm tội đã xảy ra đòi hỏi cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng phải có tài liệu, chứng cứ để chứng minh hành vi xảy ra là tội phạm và người phạm tội. Chứng cứ là phương tiện của việc chứng minh có ý nghĩa trong việc giải quyết vụ án hình sự.
Việc xác định đúng đắn khái niệm chứng cứ sẽ có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc đề ra các nguyên tắc, biện pháp hữu hiệu nhằm thu thập, đánh giá và sử dụng chứng cứ vào mục đích chứng minh trong vụ án hình sự. Tại Điều 86 BLTTHS năm 2015 quy định như sau: “Chứng cứ là những gì có thật, được thu thập theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định, được dùng làm căn cứ để xác định có hay không có hành vi phạm tội, người thực hiện hành vi phạm tội và những tình tiết khác có ý nghĩa trong việc giải quyết vụ án” [ Luật TTHS, tr. Như vậy, chứng cứ là những gì có thật, tức là chứng cứ luôn tồn tại một cách khách quan khi vụ án hình sự xảy ra, không phụ thuộc vào ý chí chủ quan của con người. Chứng cứ phải được thu thập theo trình tự, thủ tục do BLTTHS quy định và là căn cứ duy nhất để CQĐT, VKS, TA xác định có hay không có hành vi phạm tội, người thực hiện hành vi phạm tội, cũng như những tình tiết khác có ý nghĩa trong việc giải quyết vụ án.
Khác với Điều 64 BLTTHS 2003 Điều 86 BLTTHS năm 2015 không quy định về “chủ thể” sử dụng chứng cứ trong khái niệm chứng cứ, đó chính là điểm mới tiến bộ trong luật tố tụng hình sự tạo điều kiện cho những người tham gia tố tụng, đặc biệt là người bị buộc tội, người bào chữa, bị hại. có thể tham gia vào quá trình chứng 7 minh, giải quyết vụ án hình sự. Trong quá trình tiến hành tố tụng, không chỉ có các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng được đưa ra chứng cứ, sử dụng chứng cứ vào quá trình chứng minh tội phạm mà tất cả những người tham gia tố tụng đều có quyền đưa ra chứng cứ, sử dụng chứng cứ nhằm bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình, nhằm làm sáng tỏ sự thật khách quan. Đối với quy định quyền và nghĩa vụ của người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố; người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt; người bị tạm giữ; bị can; bị cáo; nguyên đơn dân sự; bị đơn dân sự; người bào chữa đều có quyền: “Trình bày ý kiến về chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan và yêu cầu cơ quan tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng kiểm tra, đánh giá những chứng cứ ấy”.
Đồng thời cũng bổ sung thêm các quyền và nghĩa vụ cho người bào chữa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố; người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại, đương sự cũng có quyền “thu thập, kiểm tra, đánh giá chứng cứ”. Chứng cứ có vai trò rất quan trọng đối với việc chứng minh của cả cơ quan tố tụng và người tham gia tố tụng trong quá trình điều tra VAHS. Chứng cứ có những thuộc tính sau đây: Thứ nhất: Tính khách quan: Tính khách quan của chứng cứ là tính có thật, tức là những thông tin chứa đựng trong các dấu vết, đồ vật, tài liệu, lời khai phản ánh về VAHS phải tồn tại một cách khách quan đúng như thực tế vụ án đã xảy ra, không phụ thuộc vào ý thức chủ quan của con người và con người có thể nhận thức được. Những gì không có thật, không tồn tại khách quan thì không được coi là chứng cứ.
Con người phát hiện, thu thập và tìm ra chứng cứ, con người nghiên cứu và đánh giá để sử dụng nó. Thứ hai: Tính liên quan: Tính liên quan của chứng cứ thể hiện ở mối liên hệ khách quan với những vấn đề phải chứng minh trong VAHS, giúp xác định một hay nhiều tình tiết của vụ án góp phần làm rõ một phần hay toàn bộ những vấn đề phải chứng minh trong VAHS. Thứ ba: Tính hợp pháp: Tính hợp pháp của chứng cứ thể hiện ở chỗ, chứng cứ phải được thu thập, xác định từ những nguồn và bằng biện pháp theo đúng trình tự, thủ tục mà Bộ luật tố tụng hình sự quy định. 8 - Nguồn chứng cứ Hiện nay, chưa có một văn bản quy phạm pháp luật nào đưa ra khái niệm cụ thể như thế nào là nguồn chứng cứ.
Trong thực tiễn có nhiều cách khác nhau định nghĩa về nguồn chứng cứ như “Nguồn chứng cứ là những sự vật chứa đựng chứng cứ, tức là chứa đựng các thông tin, tư liệu tồn tại trong thực tế khách quan, liên quan đến vụ án và được thu thập theo trình tự, thủ tục pháp luật quy định” [5, tr.166] hay “Nguồn chứng cứ là nơi chứa đựng những thông tin phản ánh trung thực về VAHS, được Luật TTHS quy định” [4, tr. Tại Khoản 1, Điều 87 của BLTTHS 2015 đã liệt kê các chứng cứ được thu thập, xác định từ các nguồn cụ thể sau đây: Vật chứng; lời khai, lời trình bày; dữ liệu điện tử; kết luận giám định, định giá tài sản; các loại biên bản trong hoạt động khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án; kết quả thực hiện ủy thác tư pháp và hợp tác quốc tế khác; các tài liệu, đồ vật khác. Vật chứng là những vật được dùng làm công cụ, phương tiện phạm tội, những vật mang dấu vết tội phạm hoặc là đối tượng của tội phạm, tiền hoặc vật khác có giá trị chứng minh tội phạm và người phạm tội hoặc có ý nghĩa nhất định trong việc giải quyết vụ án. Trong thực tế cuộc sống cho thấy, vật chứng rất đa dạng, có thể là vật được dùng làm công cụ, phương tiện phạm tội, vật mang dấu vết tội phạm, vật là đối tượng của tội phạm,… có giá trị chứng minh tội phạm và người phạm tội hoặc có ý nghĩa trong việc giải quyết đúng đắn vụ án.
Nói tóm lại, vật chứng trước tiên phải tồn tại ở dạng vật chất, phải liên quan chặt chẽ và phản ánh được những sự kiện khách quan của vụ án hình sự. Vật chứng có giá trị chứng minh rất cao trong quá trình giải quyết VAHS. Vì vậy, các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng phải phát hiện kịp thời, thu giữ đầy đủ, bảo quản và xử lý theo đúng quy định của pháp luật. Tuy nhiên, vật chứng không phải là nguồn chứng cứ duy nhất nên cần được xem xét, đánh giá trong mối quan hệ với các nguồn chứng cứ khác.
Về lời khai, lời trình bày: Theo quy định lời khai được dùng làm chứng cứ cũng rất đa dạng, nhưng quan trọng nhất vẫn là lời khai của bị can, bị cáo, bị hại, người làm chứng… So với vật chứng, lời khai là nguồn chứng cứ mang tính chủ quan và chịu sự tác động của nhiều yếu tố khác nhau. Do đó, trong nhiều vụ án, việc chỉ 9 đánh giá lời khai mà đưa ra quyết định có hay không hành vi phạm tội trong nhiều trường hợp sẽ mang tính chủ quan và rất dễ dẫn đến oan sai. Lời khai ban đầu do cơ quan điều tra thông qua các biện pháp nghiệp vụ mà có được, sau đó trong quá trình xét xử toà án tiếp tục kiểm tra tính hợp pháp của nguồn chứng cứ này. Lời nhận tội của bị can, bị cáo trong quá trình tiến hành tố tụng chỉ có thể được coi là chứng cứ nếu phù hợp với các chứng cứ khác đã được thu thập trong vụ án.
Không được dùng lợi nhận tội của bị can, bị cáo làm chứng cứ duy nhất trong vụ án để kết tội họ. Mọi lời khai của bị can, bị cáo đều phải được kiểm tra, so sánh, đối chiếu với các chứng cứ khác Để đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm hiện nay, tháo gỡ những vướng mắc do thực tiễn đặt ra, BLTTHS 2015 đã bổ sung 03 loại nguồn chứng cứ mới: Về dữ liệu điện tử là ký hiệu, chữ viết, chữ số, hình ảnh, âm thanh hoặc dạng tương tự được tạo ra, lưu trữ, truyền đi hoặc nhận được bởi phương tiện điện tử. Loại chứng cứ này thường xuất hiện trong các vụ án liên quan đến công nghệ thông tin, mạng viễn thông như đánh bạc qua mạng, sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, những phương tiện điện tử thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản… Việc thu thập loại chứng cứ này cũng đòi hỏi phải sử dụng nhiều biện pháp nghiệp vụ và giám định chuyên ngành mới xác lập được chứng cứ điện tử. Thực tiễn đấu tranh chống tội phạm cho thấy: các đối tượng đã lợi dụng triệt để sự phát triển nhanh chóng, mạnh mẽ của khoa học, công nghệ để ứng dụng vào việc thực hiện và che dấu hành vi phạm tội, nên để giải quyết đúng đắn các vụ án hình sự, việc thu thập các chứng cứ điện tử là rất quan trọng.
Giá trị chứng minh của chứng cứ là dữ liệu điện tử được xác định căn cứ vào cách thức khởi tạo, lưu trữ hoặc truyền gửi, phát tán dữ liệu điện tử; cách thức bảo đảm và duy trì tính toàn vẹn của dữ liệu điện tử; cách thức xác định người khởi tạo và các yếu tố phù hợp khác. Về kết luận giám định, kết luận định giá tài sản: Thực tiễn giải quyết các vụ án hình sự liên quan đến tài sản như: trộm cắp tài sản, hủy hoại tài sản, các vụ án về giao thông… các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải trưng cầu định giá tài sản làm căn cứ cho việc giải quyết vụ án. Đối với kết luận giám định là văn bản do 10 cá nhân hoặc cơ quan, tổ chức giám định thành lập để kết luận chuyên môn về những vấn đề được yêu cầu trong quyết định trưng cầu giám định. Kết luận định giá tài sản là văn bản do Hội đồng định giá tài sản lập để kết luận về giá của tài sản được yêu cầu.