CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THI HÀNH PHÁP LUẬT PHÒNG, CHỐNG THAM NHŨNG 1. Các khái niệm cơ bản về thi hành pháp luật phòng, chống tham nhũng 1. Khái niệm tham nhũng Một trong những vấn đề được quan tâm nhất của mọi chính quyền nhà nước là loại bỏ tham nhũng để bộ máy nhà nước trong sạch và vững mạnh hơn. Vậy để loại bỏ được tham nhũng chúng ta cần hiểu rõ về bản chất của tham nhũng là gì? Quy định về các loại hành vi tham nhũng? từ đó có giải pháp giải quyết vấn đề tham nhũng tốt nhất trên thực tế.
Theo khoản 1 Điều 3 Luật PCTN năm 2018: “Tham nhũng là hành vi của người có chức vụ, quyền hạn đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn đó vì vụ lợi.” [12] Trong đó khái niệm người có chức vụ, quyền hạn và vụ lợi cũng đã được giải thích trong khoản 2 và khoản 7 điều 3 Luật này. Như vậy, theo định nghĩa này, đối tượng tham nhũng phải là người có chức vụ, quyền hạn và người này phải lợi dụng chính chức vụ, quyền hạn của mình để đạt được một lợi ích nào đó không chính đáng. Theo Tổ chức Minh bạch Quốc tế (Transparency International - TI), tham nhũng là hành vi lợi dụng quyền hành để gây phiền hà, khó khăn và lấy của dân. Tham nhũng là một hệ quả tất yếu của nền kinh tế kém phát triển, quản lý kinh tế - xã hội lỏng lẻo tạo ra nhiều sơ hở cho các hành vi tiêu cực, hiện tượng tham nhũng và các tệ nạn có điều kiện phát triển và tại đó một phần quyền lực chính trị được biến thành quyền lực kinh tế.
Tham nhũng làm 7 chậm sự phát triển kinh tế - xã hội, làm giảm lòng tin của công dân vào nhà nước và đến chừng mực nào đó nó gây mất ổn định chính trị, kinh tế - xã hội.[5] Mặc dù có nhiều khái niệm khác nhau về tham nhũng, nhung đều thống nhất với 3 đặc trưng: Tham nhũng là hành vi của người có chức, có quyền trong cơ quan nhà nước hoặc trong doanh nghiệp, tổ chức khu vực ngoài nhà nước; có sự lợi dụng hay lạm dụng chức quyền được giao gồm những việc làm và những việc không được làm để vụ lợi là đạt được những lợi ích vật chất hoặc lợi ích tinh thần không chính đáng. Khái niệm phòng, chống tham nhũng Theo từ điển Tiếng Việt: “phòng ngừa là phòng không cho điều bất lợi, tai hại xảy ra”, “chống là hoạt động ngược lại, gây trở ngại cho hành động của ai hoặc làm cản trở sự tác động của cái gì”.[18] Điều 2 Luật PCTN năm 2018 đã quy định rất rõ các hành vi tham nhũng trong khu vực nhà nước và trong khu vực ngoài nhà nước đều do người có chức vụ quyền hạn trong cơ quan, tổ chức, đơn vị thực hiện, trong đó có 12 hành vi tham nhũng liên quan tới khu vực nhà nước. Đồng thời, quy định 03 hành vi tham nhũng trong khu vực ngoài nhà nước.[12] PCTN cơ bản tập trung vào việc xác định các biện pháp phòng ngừa như công khai minh bạch hoạt động của cơ quan, tổ chức, cá nhân; kiểm soát quyền lực, kiểm soát TSTN của người có chức vụ, quyền hạn; thanh tra, kiểm tra, giám sát… do các chủ thể khác nhau thực hiện nhằm không để hành vi tham nhũng xảy ra và nếu xảy ra thì có biện pháp khắc phục hậu quả. Bên cạnh việc phòng ngừa là việc phát hiện và xử lý tham nhũng, đây là biện pháp được thực hiện sau quá trình kiểm tra, thanh tra, giám sát do các chủ thể có trách nhiệm thực hiện.
Nếu những hành vi tham nhũng được phát hiện kịp thời và xử lý một cách nghiêm minh, triệt để thì việc phòng ngừa tham 8 nhũng cũng được đảm bảo hiệu quả và cũng là động lực cho hoạt động thi hành pháp luật PCTN được tiến hành thường xuyên và liên tục. Cùng với phân tích khái niệm tham nhũng đã đưa ra, PCTN có thể được hiểu là bao gồm các hoạt động của hệ thống cơ quan Đảng, chính quyền, các tổ chức chính trị - xã hội và quần chúng nhân dân trên cơ sở pháp luật về PCTN để phòng ngừa, phát hiện và xử lý các hành vi tham nhũng nhằm bảo vệ lợi ích hợp pháp của Nhà nước, cơ quan, tổ chức và công dân, góp phần quan trọng vào việc đảm bảo an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Khái niệm pháp luật về phòng, chống tham nhũng Pháp luật về PCTN là một chế định thuộc ngành luật hành chính, pháp luật về PCTN điều chỉnh một nhóm các quan hệ xã hội phát sinh giữa các chủ thể trong hoạt động phòng ngừa, phát hiện và xử lý tham nhũng. Xuất phát từ phương pháp điều chỉnh chung của Luật hành chính, pháp luật về PCTN sử dụng phương pháp điều chỉnh là mệnh lệnh – phục tùng.
Tính mệnh lệnh được hình thành từ quan hệ “quyền lực – phục tùng” giữa một bên nhân danh Nhà nước đưa ra những mệnh lệnh bắt buộc bên kia (cá nhân, cơ quan, tổ chức) phải phục tùng các mệnh lệnh đó. Từ đó có thể hiểu: Pháp luật về PCTN là hệ thống các quy phạm pháp luật do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành để điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực PCTN. Nhìn chung nguồn của pháp luật về PCTN rất đa dạng, các quy phạm pháp luật PCTN được chứa đựng trong nhiều văn bản pháp luật như: Luật PCTN; Bộ luật hình sự; Luật Thanh tra; Luật giám sát; Luật khiếu nại; Luật tố cáo; Luật cán bộ, công chức, các nghị định của chính phủ… và cả trong điều ước quốc tế mà Việt Nam tham gia và ký kết. Khái niệm thi hành pháp luật về phòng, chống tham nhũng Theo Từ điển Tiếng Việt do Viện Hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam tái bản năm 2022, thi hành được hiểu là “Đem việc đã quyết định ra thực hiện.
Thi hành luật”[18]. Trong thực tế, có nhiều quan niệm khác nhau về thi hành pháp luật tùy thuộc vào từng góc nhìn cụ thể. Theo nghĩa rộng, thi hành pháp luật được hiểu là thực hiện pháp luật, bao gồm bốn hình thức thực hiện: Tuân thủ pháp luật (là việc cơ quan, tổ chức, cá nhân không thực hiện các hành vi mà pháp luật cấm); Chấp hành pháp luật (là việc cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện bắt buộc các quy đinh của pháp luật); sử dụng pháp luật (là việc cơ quan tổ chức, cá nhân chủ động thực hiện các hành vi để thực hiện quyền chủ thể của mình theo quy định của pháp luật); và áp dụng pháp luật (là hình thức thực hiện pháp luật chỉ do cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền trong cơ quan nhà nước thực hiện). Theo nghĩa hẹp, thi hành pháp luật cũng được hiểu là thực hiện pháp luật, nhưng chủ yếu là việc chấp hành pháp luật, một trong số bốn hình thức của việc thực hiện pháp luật nêu trên.
Trong phạm vi luận văn này, thi hành pháp luật được hiểu theo nghĩa hẹp, tức là chấp hành pháp luật. Chấp hành pháp luật là việc các cơ quan, tổ chức, cá nhân theo chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, nghĩa vụ của mình thực hiện các quy định của pháp luật một cách chủ động, tích cực. Thi hành pháp luật về PCTN được hiểu là hoạt động của cơ quan, tổ chức, cá nhân, trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, nghĩa vụ của mình, chủ động, tích cực đó là việc ban hành các văn bản quy định, đảm bảo các điều kiện thi hành và tuân thủ các quy định của pháp luật về PCTN. Nội dung và đặc điểm thi hành pháp luật về phòng, chống tham nhũng 1.
Chủ thể thi hành pháp luật về phòng, chống tham nhũng Theo Điều 2 Nghị định 59/2019/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật PCTN thì chủ thể thực hiện việc thi 10 hành Luật PCTN là các “cơ quan, tổ chức, đơn vị khu vực nhà nước, bao gồm: cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân, đơn vị sự nghiệp công lập, doanh nghiệp nhà nước và tổ chức, đơn vị khác do Nhà nước thành lập, đầu tư cơ sở vật chất, cấp phát toàn bộ hoặc một phần kinh phí hoạt động, do Nhà nước trực tiếp quản lý hoặc tham gia quản lý; người có chức vụ, quyền hạn công tác tại cơ quan, tổ chức, đơn vị khu vực nhà nước và cơ quan, tổ chức, cá nhân khác có liên quan trong PCTN. Doanh nghiệp, tổ chức khu vực ngoài nhà nước và người có chức vụ, quyền hạn trong doanh nghiệp, tổ chức này thực hiện các quy định tại Chương VII của Nghị định này”.[2] Trong phạm vi nghiên cứu, UBND quận là cơ quan có trách nhiệm thi hành pháp luật về PCTN trên địa bàn quận. Đặc điểm thi hành pháp luật về phòng, chống tham nhũng Thứ nhất, thi hành pháp luật về PCTN là một hoạt động có kế hoạch cụ thể nhằm đưa pháp luật về PCTN vào cuộc sống, biến các quy định của pháp luật về PCTN được hiện thực hóa trong thực tế, tạo nên sự ổn định, phát triển xã hội. Thứ hai, thi hành pháp luật về PCTN mang tính quyền lực, bắt buộc.
Thứ ba, cơ quan thực hiện chức năng PCTN vừa trực tiếp chấp hành các quy định của pháp luật vừa tổ chức cho các chủ thể khác tuân thủ, chấp hành pháp luật về PCTN. Thứ tư, thi hành pháp luật PCTN vừa mang tính khoa học, vừa mang tính nghệ thuật. Thứ năm, thi hành pháp luật về PCTN có mối liên hệ mật thiết với các hoạt động thi hành pháp luật khác bao gồm hoạt động điều tra, truy tố, xét xử của các cơ quan điều tra, TAND, VKSND và hoạt động lập pháp, ban hành văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan dân cử. Nội dung thi hành pháp luật về phòng, chống tham nhũng Căn cứ Nghị định 59/2019/NĐ-CP của Chính phủ và văn bản số 1576/TTCP-PC ngày 10/9/2021 của Thanh tra Chính phủ cũng đã nêu rõ nội dung cơ bản về thi hành pháp luật về PCTN, cụ thể như sau: 1.