LỜI MỞ ĐẦU I. Tính cấp thiết của đề tài Qua thời gian, cùng với quá trình đổi mới của đất nước, công tác quản lý ngân sách nhà nước (NSNN) đã có những thay đổi cơ bản và từng bước nâng cao chất lượng góp phần tăng trưởng và phát triển kinh tế, giải quyết những vấn đề bức thiết về kinh tế - xã hội (KT-XH). Theo nhiệm vụ được giao, Kho bạc Nhà nước (KBNN) Thanh Trì luôn thực hiện tốt việc quản lý NSNN; thông qua công tác kiểm soát chi (KSC) NSNN, giúp cho các đơn vị sử dụng ngân sách (ĐVSDNS) quản lý và sử dụng kinh phí một cách đúng mục đích, tiết kiệm và hiệu quả. Kết quả công tác KSC đã góp phần nâng cao hiệu quả, chất lượng sử dụng kinh phí của các ĐVSDNS, mặt khác góp phần làm lành mạnh nền tài chính, thể hiện sự dân chủ và nâng cao tính công khai, minh bạch, trong việc sử dụng nguồn lực tài chính quốc gia, phù hợp với yêu cầu của quá trình đổi mới chính sách tài chính khi đất nước hội nhập với nền tài chính thế giới.
Tuy nhiên vẫn còn nhiều hạn chế xảy ra trong quá trình thực hiện. Tình trạng “ kém hiệu quả, lãng phí, thất thoát trong sử dụng NSNN; các khoản chi còn vượt dự toán đầu năm nên thường xuyên xảy ra việc bổ sung, điều chỉnh dự toán dễ phát sinh tiêu cực; cơ chế quản lý chi NSNN còn bị động, thiếu kiểm soát, nhiều vấn đề cấp bách chưa được xử lý thích đáng, kịp thời; công tác điều hành ngân sách còn nhiều bất cập; vai trò quản lý quỹ NSNN của KBNN Thanh Trì chưa được coi trọng đúng mức; năng lực KSC NSNN qua KBNN còn tồn tại những hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu, nhiệm vụ. Do đó tăng cường chất lượng công tác KSC NSNN qua KBNN là nhiệm vụ quan trọng và cần được thực hiện kịp thời, khoa học, hệ thống. Xuất phát từ thực tế và mong muốn đóng góp thiết thực nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác KSC NSNN trên địa bàn, học viên lựa chọn đề tài: “Nâng cao chất lượng công tác kiểm soát chi ngân sách nhà nước qua Kho bạc Nhà nước Thanh Trì”.
Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan Hoạt động nghiên cứu khoa học về lĩnh vực NSNN đã có từ lâu đời ở nước ta, ngay từ khi giành được độc lập năm 1945 với sự ra đời của Bộ Tài chính đã đặt ra yêu cầu nghiên cứu về NSNN và quản lý NSNN. Hệ thống KBNN Việt Nam trực thuộc Bộ Tài chính chính thức đi vào hoạt động từ ngày 01/04/1990. Xuyên suốt quá trình hoạt động, KBNN luôn có những chính sách đổi mới và nâng cao chất lượng trên các mặt bộ máy quản lý, cơ cấu tổ chức, các chính sách chế độ của Nhà nước, chức năng, nhiệm vụ nhằm đáp ứng sự phát triển toàn diện và bền vững của Đất nước. Điều đó thể hiện thông qua việc sửa đổi bổ sung Luật NSNN, được Quốc hội khóa 13, kỳ họp thứ 9 thông qua ngày 25/06/2015, có hiệu lực thi hành từ năm ngân sách 2017; chiến lược phát triển hệ thống KBNN trong từng thời kỳ; những nghiên cứu khoa học trong và ngoài ngành; các đề tài khoa học, các hội thảo; các bài báo, luận văn về KBNN với nhiều góc độ khác nhau, có thể khái quát một số nghiên cứu liên quan đến luận văn với nội dung cơ bản như sau: Các Luận án Tiến sỹ nghiên cứu về đề tài liên quan đến quản lý chi NSNN qua KBNN có một số Luận án điển hình như sau: Ngay từ những ngày khởi đầu trong hoạt động của KBNN, luận án Đổi mới và hoàn thiện hoạt động của Hệ thống KBNN trong điều kiện chuyển sang kinh tế thị trường năm 1993 của nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Bất tại trường Đại học Kinh tế quốc dân được lưu trữ tại Thư viện Quốc gia đã đưa ra được hệ thống 3 nhóm giải pháp trọng tâm nhằm đổi mới và hoàn thiện hoạt động của Hệ thống KBNN Việt Nam gồm: đổi mới hoàn thiện cơ chế quản lý thu, chi NSNN trực tiếp qua KBNN, hoàn thiện cơ chế tín dụng Nhà nước qua Kho bạc và hoàn thiện tổ chức bộ máy của Hệ thống KBNN ở Việt Nam.
Tuy nhiên Luận án chưa đi sâu vào thực trạng KSC NSNN, chưa đề xuất được giải pháp nhằm hướng tới nâng cao chất lượng công tác KSC NSNN, quy trình thực hiện KSC, công cụ thực hiện KSC và đổi mới công tác tổ chức thực hiện các cơ chế, chính sách về KSC NSNN… 3 Ngay từ những ngày đầu trong công cuộc cải cách để phù hợp với sự phát triển của nền kinh tế, đề tài nghiên cứu cấp bộ của TS. Lê Thị Băng Tâm (1997) lưu tại thư viện quốc gia Việt Nam đã đi sâu vào vấn đề “Đổi mới và hoàn thiện cơ chế cấp phát và kiểm soát chi NSNN” nhận định “cơ chế cấp phát và kiểm soát chi NSNN là nhân tố quan trọng trong chu trình quản lý chi NSNN, hoàn thiện đổi mới cơ chế cấp phát và kiểm soát chi sẽ hỗ trợ nâng cao chất lượng của công tác kiểm soát, thanh toán các khoản chi NSNN qua KBNN”. Luận án chủ yếu sử dụng phân tích định tính, đề cập đến khái niệm chất lượng nhưng tương đối sơ sài và mới trình bày một yếu tố ảnh hưởng chất lượng kiểm soát đó là cơ chế trong cấp phát và kiểm soát. Trong nghiên cứu khoa học cấp bộ của PGS.TS Hà Đức Trụ (2000) với tựa đề “Đổi mới cơ chế quản lý quỹ NSNN trong hệ thống KBNN giai đoạn 2001- 2010” nêu lên: “Để quản lý quỹ NSNN cho phù hợp với sự phát triển của Việt Nam trong giai đoạn 2001-2010, trước hết phải có cơ chế, chính sách, những định hướng cơ bản; đồng thời phân định rõ trách nhiệm của các cơ quan quản lý NSNN, trong đó CQTC và KBNN là hai cơ quan chịu trách nhiệm chính trong việc thực hiện đổi mới cơ chế quản lý quỹ NSNN”.
Đây là điểm nhìn nhận mới về sự hài hòa trong mối quan hệ và sự phối hợp công tác của các đơn vị chính yếu liên quan đến vấn đề KSC NSNN. ” Một luận án khác lưu trữ tại Thư viện Quốc gia của NSC Lê Ngọc Châu (2004), Học viện Tài chính là “Một số giải pháp nhằm tăng cường kiểm soát chi NSNN qua KBNN trong điều kiện ứng dụng tin học” đã hệ thống hóa và làm rõ thêm những vấn đề lý luận về: chi NSNN và KSC NSNN; ứng dụng tin học trong KSC NSNN qua Hệ thống KBNN; những yếu tố tác động đến chất lượng, hiệu quả KSC NSNN trong điều kiện ứng dụng tin học. Tuy nhiên, các lý thuyết về KSC mà Luận án đề cập tới mới dừng lại ở các cơ chế chính sách của Nhà nước về KSC NSNN, các công cụ được sử dụng trong KSC chưa được đề cập một cách toàn diện. Luận án chưa tiếp cận đối tượng nghiên cứu từ góc độ: thực tiễn công tác KSC NSNN tại các đơn vị KBNN các cấp; thực trạng thực hiện NSNN các ĐVSDNS; 4 kiểm soát hồ sơ, chứng từ đối với từng khoản chi NSNN tại đơn vị KBNN các cấp… chính vì vậy một số giải pháp đưa ra có một số hạn chế nhất định.
Một đề tài nghiên cứu cấp bộ khác được chủ trì bởi chủ nhiệm Nguyễn Thị “ Nhơn (2010) - Tổng Giám đốc KBNN về “Triển khai chiến lược phát triển KBNN đến năm 2020” chỉ ra rằng “cần nâng cao công tác quản lý quỹ NSNN và các quỹ tài chính gắn với mục tiêu đổi mới toàn diện quy trình nghiệp vụ, cơ chế chính sách theo xu hướng đơn giản hóa, hiện đại hóa, công khai, minh bạch và phù hợp thông lệ quốc tế”. Tuy nhiên nhìn nhận của tác giả mới ở định hướng tổng quan chưa đi sâu vào chỉ rõ đổi mới cơ chế chính sách thì ai cần làm gì, ai chịu trách nhiệm chính, đổi mới quy trình nghiệp vụ ở bước nào… sẽ đem lại chất lượng KSC NSNN ra sao. Và một loạt các bài viết trên tạp chí Quản lý ngân quỹ Quốc gia đề cập đến công tác KSC NSNN qua KBNN như bài viết của TS. Nguyễn Đức Thanh, “Quản lý, thanh toán vốn đầu tư công theo hợp đồng và vai trò của KBNN”, Tạp chí Quản lý ngân quỹ Quốc gia, số 1+2/2012, đã có những đánh giá, phân tích các quy định về kiểm soát, thanh toán liên quan đến hợp đồng xây dựng và đưa ra được 4 nhóm giải pháp theo hướng gợi mở, cần tiếp tục nghiên cứu bổ sung để hoàn thiện việc KSC theo hợp đồng trong thời gian tới, đặc biệt là khi triển khai việc xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực KBNN theo Nghị định 192/2013/NĐ-CP của Chính phủ.
Bài viết của Nguyễn Văn Hoan, “Một số trao đổi về quy trình kiểm soát chi một cửa qua KBNN”, Tạp chí Quản lý ngân quỹ Quốc gia, số 5/2012, nêu lên thực trạng thực hiện quy trình KSC NSNN một cửa qua KBNN qua đó đã đề xuất sửa đổi quy trình theo hướng “Giao dịch một cửa trong kiểm soát chi NSNN qua KBNN là việc giải quyết công việc từ khâu hướng dẫn, tiếp nhận hồ sơ giấy tờ và trả kết quả tại một đầu mối là cán bộ KBNN được phân công nhiệm vụ quản lý đơn vị (khách hàng) đó”. Có thể nói đây là một giải pháp tình thế, phù hợp với giai đoạn 5 hiện nay, tuy nhiên về lâu về dài cần thay đổi, cho đúng với quy định về giao dịch một cửa. Bài viết của Trần Mạnh Hà, “Một số điểm mới về cơ chế kiểm soát chi thường xuyên của NSNN qua KBNN theo quy định tại Thông tư 161/2012/TT- BTC”, Tạp chí Quản lý ngân quỹ Quốc gia, số 12/2012, nêu lên được những điểm mới của cơ chế KSC thường xuyên theo Thông tư số 161/2012/TT-BTC của Bộ Tài chính, những nội dung cần quan tâm trong công tác KSC thường xuyên, góp phần giúp công chức được giao nhiệm vụ KSC thực hiện đúng quy định. Tuy nhiên tác giả chưa chỉ ra được những tồn tại liên quan đến việc thực hiện Thông tư này.
Về lý luận và thực tiễn, các tác giả đã đưa ra nhiều những vấn đề quan trọng liên quan đến công tác KSC NSNN. Đánh giá kết quả đạt được, nêu lên những hạn chế, từ đó tìm ra những giải pháp hiệu, đề xuất những kiến nghị để nâng cao chất lượng công tác KSC của NSNN qua KBNN. Tác giả thấy rằng tất cả các công trình nghiên cứu, các bài viết trên tạp chí đã công bố nói trên là những tài liệu hết sức quý giá của về lý luận và thực tiễn.