Tổng quan nghiên cứu

Khảo sát thực tiễn về sự tham gia của công dân ghi nhận 73,5% người dân Việt Nam là thành viên của ít nhất một tổ chức xã hội, với mật độ tham gia trung bình đạt 2,33 tổ chức trên mỗi cá nhân. Cùng với tiến trình Đổi mới, số lượng hiệp hội hoạt động ở cấp độ quốc gia đã gia tăng mạnh mẽ từ 143 tổ chức vào năm 1995 lên 320 tổ chức vào năm 2005. Trong cấu trúc phát triển của một quốc gia hiện đại bao gồm ba trụ cột: Nhà nước, thị trường và xã hội dân sự, khu vực xã hội dân sự tại Việt Nam vẫn là mắt xích còn nhiều khoảng trống về nhận thức lý luận lẫn khuôn khổ pháp lý.

Vấn đề cốt lõi đặt ra là làm thế nào để xây dựng mối quan hệ hài hòa, tương hỗ giữa xã hội dân sự và Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Khi các đoàn thể quần chúng có xu hướng bị hành chính hóa và nhà nước hóa, việc phát huy tính tự chủ, năng động của các tổ chức xã hội dân sự trở thành yêu cầu cấp thiết để khơi dậy nguồn lực con người.

Mục tiêu cụ thể của luận văn là làm sáng tỏ quá trình hình thành, phát triển các tư tưởng về xã hội dân sự; phân tích thực trạng cấu trúc, chức năng của các tổ chức xã hội dân sự tại Việt Nam; và xác lập phương hướng hoàn thiện thể chế nhằm thúc đẩy sự phát triển của xã hội dân sự gắn liền với tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền.

Phạm vi nghiên cứu tập trung vào bối cảnh chính trị, pháp lý và xã hội của Việt Nam từ dấu mốc Đổi mới năm 1986 đến năm 2010, có đối chiếu với các mô hình lý luận kinh điển và dữ liệu đánh giá chỉ số xã hội dân sự từ hơn 50 quốc gia trên thế giới.

Ý nghĩa của công trình thể hiện ở việc xác lập cơ sở khoa học để đổi mới tư duy lập pháp, góp phần hoàn thiện khung chính sách về quyền lập hội, nâng cao năng lực phản biện xã hội và thúc đẩy chỉ số quản trị công minh bạch, hiệu quả tại Việt Nam.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được thiết lập dựa trên hệ thống nền tảng lý thuyết triết học chính trị và pháp lý vững chắc:

Thứ nhất, tư tưởng ngoài Mác-xít về xã hội dân sự qua các thời kỳ lịch sử. Từ thời kỳ Cổ Hy Lạp với quan niệm của Platon và Aristotle về nhà nước như một chính thể đạo đức gắn liền với phẩm hạnh công dân, đến thời kỳ Cận hiện đại với Thuyết Khế ước xã hội và thuyết phân chia quyền lực của Thomas Hobbes, John Locke, J.J. Rousseau và Montesquieu. Locke và Rousseau chỉ rõ xã hội có trước nhà nước; quyền lực nhà nước bắt nguồn từ sự thỏa thuận ủy quyền của công dân nhằm bảo vệ các quyền tự nhiên. Trong khi đó, G.W.F. Hegel coi xã hội dân sự là hệ thống các nhu cầu dựa trên chế độ tư hữu, tồn tại tách rời nhưng chịu sự quản lý chính trị của nhà nước lập hiến.

Thứ hai, quan điểm duy vật lịch sử của C.Mác và Ph.Ăng-ghen. C.Mác đã đảo ngược quan niệm duy tâm của Hegel và khẳng định: "Không phải Nhà nước chế định và quyết định xã hội công dân mà xã hội công dân chế định và quyết định Nhà nước". Xã hội dân sự là lĩnh vực của các quan hệ giao tiếp vật chất và quan hệ sản xuất, đóng vai trò cơ sở hạ tầng quyết định bản chất của kiến trúc thượng tầng nhà nước. Dưới chủ nghĩa xã hội, việc phân định giữa Nhà nước pháp quyền và xã hội dân sự nhằm giải phóng con người khỏi vị kỷ, hướng tới các cộng đồng lao động tự do tự giác.

Mô hình nghiên cứu vận dụng cấu trúc ba trụ cột quản trị: Nhà nước (quản lý bằng pháp luật và công cụ cưỡng chế), Thị trường (vận hành theo quy luật lợi nhuận) và Xã hội dân sự (không gian tự nguyện, phi lợi nhuận vì lợi ích cộng đồng).

Hệ thống khái niệm chính bao gồm:

  • Xã hội dân sự: Tổng thể các quan hệ, tổ chức và mạng lưới xã hội hoạt động theo nguyên tắc dân chủ, tự nguyện, tự chủ, tự trang trải kinh phí trong khuôn khổ pháp luật.
  • Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa: Hình thức tổ chức quyền lực nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, thượng tôn Hiến pháp và pháp luật.
  • Tổ chức xã hội dân sự (CSO): Các tổ chức quần chúng, hội nghề nghiệp, tổ chức phi chính phủ (NGO) và nhóm cộng đồng hoạt động phi lợi nhuận.
  • Xã hội công dân: Thể chế xã hội bảo đảm sự bình đẳng pháp lý và quyền tự do của mọi công dân.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, kết hợp các phương pháp nghiên cứu chuyên ngành: phân tích, tổng hợp, diễn dịch, quy nạp và luật học so sánh. Phương pháp luật học so sánh được lựa chọn nhằm đối chiếu kinh nghiệm thể chế hóa tổ chức xã hội của Việt Nam với các quốc gia trong khu vực như Thái Lan (nơi có 11.000 CSO), Malaysia và các nước phát triển như Hungary (40.000 tổ chức) hay Hoa Kỳ (1,5 triệu tổ chức phi lợi nhuận).

Nguồn dữ liệu phân tích bao gồm hai hợp phần chính:

  • Cỡ mẫu thực nghiệm: Phân tích số liệu từ cuộc khảo sát 322 tổ chức công dân tại Thành phố Hồ Chí Minh về cơ cấu quản trị và trình độ học vấn của đội ngũ nhân sự; kết hợp bộ chỉ số nghiên cứu CSI (Civil Society Index) thực hiện tại hơn 50 quốc gia theo phương pháp luận của Liên minh Toàn cầu vì sự tham gia của công dân (CIVICUS) và Báo cáo Đánh giá ban đầu về Xã hội dân sự tại Việt Nam năm 2006 do VIDS, UNDP và SNV triển khai.
  • Dữ liệu văn bản pháp lý: Hệ thống các văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc từ khóa VI đến khóa X; các bản Hiến pháp năm 1946, 1959, 1980, 1992; Sắc lệnh số 103/SL/L004 năm 1957 về quyền lập hội; Nghị định 88/2003/NĐ-CP; Nghị định 148/2007/NĐ-CP; và Quyết định 22/2002/QĐ-TTg về hoạt động tư vấn, phản biện xã hội.

Khung thời gian nghiên cứu tập trung chuyên sâu vào giai đoạn đổi mới thể chế từ năm 1986 đến năm 2010.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Quá trình phân tích thực chứng và đối chiếu thể chế mang lại 4 phát hiện quan trọng:

Thứ nhất, mật độ tham gia tổ chức xã hội tại Việt Nam ở mức rất cao nhưng mức độ tự giác chưa đồng đều. Khảo sát chỉ ra rằng trung bình mỗi người dân tham gia 2,33 tổ chức xã hội, cao hơn 150% so với Trung Quốc (0,93 tổ chức/người) và cao hơn 170% so với Singapore (0,86 tổ chức/người). Tỷ lệ người dân tham gia vào ít nhất một tổ chức đạt 73,5%. Tuy nhiên, phần lớn sự tham gia này tập trung vào các đoàn thể nhân dân truyền thống mang tính chất hành chính hóa, tỷ lệ tham gia chủ động và tự nguyện thực chất còn hạn chế.

Thứ hai, số lượng các tổ chức xã hội dân sự tăng trưởng nhanh nhưng phân bố không đồng đều giữa các nhóm. Từ 143 hiệp hội cấp quốc gia vào năm 1995 đã tăng trưởng 123,8% lên 320 hiệp hội vào năm 2005. Đến năm 2010, cả nước đã hình thành gần 300 hội toàn quốc, hơn 2.000 hội cấp tỉnh, thành phố và hàng chục vạn hội cấp cơ sở. Cấu trúc xã hội dân sự Việt Nam được định hình thành 7 nhóm chủ thể, trong đó Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể thành viên giữ vai trò nòng cốt với mạng lưới phủ kín từ trung ương đến cơ sở.

Thứ ba, sự phân hóa rõ nét về chất lượng nguồn nhân lực giữa các loại hình tổ chức. Khảo sát 322 tổ chức công dân tại Thành phố Hồ Chí Minh chỉ ra rằng khối hội nghề nghiệp ngoài quốc doanh sở hữu tỷ lệ lãnh đạo có trình độ học vấn cao nhất, với 22% có trình độ Tiến sĩ và 24% có trình độ Thạc sĩ (tổng cộng 46% sau đại học). Ngược lại, tỷ lệ này ở các cơ quan nhà nước chỉ là 3% và ở các đoàn thể nhân dân chỉ đạt 1%. Ngược lại, khối cơ quan nhà nước chiếm ưu thế tuyệt đối về tỷ lệ nhân viên có trình độ Đại học và Cao đẳng với 71%, trong khi tỷ lệ này ở các đoàn thể nhân dân là 29% và các dạng tổ chức khác là 52%.

Thứ tư, sự phụ thuộc lớn về nguồn lực và rào cản pháp lý vận hành. Nguồn tài chính của các đoàn thể quần chúng phụ thuộc chủ yếu vào ngân sách nhà nước, trong khi các tổ chức phi chính phủ địa phương dựa phần lớn vào các nguồn tài trợ quốc tế. Cơ chế phối hợp liên tổ chức còn phân tán; việc tiếp cận thông tin chính sách và phản biện xã hội vẫn gặp rào cản do thiếu các quy định pháp lý hướng dẫn chi tiết.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân sâu xa của thực trạng trên bắt nguồn từ giai đoạn lịch sử 1975–1986, khi cơ chế bao cấp dẫn đến việc hành chính hóa hầu hết các tổ chức quần chúng, làm triệt tiêu tính chủ động và năng lực tự chủ tài chính. Khi bước vào nền kinh tế thị trường, nhận thức của một bộ phận cán bộ về xã hội dân sự vẫn còn e ngại, định kiến, chưa phân biệt rõ giữa tổ chức xã hội dân sự lành mạnh với các hoạt động tranh chấp quyền lực chính trị.

Khi so sánh với kinh nghiệm quốc tế, các tổ chức xã hội dân sự tại các nước phát triển đóng vai trò là nhà cung ứng dịch vụ công chuyên nghiệp và giảm tải gánh nặng ngân sách cho nhà nước. Tại Việt Nam, không gian xã hội dân sự đang mở rộng nhưng cấu trúc mang đặc điểm rộng về số lượng hội viên nhưng chưa sâu về chất lượng vận hành độc lập.

Về mặt biểu diễn dữ liệu, các phát hiện trên có thể được minh họa trực quan thông qua:

  • Biểu đồ cột so sánh mật độ tham gia tổ chức xã hội giữa Việt Nam (2,33), Trung Quốc (0,93) và Singapore (0,86).
  • Biểu đồ tròn thể hiện cơ cấu trình độ học vấn của các nhà quản lý, làm nổi bật sự vượt trội về trình độ sau đại học (46%) tại các hội nghề nghiệp ngoài quốc doanh so với khối đoàn thể (1%).
  • Bảng ma trận phân loại 7 nhóm tổ chức xã hội dân sự theo tiêu chí nguồn vốn, cơ cấu thành viên và mức độ liên kết với Nhà nước.

Ý nghĩa lý luận rút ra khẳng định: Xã hội dân sự không hề đối lập mà là nền tảng tất yếu của Nhà nước pháp quyền. Một Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa vững mạnh của nhân dân chỉ có thể được vận hành hiệu quả khi có một xã hội dân sự phát triển tự chủ, lành mạnh và có trách nhiệm giải trình cao.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả nghiên cứu, 4 nhóm giải pháp chiến lược được đề xuất nhằm phát triển xã hội dân sự đồng bộ với tiến trình hoàn thiện Nhà nước pháp quyền:

Thứ nhất, hoàn thiện khung khổ pháp lý và ban hành Luật về Hội. Quốc hội cần sớm đưa dự án Luật về Hội vào chương trình xây dựng luật và thông qua trong giai đoạn 2011–2015. Mục tiêu là thay thế Sắc lệnh năm 1957, đơn giản hóa 100% thủ tục hành chính về đăng ký thành lập hội, chuyển từ cơ chế xin - cho sang cơ chế đăng ký công khai và tạo hành lang pháp lý minh bạch cho hơn 3.000 hội đoàn hoạt động đúng tôn chỉ.

Thứ hai, đổi mới cơ chế tài chính và phi hành chính hóa các tổ chức xã hội. Chính phủ và Bộ Tài chính cần ban hành chính sách đấu thầu dịch vụ công, áp dụng ưu đãi thuế cho các quỹ xã hội, từ thiện. Đặt mục tiêu nâng tỷ lệ tự chủ tài chính của các tổ chức xã hội lên mức tối thiểu 50% trước năm 2020, giảm dần sự bao cấp trực tiếp từ ngân sách nhà nước đối với các hoạt động phong trào thuần túy.

Thứ ba, chuẩn hóa và đào tạo đội ngũ cán bộ chuyên trách. Bộ Nội vụ phối hợp cùng Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và Liên hiệp các hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) xây dựng khung đào tạo nghiệp vụ quản trị tổ chức phi lợi nhuận. Phấn đấu đến năm 2015 có 80% cán bộ lãnh đạo các tổ chức xã hội được bồi dưỡng chuyên sâu về kỹ năng điều hành, vận động chính sách và quản trị dự án.

Thứ tư, thể chế hóa cơ chế tư vấn, giám sát và phản biện xã hội. Ban Chấp hành Trung ương Đảng và Chính phủ cần ban hành quy chế bắt buộc 100% các dự thảo văn bản quy phạm pháp luật và chương trình phát triển kinh tế - xã hội trọng điểm phải qua quy trình lấy ý kiến phản biện độc lập của các tổ chức xã hội chuyên môn trước khi trình cấp có thẩm quyền phê duyệt.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Luận văn là tài liệu tham khảo giá trị cho 4 nhóm đối tượng trọng tâm:

  1. Cơ quan lập pháp và cơ quan hoạch định chính sách (Ủy ban Pháp luật của Quốc hội, Bộ Nội vụ, Ban Dân vận Trung ương): Cung cấp cơ sở lý luận Mác-xít vững chắc và luận cứ thực tiễn phục vụ việc thẩm tra, xây dựng dự thảo Luật về Hội cũng như hoàn thiện cơ chế dân chủ ở cơ sở.

  2. Lãnh đạo các tổ chức phi chính phủ và hiệp hội nghề nghiệp (VUSTA, các liên hiệp hội và NGO địa phương): Cung cấp bức tranh toàn cảnh về thực trạng nguồn nhân lực và thể chế, hỗ trợ các nhà quản trị hoạch định chiến lược đa dạng hóa nguồn tài chính và nâng cao hiệu quả phản biện chính sách.

  3. Giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học chuyên ngành Luật học, Lý luận Nhà nước và Pháp luật, Khoa học Chính trị: Cung cấp nguồn tài liệu học thuật hệ thống về lịch sử tư tưởng triết học chính trị phương Tây, quan điểm Mác - Lênin và số liệu khảo sát thực chứng 322 tổ chức tại Việt Nam.

  4. Các tổ chức quốc tế và đối tác phát triển (UNDP, SNV, CIVICUS, Ngân hàng Thế giới): Cung cấp góc nhìn khách quan, chuẩn xác về đặc thù chính trị - xã hội của Việt Nam, giúp tối ưu hóa thiết kế các chương trình tài trợ dự án phát triển cộng đồng và nâng cao năng lực quản trị công.

Câu hỏi thường gặp

  1. Xã hội dân sự có đối lập với bản chất của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam không? Hoàn toàn không đối lập. Theo học thuyết Mác - Lênin, xã hội dân sự là cơ sở tự nhiên và quyết định nhà nước. Xã hội dân sự tại Việt Nam giữ vai trò bổ trợ, phối hợp cùng Nhà nước giải quyết các vấn đề an sinh xã hội, bảo vệ quyền lợi hợp pháp của nhân dân và kiểm soát việc thực thi quyền lực công thông qua cơ chế phản biện xã hội.

  2. Cấu trúc xã hội dân sự Việt Nam gồm những nhóm thành phần chủ yếu nào? Theo báo cáo đánh giá của VIDS và CIVICUS, xã hội dân sự Việt Nam được cấu thành bởi 7 nhóm chính: Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể quần chúng; các tổ chức liên hiệp; các hội nghề nghiệp; các tổ chức phi chính phủ (NGO) trong nước; các nhóm cộng đồng không chính thức; các tổ chức tín ngưỡng từ thiện; và các tổ chức phi chính phủ quốc tế.

  3. Thực trạng chất lượng nguồn nhân lực tại các tổ chức xã hội dân sự Việt Nam phân bố ra sao? Khảo sát 322 tổ chức tại Thành phố Hồ Chí Minh cho thấy sự phân hóa lớn: Khối hội nghề nghiệp ngoài quốc doanh có tỷ lệ quản lý trình độ sau đại học cao nhất (22% Tiến sĩ, 24% Thạc sĩ), trong khi khối cơ quan nhà nước và đoàn thể quần chúng chủ yếu tập trung nhân sự trình độ cử nhân (71%) và tỷ lệ sau đại học chỉ chiếm 1% đến 3%.

  4. Vì sao việc sớm ban hành Luật về Hội lại mang ý nghĩa then chốt? Luật về Hội sẽ tạo hành lang pháp lý thống nhất thay thế các quy định cũ, giúp hơn 2.300 hội cấp tỉnh và toàn quốc hoạt động minh bạch, thuận lợi trong việc huy động vốn xã hội, bảo đảm quyền lập hội theo Hiến pháp và ngăn ngừa nguy cơ lợi dụng danh nghĩa tổ chức xã hội để vi phạm pháp luật.

  5. Mối quan hệ giữa kinh tế thị trường định hướng XHCN và xã hội dân sự được thể hiện thế nào? Kinh tế thị trường giải phóng quyền tự do kinh doanh và quyền sở hữu, tạo tiền đề kinh tế độc lập cho công dân. Nền kinh tế thị trường phát triển đòi hỏi các hiệp hội ngành nghề và tổ chức xã hội ra đời để liên kết, bảo vệ quyền lợi hội viên và hỗ trợ nhà nước điều tiết các khiếm khuyết thị trường.

Kết luận

  • Luận văn khẳng định xã hội dân sự là thực thể khách quan, là nền tảng kinh tế - xã hội quyết định sự hình thành và vận hành của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam.
  • Thực tiễn ghi nhận sự phát triển nhanh chóng của các tổ chức xã hội dân sự với 73,5% người dân tham gia và hơn 320 hiệp hội cấp quốc gia, nhưng mô hình vận hành còn bị hành chính hóa.
  • Nghiên cứu chỉ ra nghịch lý phân bổ nguồn nhân lực khi khối hội ngoài quốc doanh sở hữu 46% cán bộ có trình độ thạc sĩ, tiến sĩ nhưng chưa được khai phóng tối đa không gian hoạt động.
  • Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng và xây dựng Nhà nước phục vụ là tiền đề tiên quyết để chuyển đổi vai trò của các tổ chức xã hội dân sự từ thụ động sang đối tác kiến tạo phát triển.
  • Xác lập 4 giải pháp đồng bộ: ban hành Luật về Hội, đa dạng hóa nguồn tài chính, chuẩn hóa 80% cán bộ chuyên trách và thể chế hóa 100% cơ chế phản biện xã hội bắt buộc.

Đóng góp quan trọng nhất của luận văn là làm sáng tỏ bản chất duy vật lịch sử của mối quan hệ giữa xã hội dân sự và Nhà nước pháp quyền, khắc phục những ngộ nhận lý luận và định kiến thực tiễn.

Giai đoạn 2011–2020 đòi hỏi các nhà lập pháp và cơ quan quản lý cần khẩn trương hoàn thiện thể chế quyền lập hội, chuyển đổi mạnh mẽ từ tư duy bao cấp sang cơ chế hợp tác công - tư bình đẳng.

Các nhà khoa học, nhà quản lý và các tổ chức xã hội hãy tích cực khai thác những phát hiện của công trình này để chung tay hoàn thiện thể chế quản trị quốc gia, thúc đẩy một xã hội dân chủ, công bằng và văn minh.