CHƯƠNG 1 Chương thứ nhất của luận văn được tác giả trình bày có 8 phần. Ba phần đầu tiên trình bày về tính cấp thiết của việc thực hiện đề tài nghiên cứu cùng với 2 mục tiêu chung và cụ thể cần hướng đến và nhiệm vụ đặt ra của luận văn cần phải làm. Ba phần tiếp theo là các câu hỏi nghiên cứu, phương pháp cùng với đối tượng và phạm vi nghiên cứu mà luận văn dự kiến sẽ hướng tới để có thể hoàn thành nhiệm vụ. Hai phần còn lại tác giả dành để trình bày về những đóng góp mới về thực tiễn và học thuật mà luận văn có thể có được sau khi hoàn thành cùng với kết cấu của luận văn.
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2. Các khái niệm có liên quan 2. Cán bộ Từ “cán bộ” đã được đông đảo nhân dân từ lâu lấy làm mến mộ nhất là vào thời kỳ sau năm 1945 và sau 1954 cũng như sau năm 1975 là những cột mốc quan trọng của lịch sử cận đại và hiện đại của Việt Nam khi người ta hàm ý hiểu rằng người cán bộ là người làm Cách mạng và là người được Đảng, Nhà nước và toàn dân giao cho những trọng trách quan trọng của quốc gia. Theo từ điển tiếng Việt định nghĩa về cán bộ: “Cán bộ là người làm công tác nghiệp vụ chuyên môn trong cơ quan Nhà nước, người làm công tác có chức vụ trong một cơ quan, một tổ chức”.
Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Cán bộ chính là những người đem chính sách của Đảng, của Chính phủ giải thích cho dân chúng hiểu rõ và thi hành. Đồng thời đem tình hình của dân chúng báo cáo cho Đảng, cho Chính phủ hiểu rõ, để đặt chính sách cho đúng”. Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã chỉ ra rằng: “Cán bộ là người có trách nhiệm truyền tải đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đến với quần chúng để quần chúng hiểu cho rõ và tổ chức, vận động quần chúng thi hành. Đồng thời, cán bộ cũng là người có trọng trách phải gần gũi nhân dân, nắm được tâm tư nguyện vọng, những bức xúc của quần chúng nhân dân phản ánh với Đảng, Nhà nước để Đảng, Nhà nước đề ra chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật cho đúng, phù hợp với quy luật vận động, phát triển và đáp ứng được yêu cầu, nguyện vọng chính đáng của quần chúng nhân dân”.
Với trọng trách mà Đảng và Nhà nước giao cho, người cán bộ trở thành người trung gian giúp việc cho các cấp lãnh đạo chính quyền, phụng sự trong các cơ quan công quyền nhà nước và cũng là người gần gủi tiếp xúc với nhân dân. Vì vai trò của người Cán bộ vô cùng quan trọng, thế nên Nhà nước ta cũng đã ban hành một bộ Luật về Cán bộ-Công chức. Theo đó, tại: “khoản 1, điều 4 của luật này được ban hành vào ngày 13/11/2008, tại kỳ họp thứ 4 Quốc hội Khóa XII”, chỉ rõ rằng: “Cán bộ là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội”. Vì phạm trù về cán bộ là phạm trù thuộc về Nhà nước nên cũng không có nhiều cách hiểu, trong phạm vi luận văn này, tác giả tổng hợp về cách hiểu lĩnh vực cán bộ về bản chất như sau đây.
Bản chất thứ nhất: “Cán bộ bao gồm những người trong biên chế nhà nước, làm việc trong các cơ quan Đảng, Nhà nước, đoàn thể chính trị - xã hội, tổ chức xác định và các lực lượng vũ trang nhân dân từ Trung ương đến địa phương và cơ sở”. Bản chất thứ hai: “Cán bộ là những người giữ chức vụ trong một cơ quan hay một tổ chức để phân biệt với những người không có chức vụ”. Từ bản chất về cán bộ khác hoàn toàn với bản chất của một người công dân bình thường, tác giả tổng hợp về đặc điểm của cán bộ như sau: Đặc điểm thứ nhất về chế độ phê chuẩn cán bộ: “Cán bộ phải là người được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm dựa trên một số tiêu chuẩn cơ bản giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ đối với các cơ quan, tổ chức, đơn vị ở cấp Trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện (đặc trưng này phân biệt người cán bộ với người không có chức vụ, không có cương vị)”. Đặc điểm thứ hai về phạm vi công tác của cán bộ: “Cán bộ giữ chức vụ, chức danh hoạt động trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội.
Chức vụ, cương vị của người cán bộ liên quan đến việc lãnh đạo, quản lý, điều hành hoạt động của một tổ chức nhất định (đặc trưng này để phân biệt giữa cán bộ với những người cũng có chức vụ, cương vị nhưng không coi là cán bộ như trưởng tộc, hội đồng hương, đồng môn…)”. Đặc điểm thứ ba về thời gian công tác của người cán bộ: “Cán bộ công tác theo nhiệm kỳ. Nhiệm kỳ là thời gian giữ chức danh, chức vụ. Thời hạn đó thường được định ra trước trong các văn bản chính thức.
Cán bộ phải là người có uy tín, có vai trò nòng cốt, có tác động ảnh hưởng tích cực đến hoạt động của tổ chức, điều chỉnh mối quan hệ liên quan đến lãnh đạo, quản lý điều hành hoạt động, duy trì, thúc đẩy và định hướng sự phát triển của tổ chức”. Như vậy có thể thấy rằng người cán bộ bên cạnh là một công dân và có đủ quyền công dân như những người dân bình thường khác, cán bộ có những đặc quyền riêng đồng thời cũng phải thực hiện những nhiệm vụ và trọng trách nặng nề và quan trọng của đơn vị, tổ chức, nhà nước. Chất lượng đội ngũ cán bộ công chức Chất lượng có thể được hiểu theo nhiều cách khác nhau. Một trong những cách dễ hình dung nhất đối với khái niệm trừu tượng này, đó là việc so sánh, so sánh giữa đối tượng này với đối tượng khác để thấy được sự chênh lệnh lẫn nhau từ đó đúc rút ra sự khác biệt để có thể kết luận về chất lượng.
Hoặc người ta đem so sánh những gì đã được công bố về mặt lý thuyết, về mặt hình mẫu, về những gì thuộc hình thức cam kết, với những gì diễn ra thực tế mà người ta trải nghiệm được, để rồi từ đó đúc rút kết luận và sự việc ấy, đối tượng ấy có chất lượng hay không chất lượng. Theo Tổ chức kiểm tra chất lượng Châu Âu: “Chất lượng là mức độ phù hợp với yêu cầu của người tiêu dùng”. Theo tiêu chuẩn của nước Pháp: “Chất lượng là tiềm năng của một sản phẩm hay dịch vụ nhằm thỏa mãn nhu cầu người sử dụng”.Ăngghen: “Chất lượng là tổng thể những tính chất, thuộc tính cơ bản của sự vật hiện tượng làm cho sự vật hiện tượng này phân biệt với sự vật, hiện tượng khác”. Theo Từ điển tiếng Việt: “Chất lượng là cái làm nên phẩm chất, giá trị của sự vật hoặc là cái tạo nên bản chất sự vật, làm cho sự vật này khác sự vật kia”.
Từ những khái niệm đã có, có thể hiểu về chất lượng đội ngũ cán bộ đó là: “Chất lượng đội ngũ CBCC là chất lượng của từng CBCC và được thể hiện qua phẩm chất chính trị, phẩm chất đạo đức, trình độ năng lực, khả năng hoàn thành nhiệm vụ của mỗi CBCC được kết cấu như một tổng thể toàn diện và đội ngũ cán bộ đủ về số lượng, phù hợp về cơ cấu, đáp ứng được yêu cầu hoạt động theo chức năng của tổ chức”. Bên cạnh đó, chất lượng con người sẽ được đánh giá qua rất nhiều chỉ tiêu và tiêu chí. Trong khuôn khổ của luận văn này, tác giả định hướng sẽ sử dụng một số các tiêu chí như: “Thể lực, tâm lực, trí lực, cơ cấu đội ngũ CBCC và một số các tiêu chí khác”. Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ công chức Việc nâng cao chất lượng đội ngũ, phải xuất phát từ việc đánh giá chất lượng đội ngũ.
Theo đó, nếu đánh giá đúng sẽ có giải pháp trúng để nâng cao, ngược lại nếu việc đánh giá là sơ sài, đánh giá không đúng, có sự thiên vị và hoặc không có các phương pháp khoa học để đánh giá thì sẽ dẫn đến thực hiện một cách hình thức cho có, thực hiện theo kiểu đối phó kém chất lượng. Để triển khai nâng cao chất lượng, phải đứng trên một nền tảng vững chắc đó là những bộ tiêu chí và tiêu chuẩn đánh giá. Từ bộ tiêu chuẩn này sẽ đem đối sánh với các thực thể trong thực tế đã và đang thực hiện, xem liệu rằng những gì triển khai trong thực tế đạt được bao nhiêu phần trăm so với chuẩn đưa ra ban đầu. Chính vì vậy, để đánh giá chất lượng đội ngũ, cần có bộ tiêu chuẩn chất lượng đội ngũ trong đó nên lồng ghép các bản chất và chức năng liên quan đến vấn đề con người như thể lực, trí lực, tâm lực, cơ cấu và một số các yếu tố quan trọng khác về con người.
Tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ cán bộ công chức 2. Tiêu chí về thể lực Con người nói chung, đội ngũ lực lượng lao động cũng như CBCC nói riêng, muốn hoàn thành nhiệm vụ chắc chắn phải có một sức khỏe về thể chất, thể lực tốt cùng với trí tuệ minh mẫn. Đề cập đến thể lực, người ta thường xét đến cả hai yếu tố từ bên trong và bên ngoài của một cơ thể người. Yếu tố bên trong đó là nguồn nội lực sức khỏe dồi dào không bị các bệnh tật làm ảnh hưởng đến quá trình vận động và làm việc của người Cán bộ, yếu tố bên ngoài đó là sự cân đối về cơ thể như chiều cao, cân nặng, vóc dáng, kể cả mức độ ưa nhìn của khuôn mặt, bước đi và các phong thái khác.
Hiến chương của tổ chức Y tế thế giới đã nêu về sức khỏe đó là: “Sức khỏe là một trạng thái hoàn toàn thoải mái về thể chất, tinh thần và xã hội, chứ không phải là không có bệnh hoặc thương tật”. Đôi khi người ta đồng nghĩa giữa thể lực với sức khỏe, sự tương đồng này chỉ là tương đối nhưng cũng sẽ được xem xét và sức khỏe có thể được phân thành sức khỏe thể chất, sức khỏe tinh thần, sức khỏe xã hội. Các nội dung này được khái quát như sau đây. Sức khỏe thể chất của CBCC: “Được thể hiện một cách tổng quát là sự sảng khoái và thoải mái về thể chất.
Càng sảng khoái, thoải mái càng chứng tỏ bạn là người khoẻ mạnh.