Mở đầu trình bày các lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu, ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài, cấu trúc của đề tài nghiên cứu. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN 2. Cơ sở lý thuyết Chất lượng 2. Khái niệm về chất lượng “Chất lượng là mức độ mà dịch vụ y tế cung cấp cho cá nhân hoặc cộng đồng có thể làm tăng khả năng đạt được kết quả về sức khỏe mong đợi và phù hợp với kiến thức về chuyên môn hiện hành.
Dưới góc độ của khách hàng: chất lượng liên quan đến mức độ chăm sóc và tính hiệu quả của sản phẩm, dịch vụ được cung cấp như thái độ phục vụ, được NVYT đối xử công bằng, tôn trọng, được khám chữa bệnh trong môi trường xanh sạch đẹp, đầy đủ tiện nghi, cơ sở vật chất, trang thiết bị, sự thoải mái và sự sẵn có của nhiều dịch vụ phù hợp với chi phí khách hàng bỏ ra. Dưới góc độ của NVYT hoặc cơ sở y tế, chất lượng liên quan đến quy trình khoa học của chăm sóc y tế, khả năng chẩn đoán và điều trị bệnh. Đối với nhà quản lý, nhà lãnh đạo, chất lượng là sự tiếp cận, có tính phù hợp, và trong khả năng có thể chấp nhận được và có kết quả tốt trong cung ứng dịch vụ chăm sóc, bảo vệ sức khỏe. Chất lượng trong lĩnh vực chăm sóc y tế Theo báo cáo của Viện Y khoa Hoa Kỳ, chất lượng trong chăm sóc y tế là “An toàn, hiệu quả, người bệnh là trung tâm, đúng thời gian, hiệu năng và công bằng.” (Baker, 2001) Tổ chức Y tế Thế giới đã xác định, xu hướng chất lượng trong lĩnh vực y tế bao gồm: “An toàn, người bệnh làm trung tâm, chăm sóc lâm sàng hiệu quả, hiệu suất, hướng về nhân viên, điều hành hiệu quả.” (World Health Organization, 2007) Lý do phải cải tiến chất lượng Theo Cục Quản lý Khám chữa bệnh (2015), lý do cần cải tiến chất lượng gồm: 7 Bảo đảm tính hiệu quả của phương pháp điều trị, kết quả chẩn đoán dựa trên bằng chứng khoa học và kiến thức y khoa, có khả năng đáp ứng phù hợp và đạt với mục tiêu đề ra.
Tiêu chuẩn hóa nhằm tăng cường sự kiểm soát đối với kết quả đầu ra dự kiến dựa trên kế hoạch ban đầu, làm giảm sai lệch, rủi ro trong quá trình cung cấp và đánh giá chất lượng dịch vụ. Tiết kiệm chi phí: Chất lượng sẽ làm tăng chi phí ở thời điểm bắt đầu thực hiện nhưng về sau sẽ mang lại hiệu quả lớn hơn so với chi phí bỏ ra ban đầu. Chất lượng giúp loại bỏ lãng phí. Công khai kết quả thực hiện nhiệm vụ: dựa trên các tiêu chí, tiêu chuẩn, chỉ số chất lượng, khách hàng có thể dễ dàng so sánh, lựa chọn.
Sự cạnh tranh: khuyến khích các tổ chức cung cấp dịch vụ (DV) nhằm tăng cường các hoạt động để nâng cao chất lượng (CL) nhằm tạo thương hiệu, uy tín, và gia tăng sự trải nghiệm tích cực đối với người sử dụng DV. Khía cạnh đạo đức: Cơ sở y tế phải cung cấp những dịch vụ tốt nhất có thể nhằm giảm thiểu rủi ro, sự cố y khoa, lãng phí, tổn hại sức khỏe đối với khách hàng trong quá trình được cung cấp dịch vụ. Các nhiệm vụ quản lý chất lượng tại bệnh viện Theo Cục Quản lý Khám chữa bệnh (2015), bệnh viện là cơ sở phức hợp với nhiều nhóm dịch vụ: KCB, dịch vụ phòng/ giường bệnh, tài chính – kế toán… Mối quan hệ giữa người bệnh/ người nhà người bệnh và bệnh viện, giữa các khoa phòng trong bệnh viện đa dạng và áp lực hơn rất nhiều so với những ngành cung cấp dịch vụ khác. Vì vậy công tác quản lý bệnh viện ngày càng đóng vai trò quan trọng, trong đó quản lý chất lượng dịch vụ ngày càng được chú trọng và được xem là hoạt động liên tục của các cơ sở y tế.
Quản lý chất lượng bao gồm các nhiệm vụ: • Lập dự án, kế hoạch cải tiến về quản lý CL BV; 8 • Áp dụng Bộ tiêu chí, tiêu chuẩn, mô hình, các phương pháp liên quan quản lý CL: dựa trên các bộ tiêu chí, tiêu chuẩn chất lượng do Bộ Y tế ban hành hoặc thừa nhận; Luật Khám bệnh, chữa bệnh; quản lý chất lượng theo ISO; chu trình cải tiến chất lượng, quản lý chất lượng toàn diện; • Đo lường CL và xây dựng cơ sở dữ liệu về quản lý CL BV: đo lường cấu trúc (chính sách, cơ cấu nhân lực, vật lực, cơ sở hạ tầng, trang thiết bị); đo lường quy trình, đo lường kết quả; công bố chất lượng bệnh viện; • Xây dựng Bộ chỉ số đo lường về CL BV: chỉ số lâm sàng, chỉ số cận lâm sàng; chỉ số hoạt động, chỉ số chất lượng dịch vụ; • Tổ chức thực hiện các hướng dẫn chuyên môn trong KCB do Bộ Y tế ban hành: phác đồ điều trị; quy trình kỹ thuật; • Triển khai thực hiện các biện pháp nhằm bảo đảm an toàn người bệnh và NVYT dựa trên 6 mục tiêu an toàn người bệnh quốc tế và một số mục tiêu khác; quản lý sự cố tại bệnh viện. • Đánh giá, giám sát việc thực hiện các quy trình kỹ thuật, phác đồ điều trị…; • Đánh giá CLBV, định kỳ khảo sát sự hài lòng của khách hàng nội trú, khách hàng ngoại trú, NVYT để xác định những vấn đề còn tồn đọng cần phải cải thiện, từ đó xây dựng giải pháp ưu tiên cải tiến chất lượng. Khái niệm dịch vụ Theo Kotler (2003), dịch vụ là những hoạt động nào đó cung cấp cho người cần sử dụng, không tồn tại dưới dạng vật chất cụ thể, là những hoạt động mang tính vô hình, quá trình cung cấp dịch vụ và sử dụng dịch vụ xảy ra cùng lúc, không mang đến sự sở hữu của riêng cá nhân nào. Đặc điểm dịch vụ Theo Kotler (2003), DV là một loại hàng hóa đặc biệt, thể hiện ở những đặc điểm nổi bật sau: Tính không hiện hữu: DV vô hình và không tồn tại dưới dạng vật thể.
Khi khách hàng trải nghiệm DV thì mới nhận ra được DV. Để chọn lựa sử dụng được dịch vụ tốt: khách hàng thường căn cứ, xem xét dựa trên bằng chứng vật chất về CLDV như cơ sở hạ tầng, con người, trang thiết bị, chi phí … mà họ cảm nhận được. Tính không tách rời giữa sản xuất và tiêu dùng DV: DV thường được sản xuất ra và tiêu dùng đồng thời. Quá trình sản xuất gắn liền với tiêu dùng.
Người tiêu dùng cũng tham gia vào hoạt động sản xuất và cung cấp DV cho chính mình. Tính không ổn định: DV phụ thuộc vào hành động, thái độ của nhân viên. CLDV phụ thuộc vào nhiều yếu tố khó kiểm soát như người thực hiện DV, thời gian và địa điểm thực hiện DV khác nhau. Từ đó tạo ra những DV không giống nhau.
Bên cạnh đó, khách hàng là người quyết định CL DV dựa vào cảm nhận của họ. Điều này làm cho DV tăng tính không ổn định. Tính không lưu trữ được: không tồn kho, không lưu trữ được, và không thể vận chuyển từ khu vực này sang khu vực khác. Vì thế sản xuất, mua bán và tiêu dùng DV bị giới hạn bởi thời gian, địa điểm.
(Kotler, 2003) Chất lượng dịch vụ Chất lượng dịch vụ rất khó xác định và định nghĩa một cách thống nhất. Một số tác giả trước đây đã đưa ra các định nghĩa sau đây về chất lượng dịch vụ: Theo Lehtinen & Lehtinen (1982), cũng định nghĩa chất lượng dịch vụ phải được đánh giá, nhận định trên hai khía cạnh là: quá trình cung cấp dịch vụ và kết quả cung cấp dịch vụ. Gronroos (1984) cũng đề nghị hai thành phần của chất lượng dịch vụ: một 10 là chất lượng kỹ thuật, bao gồm những gì khách hàng nhận được và hai là chất lượng chức năng, quá trình cung cấp dịch vụ đã được thực hiện như thế nào. Theo Parasuraman và cộng sự (1985) định nghĩa: chất lượng dịch vụ là “việc cung cấp dịch vụ xuất sắc và cao hơn sự mong đợi của khách hàng.” Theo Ramya và cộng sự (2019), Chất lượng dịch vụ là khả năng cung cấp dịch vụ của một công ty để khách hàng sử dụng và gắn bó với mình.
Khi có dịch vụ chất lượng tốt thì mới giữ chân được khách hàng. Tóm lại, chất lượng dịch vụ là tất cả những gì được thể hiện trong quá trình khách hàng sử dụng và cảm nhận dịch vụ mà doanh nghiệp cung cấp; mang lại lợi ích và thỏa mãn sự mong đợi của khách hàng. Mỗi khách hàng, họ nhận thức và có nhu cầu khác nhau, vì vậy cảm nhận của họ về chất lượng dịch vụ cũng khác nhau. Chất lượng dịch vụ tại cơ sở y tế Theo Tổ chức y tế thế giới (WHO): Dịch vụ tại một cơ sở y tế bao gồm tất cả các dịch vụ bao gồm chẩn đoán, điều trị bệnh tật và tất cả các hoạt động liên quan đến chăm sóc sức khoẻ cho khách hàng.
Chất lượng dịch vụ y tế phải an toàn, hiệu quả, lấy con người làm trung tâm (cung cấp dịch vụ chăm sóc đáp ứng sở thích, nhu cầu và giá trị của từng cá nhân) và kịp thời. (World Health Organization, 2007) Theo Aagja & Garg (2010): “Chất lượng dịch vụ bệnh viện là sự khác biệt giữa nhận thức của bệnh nhân hoặc người chăm sóc bệnh nhân về các dịch vụ mà bệnh viện cung cấp so với kỳ vọng của họ”. Theo Black và cộng sự (2014), chất lượng dịch vụ trong chăm sóc sức khỏe bao gồm ba khía cạnh: an toàn người bệnh, hiệu quả lâm sàng và sự trải nghiệm của bệnh nhân (cảm thông, được tôn trọng và được đề cao giá trị bản thân). Có nhiều định nghĩa về chất lượng dịch vụ y tế, nhưng chung quy lại chất lượng dịch vụ tại cơ sở y tế/ bệnh viện là: 11 - An toàn người bệnh, không gây ra các rủi ro, tai biến ảnh hưởng đến sức khỏe người bệnh.
- Mang lại kết quả điều trị tốt nhất cho khách hàng. - Phù hợp với nhu cầu và sức khỏe của người bệnh. - Khách hàng có thể tiếp cận được và chấp nhận với dịch vụ được cung cấp. Giống như các ngành dịch vụ khác, dịch vụ tại cơ sở y tế có những đặc điểm sau: Tính đúng thời điểm và không cất giữ được, nếu chưa đáp ứng cả 2 điều này thì dịch vụ sẽ trở nên không có giá trị.
Dịch vụ phải gắn liền với người cung cấp dịch vụ (bệnh viện/ cơ sở y tế).