Chương 1 nhằm phân tích khái quát một số văn để lý luên cơ ban về bao hộ người lao động ở nước ngoài và pháp luật về bão hộ người lao động ở nước ngoái để sây dưng khung lý luên cho các phân tích cụ thể hơn về pháp luật và thực. thực hiện pháp luật vé bảo hô người lao động Việt Nam ở nước ngoai tai Chương 2 và Chương 3. Với mục dich đó, Chương | chia làm hai phẩn: Phin 1 sẽ làm r6 khái niêm vẻ người lao đồng ở nước ngoài và bảo hộ người lao động ở nước ngoài, Phén 2 tập trung phân tích khái niêm, nội dung cơ bản va nguồn của pháp luật vẻ bảo hộ người lao động 6 nước ngoài. Người lao động ở nước ngoài và bảo hộ người lao động ở nước ngoài LIL Người lao động 6 nước ngoài 1111 Định nghia Trong bối cảnh hội nhập va toản cầu hoa hiến nay, người lao đông trước ngoài đến lam việc tai một quốc gia hay sw dịch chuyển lao đông giữa các quốc gia va ving lãnh thổ là mét vẫn dé không chỉ bó hep trong khuôn khổ.
Trên thực tế, pháp luật quốc tế va pháp luật của héu hết các quốc gia cũng đều có những văn bản và quy định pháp luật để diéu chỉnh van để nay Tuy nhiên cho đền nay, vẫn chưa có một định nghĩa vẻ người lao đông ở nước ngoài thông nhất và được chấp nhận rồng ri Trong pháp luật quốc tế, những người lao động nước ngoài đến làm. việc tai một quốc gia thường được nhắc đến bằng thuật ngữ “Migrant worker”, khi dich sang tiếng Việt la “lao đồng di trú”. Thuật ngữ này được. quy định lan đâu trong Công ước về di trú vẻ việc lâm cia Tổ chức lao đông thể giới (ILO), được thông qua tai kỹ hop thứ 25 ngày 8/6/1939 của ILO va sau đó được sửa đổi bằng Công ước số 97 vào năm 1949.
Theo đó, tại Điều. 11 Công ước số 97 có quy định vẻ lao động di trú như sau: "lao đông đi tr là chỉ một người di cue tie một nước nàp sang một nước khác nhằm lầm thud cho người khác; từ này bao gầm mọi người nào đã được thường xuyên chấp nhân là có tiể cách người lao động đi trí. Tuy nhiên, khải niêm vé lao động di trú của Công ước số 97 không áp dụng với các đổi tượng @) những người lao đông vùng biển giới, đi) những người làm nghề tự do va các nghệ sỹ nhập cảnh ngắn hạn, và (ii) thuỷ thi Đến năm 1975, nhằm bé sung thêm các quy định cho người lao động di ‘ni, ILO thông qua Công ước số 143 vẻ di trú trong những điều kiện bi lạm. dụng và về xúc tiền bình đẳng cơ may và đối xử đối với người lao động di trú Điều 11 văn kiện này về cơ bản vấn giữ nguyên khái niêm về "người lao đồng i trữ" như đã được giải thích trong Công ước số 97, vẫn nhân manh “lao đông di trú" là người di cư hoặc đã di từ nước này sang nước khác vì mục đích được tuyển dụng lao động va bao ham những người “được chấp nhận.
hop thức với tự cách là người lao động di trú" Nhu vay, theo quan niêm của ILO, dẫu hiệu để nhân biết người lao đông di làm việc ở nước ngoài là việc di chuyển của một người vì mục dich việc làm từ quốc gia nảy sang quốc gia khác ma không đặt ra những van để như quốc tích của người di trú, sự di chuyển có cần xuất phat từ nước gốc hay không hoặc việc lao đồng ở nước ngoài có thời hạn hay không có thời han. Ngoài ra, khái niêm “lao động di tri” của ILO chỉ áp dung cho người lao đông di trủ hợp pháp và được sw chấp nhên/thừa nhận của nước đến. Kế thừa những quy định của ILO vẻ những người lao động di làm việc ở nước ngoài, Liên Hợp quốc đã ban hành Công tước quốc tế về quyển cia người lao động di cử và các thảnh viên trong gia đính năm 1990 (Intemational 10 Convention on the Protection of the Rights of All Migrant Workers and ‘Members of Their Families - ICRMW). Đây la một điều ước quốc tế rat quan trọng, quy định trực tiếp va toản diện nhất về quyén của người lao đông di trú hiên nay.
Theo giải thích trong ICRMWV, thuật ngữ “lao động di trú" để chỉ một người đã, dang và sẽ lam mét công viếc có hưởng lương tại mét quốc gia ma người đó không phải lả công dân (khoản 1 Điều 2). Như vay, khái niệm. "lao động di trú" của Liên Hop quốc thể hiên những nội dung sau: @ __ Tiếp cân từ góc đô quốc tích của người lao đồng, "đi lam việc ở nước ngoai” được gidi thích Lé đi lam việc tai nước mà người lao động không phải là công dân, đi) _ Khẳng định “ai làm việc ở nước ngoài” là cã một qua trình gồm các giai đoạn chuẩn bị, trên đường ra nước ngoải, trong thời gian lam việc ở nước ngoài và sau khi trở về nước, (ii) Muc đích di cư của người lao động là vì tìm kiểm việc làm, hưởng lương tại một quốc gia khác trong một khoảng thời gian nhất định. Nhìn chung, định nghĩa "lao đông di thi” được Liên Hợp Quốc quy định trong ICRMW không đi ngược lai với các cách hiểu ma ILO đưa ra trong các Công tước số 97 và 143 trước đó, tuy nhiên cụ thé hơn về những đặc điểm của người lao đông làm việc ở nước ngoài.
Bên canh đó, ICRMAW cũng mỡ rông pham vi đổi tượng Cu thể, theo quan niềm của Liên Hợp quốc, lao đông di cư bao gồm cả "lao động di trú có giấy tờ” (documented migrant worker) va "lao động di tri không có giấy tờ" (undocumented migrant worker)? và cả gia đính họ. Như vây, so với quan niệm trước đó của ILO, Liên Hợp quốc thừa nhân và tính đền sự đa dang vẻ nguồn gốc va vi thé của người lao động di trú, không phu thuộc vào người lao động có được pháp luật Hh can được giã họ đồng di rú không hợp thấp (regu mg me worker) Boke ho động đ:öbí anit andes múp me wake) ul của nước tiếp nhân lao động công nhận hay không, Điễu may cho thay văn kiện của Liên Hop Quốc chú trọng tới các biện pháp bão vệ người lao động di trú hơn là các biện pháp để quan ly ho. Ở Viét Nam, với nhóm đối tượng lả công dân Việt Nam đi lao động ở nước ngoài hiện được điều chỉnh bối một số văn bản như. Bộ luật Lao động 2012, Luật về người lao động Việt Nam đi làm việc ỡ nước ngoài theo hop đông 2006 và một số văn bản dưi luật khác.
Tuy nhiên, các văn bản pháp luật nảy đều không sử dụng khái niệm "lao động di tri” như quy định của quốc tế mà ding thuật ngữ “người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài” để phân biệt với nhóm đổi tượng lao đông là người nước ngoài làm. Việc tại Việt Nam Trong văn bản pháp luật quy đính cụ thể nhất về nhóm đối tương này là Luật người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng 2006, tại khoăn 1 Điều 3 của Luật có quy định: “Người lao động dt làm việc 6 nước ngoài theo hop đồng (sau đây got là người lao đông đi lầm việc ö nước ngoài) là công dân Việt Nam cư trú tại Việt Nam, có ait các điền kiện theo ny dinh cũa pháp iuật Việt Nam và pháp luật cũa nước tiếp nhận người tao đồng at làm việc ö nước ngoài theo quy đinh của Luật này Có thé thấy, thuật ngữ “người lao động đi lam việc ở nước ngoài” ở "Việt Nam hiện chỉ bao ham những người lao đông di lam việc ỡ nước ngoài theo hop đồng, Như vây, xét vé nối hàm, khái niệm “người lao động đi lâm. việc ở nước ngodi” trong pháp luật Việt Nam hiện nay hep hơn khái niêm. người “lao động di tri” cia ICRMW khi vẫn còn ba ngõ những trường hợp như người lao động ra nước ngoài lam việc theo hình thức khác ngoài hop đẳng hay lao động bat hợp pháp Tir những nội dung đã nêu ở trên, tác giã đưa ra cách hiểu của mình về “người lao đồng ỡ nước ngoài" như sau: “Người lao đông ở nước ngoài là những người làm việc và được trả công bồi người sit dung lao động tại một quốc gia khác mà ho không mang quốc tịch trong một khoảng thời gian nhất anh 1112.
Đặc diém Trên cơ sở những định nghĩa đã nêu, có thé rút ra một sô đặc điểm. chung của người lao động nước ngoài như sau: Tint nhất, về sự chuyển dich qua biên giới lãnh thé/quéc gia: đâu hiệu. nhận bit người lao đông di lam việc ở nước ngoài dựa trên sự di chuyển cũa ‘ho qua biên giới, từ quốc gia/ving lãnh thổ nay sang quốc gia/ vùng lãnh thé khác Đây cũng là tiêu chí phân biệt nhóm người lao động di lam việc ở nước ngoai với người lao đồng trong nước Thứ hơi, về mục dich di chuyển: mục đích của người lao động đi làm việc ở nước ngoài là nhằm tìm kiếm việc làm, được tuyển dung lao đồng va hưởng lương ở một quốc gia khác. Điểm nảy cũng là để loại trừ những đối tương di cử ra nước ngoài vi những mục đích khác như học tp nghiên cứu, tham quan du lịch, hôn nhên, tránh nan.
Thứ ba, về théi han lao đông ở nước ngoài: việc người lao đông ra nước ngoâi lâm việc chỉ diễn ra trong một khoăn thời gian nhất định (tức có thời hạn) và để phân biệt với các đối tượng cũng làm việc tại nước ngoài nhưng có ý định cư lâu đài. Thứ te, về văn hoá và lối sống. Người lao động di lam việc ở nước ngoài phải rời xa tổ quốc, xa gia đình để dén một nước khác lao động vả tìm. Tai một môi trường mới, họ thường gặp phải những bắt đồng vé văn ‘hoa, phong tục, ngôn ngữ, sự thiểu hiểu biết vẻ pháp luật của quốc gia sở tại.
vi thể bi phân biệt đổi zữ, bị kỷ thi, bóc lột, lạm dung, va bi xâm phạm các quyển và tự do cơ bản Dường như thực trang này đã trở thành một trong những bat công có tinh chất toàn cầu. Bảo hộ người lao động 6 nước ngoài 112.1 Định ngiữa "Thuật ngữ “bảo hổ" được sử dung từ khả sớm, gắn với sự xuất hiện va phat triển manh mé của chủ nghĩa dé quốc ngay từ đầu thé kỷ XVI.