phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm 03 chương: hương 1: Những vấn đề lý luận và thực tiễn về chất lượng dịch vụ viễn thông. hương 2: Thực trạng chất lượng dịch vụ Internet cáp quang tại VNPT Quảng Bình hương 3: Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ Internet Cáp quang tại VNPT Quảng Bình 4 PHẦN II: NỘI DUNG NGHIÊN CỨU hương 1: NHỮNG VẤN ĐỂ LÝ LUẬN VÀ THỰ TIỄN VỀ HẤT LƯỢNG DỊ H VỤ VIỄN THÔNG 1. Cơ sở lý luận về chất lượng dịch vụ viễn thông 1. Lý luận về dịch vụ và dịch vụ viễn thông 1.1 Dịch vụ Theo cách hiểu đơn giản nhất thì dịch vụ là khái niệm chỉ toàn bộ các hoạt động lao động mang tính xã hội mà kết quả của chúng không tồn tại dưới hình dạng vật thể.
Chính vì vậy, trong quá trình cung ứng các dịch vụ không dẫn đến việc chuyển quyền sở hữu nhằm thoả mãn kịp thời các nhu cầu sản xuất và đời sống sinh hoạt của con người. Theo Philip Kotler (2009) thì :“Dịch vụ là mọi hành động và kết quả mà một bên có thể cung cấp cho bên kia và chủ yếu là vô hình và không dẫn đến quyền sở hữu một cái gì đó. Sản phẩm của nó có thể hay không gắn liền với một sản phẩm vật chất”. Kotler và Armstrong (2004) cũng định nghĩa dịch vụ như sau: “Dịch vụ là bất kỳ hành động hay lợi ích nào một bên có thể cung cấp cho bên khác mà về cơ bản là vô hình và không đem lại sự sở hữu nào cả”.
Dịch vụ có 4 đặc tính là tính vô hình, tính không thể tách rời, tính đồng nhất và tính không lưu trữ được, cụ thể như sau: - Tính vô hình: Tính vô hình có nghĩa là dịch vụ không thể nhìn thấy, có mùi vị, cảm nhận hay ngửi trước khi chúng được bán. Ví dụ như việc một người thực hiện dịch vụ phẫu thuật thẩm mỹ sẽ không thể nhìn thấy được kết quả trước khi mua dịch vụ này. Các hành khách sử dụng dịch vụ hàng không có gì ngoài một tấm vé và lời hứa của hãng hàng không về việc sẽ tới nơi an toàn cùng với hành lý của họ, hi vọng là sẽ cùng một lúc. Để giảm tính không chắc chắn, người mua phải xem xét vào các dấu hiệu về chất lượng dịch vụ.
Khách hàng kết luận về dịch vụ họ đã bỏ tiền ra mua thông qua địa điểm mua dịch vụ, nhân sự liên quan tới việc cung cấp dịch vụ, trang thiết bị, và sự giao tiếp mà khách hàng có thể nhìn thấy được. Bởi vậy, nhiệm 5 vụ của những người cung cấp dịch vụ là phải làm cho các dịch vụ trở thành hữu hình theo một hay nhiều cách khác nhau. - Tính không đồng nhất: Tính không đồng nhất của dịch vụ có nghĩa là chất lượng dịch vụ phụ thuộc vào người cung cấp cũng như khi nào dịch vụ đó được cung cấp, vị trí cung cấp và cách thức cung cấp. - Tính không thể tách rời: Tính không thể tách rời của dịch vụ thể hiện ở việc khó phân chia dịch vụ thành hai giai đoạn rạch ròi: giai đoạn sản xuất và giai đoạn sử dụng.
Dịch vụ thường được tạo ra và sử dụng đồng thời. Điều này không giống như hàng hóa vật chất. Hàng hóa vật chất được sản xuất ra, nhập kho, phân phối thông qua nhiều nấc trung gian mua bán, rồi sau đó mới được tiêu dùng. Đối với sản phẩm hàng hóa, khách hàng chỉ được sử dụng sản phẩm ở giai đoạn cuối cùng, còn đối với dịch vụ, khách hàng đồng hành trong suốt hoặc một phần của quá trình tạo ra dịch vụ.
Khi đó, chất lượng dịch vụ thể hiện trong quá trình tương tác giữa khách hàng và nhân viên cung cấp dịch vụ của công ty. Đối với những dịch vụ đòi hỏi phải có sự tham gia ý kiến trực tiếp của người tiêu dùng như dịch vụ chăm sóc cá nhân, khám chữa bệnh thì công ty dịch vụ rất khó thực hiện kiểm soát, quản trị về chất lượng vì người tiêu dùng có ảnh hưởng lớn đến quá trình và kết quả cung cấp dịch vụ. Ví dụ yêu cầu khách hàng mô tả kiểu tóc mình muốn hoặc thông tin bệnh nhân mô tả các triệu chứng bệnh lâm sàng cho bác sĩ đóng vai trò quan trọng đối với chất lượng của hoạt động dịch vụ. - Tính không thể lưu trữ được: Dịch vụ không thể cất giữ, lưu kho rồi đem bán như hàng hóa khác.
Tính không lưu trữ được của dịch vụ sẽ không phải là vấn đề khi nhu cầu ổn định. Tuy nhiên, khi nhu cầu thay đổi, các nhà cung cấp dịch vụ sẽ gặp khó khăn trong việc duy trì hoạt động kinh doanh của họ. Ví dụ như các công ty vận tải công cộng phải có nhiều phương tiện hơn để đảm bảo phục vụ cho nhu cầu vào những giờ cao điểm so với số lượng cần thiết theo nhu cầu bình thường trong suốt cả ngày để đảm bảo phục vụ cho nhu cầu vào những giờ cao điểm. Kh i niệm v phân loại dịch vụ viễn thông Viễn thông (trong các ngôn ngữ châu Âu xuất phát từ tele của tiếng Hy Lạp có nghĩa là xa và communicare của tiếng La tinh có nghĩa là thông báo) miêu tả một cách tổng quát tất cả các hình thức trao đổi thông tin qua một khoảng cách nhất định mà không phải chuyên chở những thông tin này đi một cách cụ thể (thí dụ như thư).
Theo nghĩa hẹp hơn, ngày nay viễn thông được hiểu như là cách thức trao đổi thông tin, dữ liệu thông qua kỹ thuật điện, điện tử và các công nghệ hiện đại khác. Viễn thông bao gồm mọi hoạt động liên quan tới việc phát/nhận tin tức (âm thanh, hình ảnh, dữ liệu.) qua các phương tiện truyền thông (hữu tuyến như dây kim loại, cáp quang/hoặc vô tuyến/các hệ thống điện từ khác). (Trần Mạnh Dũng, 2011) Sản phẩm viễn thông rất đa dạng và phong phú, bao gồm cả sản phẩm hữu hình là các thiết bị viễn thông và sản phẩm vô hình là các dịch vụ viễn thông. Theo qui định tại điều 37 – Nghị định CP số 109, dịch vụ viễn thông được hiểu là dịch vụ truyền đưa, lưu trữ và cung cấp thông tin bằng hình thức truyền dẫn, phát thu những ký hiệu tín hiệu, số liệu, chữ viết, âm thanh hình ảnh thông qua mạng lưới viễn thông công cộng do doanh nghiệp cung cấp dịch vụ viễn thông cung cấp.
Như vậy, dịch vụ viễn thông nói chung là một tập hợp các hoạt động lao động mang tính xã hội liên quan tới truyền đưa, lưu trữ và cung cấp thông tin bằng hình thức truyền dẫn, phát thu những ký hiệu tín hiệu, số liệu, chữ viết, âm thanh hình ảnh thông qua mạng lưới viễn thông. Theo Pháp lệnh Bưu chính, Viễn thông năm 2002, dịch vụ viễn thông bao gồm: * Dịch vụ cơ bản: Là dịch vụ truyền đưa tức thời thông tin của người sử dụng dưới dạng ký hiệu, tín hiệu, số liệu, chữ viết, âm thanh, hình ảnh thông qua mạng viễn thông hoặc internet mà không làm thay đổi loại hình hoặc nội dung thông tin được gửi và nhận qua mạng. Dịch vụ cơ bản bao gồm các dịch vụ: - Dịch vụ viễn thông cố định: Dịch vụ điện thoại; Dịch vụ truyền số liệu; Dịch vụ truyền hình hội nghị; Dịch vụ thuê kênh; Dịch vụ Telex,. - Dịch vụ viễn thông di động: Dịch vụ viễn thông di động mặt đất; Dịch vụ vô tuyến nội thị và dịch vụ di động nội tỉnh; Dịch vụ GPRS, 7 - Các dịch vụ cộng thêm: Dịch vụ cộng thêm được cung cấp trên mạng điện thoại cố định; Dịch vụ cộng thêm trong điện thoại quốc tế có điện thoại viên trợ giúp; Dịch vụ cộng thêm trong điện thoại di động, * Dịch vụ giá trị gia tăng: là dịch vụ làm tăng thêm giá trị thông tin của người sử dụng dịch vụ bằng cách hoàn thiện loại hình, nội dung thông tin hoặc cung cấp khả năng lưu trữ, khôi phục thông tin đó trên cơ sở sử dụng mạng viễn thông hoặc internet.
Bao gồm: Dịch vụ thư điện tử (E - Mail); Dịch vụ thư thoại (Voice – Mail); Dịch vụ trao đổi dữ liệu điện tử, * Dịch vụ kết nối internet: là dịch vụ cung cấp cho các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp cung cấp dịch vụ internet khả năng kết nối với nhau và với internet quốc tế. * Dịch vụ truy nhập Internet là dịch vụ cung cấp cho người sử dụng khả năng truy nhập Internet. * Dịch vụ ứng dụng Internet trong bưu chính, viễn thông là dịch vụ sử dụng Internet để cung cấp dịch vụ bưu chính, viễn thông cho người sử dụng. Dịch vụ ứng dụng Internet trong các lĩnh vực kinh tế - xã hội khác phải tuân theo các quy định pháp luật về bưu chính, viễn thông và các quy định khác của pháp luật có liên quan.
Vai trò của dịch vụ viễn thông Hiện nay, ngành viễn thông là một ngành cơ sở hạ tầng quan trọng đối với mọi nền kinh tế phát triển. Sự phát triển của ngành viễn thông không những ảnh hưởng tới sự phát triển của xã hội mà còn phản ánh trình độ phát triển của nền kinh tế. Ngược lại, chính sự phát triển của nền kinh tế đất nước cũng có tác dụng thúc đẩy và quyết định đến sự phát triển của ngành viễn thông. Trong môi trường cạnh tranh hiện nay, các luồng thông tin, luồng thanh toán và các luồng hàng hoá vận động ngày một sôi động hơn.
Với tư cách là một ngành cơ sở hạ tầng của nền kinh tế, viễn thông cung cấp các dịch vụ tham gia vào tất cả các luồng vận động trên giữa tất cả các chủ thể của nền kinh tế, từ Nhà nước, doanh nghiệp sản xuất, cung ứng và người tiêu dùng. Vai trò của dịch vụ viễn thông được cụ thể hóa như sau: 8 Đối với Nhà nước, ngành viễn thông cung cấp các dịch vụ viễn thông theo yêu cầu của Nhà nước để thực hiện chức năng quản lý kinh tế xã hội và đặc biệt là đảm bảo an ninh, quốc phòng. Các dịch vụ viễn thông còn phục vụ các cơ quan Đảng Nhà nước, phục vụ công tác an toàn, cứu nạn, phong chống thiên tai. Ngành Viễn thông cũng đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc truyền đạt các đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng, của nhà nước, Tóm lại, ngành viễn thông chính là công cụ phục vụ đắc lực cho sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng, Nhà nước, và các cấp chính quyền, trong mọi lĩnh vực kinh tế, an ninh, quốc phòng, văn hoá, ngoại giao, giáo dục, Đối với doanh nghiệp và người tiêu dùng, các dịch vụ viễn thông cung cấp liên kết thiết yếu đối với cả hai phía người tiêu dùng và doanh nghiệp.