Chương 1 MOT SO VAN DE LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUAT VE BAO VỆ QUYEN DOI VOI DU LIEU CA NHAN TREN KHONG GIAN MANG 1. Bao vệ quyền đối với dữ liệu cá nhân trên không gian mang 1. Dữ liệu cá nhân 1. Khái niệm dữ liệu Theo quan điểm của AnalytixLabs [70], “đữ liệu” về mặt từ ngữ xuất phát từ tiếng La-tinh với tên gọi “Datum”, được dịch gần với nghĩa là “mang đến cái gì đó” (something given).
Dữ liệu ở dạng thô, chưa được tổ chức, chưa được phân tích, chưa bị gián đoạn và không liên quan được sử dụng trong các ngữ cảnh khác nhau. Ví dụ, sự kiện và số liệu thống kê được thu thập bởi các nhà nghiên cứu cho việc phân tích của họ có thé được gọi chung là dit liệu. Về bản chat, dữ liệu thiếu tính thông tin và tương đối khiến nó trở nên vô nghĩa trừ khi nó được đặt cho một mục đích hoặc phương hướng dé đạt được ý nghĩa của nó. Những khi dữ liệu được phân tích, cầu trúc và được đặt trong ngữ cảnh cụ thé dé biến nó trở nên hữu dụng, chúng ta thu được thông tin [70].
Theo Từ điển Merriam-Webster, “đữ liệu” (data) được hiểu bao gồm nhiều nghĩa là: (1) Thông tin thực tế (ví dụ như đo lường và thống kê) được sử dụng làm cơ sở cho lý luận, thảo luận hoặc tính toán; (2) Thông tin ở dạng kỹ thuật số có thé được truyền hoặc xử lý; (3) Thông tin đầu ra bởi một thiết bị hoặc cơ quan cảm biến bao gồm của thông tin hữu ích, thông tin không liên quan, hoặc thông tin dư thừa, và phải được trải qua xử lý để trở nên có nghĩa [68]. Khái niệm “dữ liệu” hiểu theo nghĩa rộng, theo Đại Từ điển Tiếng Việt, “dit liệu” là những thông tin như văn bản, số liệu, âm thanh, hình ảnh. được biểu diễn trong máy tính dưới dạng quy ước, nhằm tạo sự dễ dàng cho việc lưu trữ, xử lý. Hiểu theo nghĩa này, chỉ những thông tin đã được định dạng dưới hình 13 thức lưu trữ nhất định mới được coi là dữ liệu.
Các thông tin mang tính chất “tin tức”, “sự kiện” trong đời sống xã hội mà chưa được định dạng, lưu trữ thì không được coi là dữ liệu [10]. Ngoài ra, hiểu theo nghĩa hẹp hơn, Luật Giao dịch điện tử 2005 của Việt Nam đưa ra định nghĩa về “dữ liệu” /à thong tin dưới dang ký hiệu, chữ viết, chữ số, hình ảnh, âm thanh hoặc dạng tương tự (Điều 4). Tuy nhiên, các khái niệm được đưa ra tại Luật Giao dịch điện tử chỉ giới hạn trong phạm vi điều chỉnh của luật này, do vậy, việc hiểu theo nghĩa rộng sẽ phù hợp hơn trong mục đích nghiên cứu tại luận văn này. Trong xã hội hiện nay, với sự phát triển của công nghệ hiện đại và sự ra đời của các phương tiện điện tử.
Dữ liệu có thể bao gồm dữ liệu giấy và dữ liệu điện tử, tuy nhiên trong phạm vi nghiên cứu của đề tài này, dữ liệu mà tác giả muốn đề cập tới chỉ bao gồm dữ liệu điện tử. Từ những cách hiểu trên thé giới nói chung và Việt Nam nói riêng, và dựa vào phạm vi nghiên cứu của đề tài, tác giả đưa ra định nghĩa về “dữ liệu” như sau: Dữ liệu là các thông tin đã được định dạng dưới hình thức nhất định như văn bản, số liệu, âm thanh, hình ảnh hoặc dạng tương tự, ton tại trên môi truong điện tử. Dé có ý nghĩa cụ thé, dữ liệu cần qua xử lý hoặc được đặt trong ngữ cảnh cụ thê. Khái niệm dit liệu cá nhân Theo Quy định bảo vệ dữ liệu chung (General Data Protection Regulation — GDPR) của Liên minh châu Âu số 2016/679 đưa ra định nghĩa về “Dữ liệu cá nhân” tại Điều 4 như sau: “di liệu cá nhân” nghĩa là bất kỳ thông tin nào liên quan đến việc định danh hoặc có thể định danh một thé nhân được gọi là “chủ thé dữ liệu ”.
“Người được định danh” có thể được xác định một cách trực tiếp, hoặc gián tiếp, qua Việc dan chiếu đến số định danh cá nhân hoặc tới một hoặc nhiễu yếu tổ cụ thể, đặc trưng cho thể chất, tâm lý, di truyền, tâm thân, kinh tế, văn hóa hoặc xã hội [63]. Theo phân tích của Viện Dai học Châu Âu trong ấn phẩm về “Thực hành tốt bao vệ đữ liệu cá nhân trong nghiên cứu” [63] có đưa ra nội hàm của thuật ngữ “Dữ liệu cá nhân” bao gôm bat kỳ loại thông tin nào vê một con người. Nó có thê bao 14 gồm thông tin “khách quan” như độ tuổi của chủ thể dữ liệu và thông tin “chủ quan” như quan điểm hay đánh giá đối với chủ thể dữ liệu. Các thông tin thường được dẫn chiếu để định danh một cá nhân có thể kể đến như tên gỌI, số định danh, dữ liệu về vị trí, một hoặc một số yếu tố cụ thể về chủng tộc, nguồn sốc dân tộc, thé chất, sinh lý, di truyền, tâm thần, quan điểm chính trị, tôn giáo hoặc niềm tin triết học, thành viên công đoàn, các yếu tổ liên quan đến tình trang sức khỏe, tình hình kinh tế, đặc trưng văn hóa, xã hội, xu hướng tính dục của cá nhân (thé nhân) đó.
Dữ liệu được coi là dé liệu cá nhân khi có thé định danh cá nhân một cách độc lap, trực tiếp; hoặc thông qua việc phân tích, xử lý, hoặc kết hợp với nhiều thông tin khác liên quan đến cá nhân. Tuy nhiên, nếu một người không thể được định danh một cách trực tiếp hoặc gián tiếp từ thông tin, dữ liệu được cung cấp, thông tin, dit liệu đó không được coi là “dữ liệu cá nhân”. Liên quan đến định dạng hoặc hình thức biểu hiện của thông tin liên quan đến cá nhân, quan niệm về dữ liệu cá nhân bao gồm thông tin sẵn có dưới bất cứ hình thức nào như chữ cái, SỐ, đồ họa, nhiếp ảnh, âm thanh, v. Nó bao gom thong tin được lưu trữ dưới dạng ban giấy cũng như các thông tin được lưu trữ điện tử hoặc trong băng ghi hình.
Cụ thể, dữ liệu âm thanh và hình ảnh có thể đại diện cho thông tin của cá nhân và do đó có thể được coi là dữ liệu cá nhân. Ngoài ra, dữ liệu cá nhân còn được phân chia thành dữ liệu cá nhân thông thường và dữ liệu cá nhân nhạy cảm. Theo quan điểm chung trên thế giới, “dit liệu cá nhân nhạy cảm” (Sensitive personal data) là những dữ liệu có nội dung có thể tạo ra tác động, ảnh hưởng lớn đến chủ thé dữ liệu khi được tiết lộ, do vậy, dữ liệu cá nhân nhạy cảm cần được bảo vệ nhiều hơn so với dữ liệu không nhạy cảm. Dữ liệu cá nhân nhạy cảm thường gồm các dit liệu cá nhân về quan điểm chính trị, tôn giáo; tình trạng sức khỏe; di truyền; sinh trắc học; tình trạng giới tính; tài chính; vi trí địa lý thực tế của cá nhân ở quá khứ và hiện tại; các mối quan hệ xã hội dữ liệu cá nhân về đời sống, xu hướng tình dục; đữ liệu cá nhân về tội phạm, hành vi phạm tội và các dữ liệu cá nhân khác được pháp luật quy định là đặc thù và cần có biện pháp bảo mật cân thiệt.
15 Vậy, trong phạm vi nghiên cứu của đề tài này, “Dữ liệu cá nhân” được hiểu là: thông tin được định dạng dưới dạng nhất định như ký hiệu, chữ viết, chữ số, hình ảnh, âm thanh hoặc dạng tương tự trên môi trường điện tử gắn liền với mot con nguoi cụ thể hoặc giúp xác định một con người cụ thể, bao gom: dit liệu ca nhân cơ bản và đữ liệu cá nhân nhạy cảm. * Phân biệt Thông tin cá nhân và Dữ liệu cá nhân Thông thường chúng ta thường hay bối rối khi phân biệt hai khái niệm “dữ liệu” và “thông tin”, qua nghiên cứu của mình, tác giả muốn đề cập phần nào sự phân biệt đó như sau: Theo Dai từ điển tiếng Việt, “thông tin” được hiểu là “tin tức về các sự kiện diễn ra trong thế giới xung quanh” [29]. Đối với cá nhân, thông tin cá nhân có thể được hiểu là những hiểu biết có được về một cá nhân nào đó. Phạm vi các thông tin thuộc về cá nhân là rat rộng.
Đó có thé là những thông tin liên quan đến cuộc đời của cá nhân được thể hiện ở nhiều hình thức chứa đựng khác nhau, như một câu chuyện, hình ảnh, nhóm mau, xu hướng tính duc, tín ngưỡng, chung tộc. Tổng hợp nghiên cứu từ các học giả, tác giả đưa ra một số khía cạnh nhăm phân biệt giữa dữ liệu và thông tin như sau: (1) Dữ liệu là việc thu thập các dữ kiện, sự việc; còn thông tin là cách chúng ta hiểu ý nghĩa đữ kiện đó trong ngữ cảnh cụ thé; (2) Dữ liệu chưa được tô chức, trong khi thông tin là dữ liệu đã được tổ chức va xử lý; (3) Bản thân dữ liệu không mang ý nghĩa, trong khi trong thông tin đã chứa đựng ý nghĩa nhất định; (4) Dữ liệu nhìn chung phải được biểu hiện dưới dạng thô như số, chữ cái, ký tự, trong khi thông tin thì không như vậy; (5) Dữ liệu có thé tồn tại độc lập trong khi thông tin chỉ có thé được hình thành thông qua quá trình phân tích và xử lý dữ liệu. Từ những phân tích ở trên, dữ liệu là thông tin được biểu thị dưới dạng thức nhất định trong bối cảnh nhất định. Vậy về bản chất, dữ liệu chính là hình thức biểu hiện của thông tin, do vậy, không nên có sự phân biệt giữa khái niệm thông tin cá nhân và dữ liệu cá nhân trong phạm vi luận văn này.
Như phân tích ở trên, khoản 5 Điều 4 Luật Giao dịch điện tử năm 2005 đưa 16 ra định nghĩa về dữ liệu như sau: “di liệu là thông tin dưới dạng ký hiệu, chữ viết, chữ số, hình ảnh, âm thanh hoặc dạng tương tự”. Vậy tông hợp các thông tin liên quan đến cá nhân sẽ tạo thành “đ# liệu cá nhân ” [11]. Từ cách tiếp cận trên đây, có thé hiểu “đ# liệu cá nhân” là tat cả các thông tin liên quan đến một cá nhân. Các thông tin đó được thể hiện dưới dạng ký hiệu, chữ viết, chữ số, hình ảnh, âm thanh hoặc dạng tương tự.
Dữ liệu cá nhân được thu thập, lưu giữ, truy cập, chuyển giao, sử dụng, xử lý bởi cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền theo quy định của pháp luật.