Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn được kết cấu 03 chương: Chương 01: Những vấn đề lý luận về thỏa thuận hạn chế cạnh tranh trong lĩnh vực lao động và sự điều chỉnh của pháp luật Chương 02: Thực trạng pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật về thỏa thuận hạn chế cạnh tranh trong lĩnh vực lao động ở Việt Nam hiện nay Chương 03: Định hướng và một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về thỏa thuận hạn chế cạnh tranh trong lĩnh vực lao động ở Việt Nam CHUONG 1. NHỮNG VAN DE LÝ LUẬN VE THOA THUẬN HAN CHE CANH TRANH TRONG LĨNH VUC LAO ĐỘNG VA SU DIEU CHỈNH CUA PHÁP LUẬT 1. Khái quát về thóa thuận hạn chế cạnh tranh trong lĩnh vực lao động 1. Khái niệm và đặc điểm của thoả thuận hạn chế cạnh tranh trong lĩnh vực lao động 1.
Khái niệm thỏa thuận hạn chế cạnh tranh Cạnh tranh là một khái niệm rất rộng, xuất hiện trong hầu hết các lĩnh vực khác nhau của đời sống. Do vậy, có khá nhiều cách hiểu về thuật ngữ này. Theo Từ điển Tiếng Việt, “cạnh tranh” được hiểu là “cố gắng giành phan hon, phan thắng về mình giữa những người, những tổ chức hoạt động nhằm những lợi ích như nhau” [22. Nhu vậy, “cạnh tranh” là việc hai chủ thể trở lên có chung lợi ích tranh giành với nhau để dành phần nhiều hơn cho mình.
Dưới góc độ kinh tế, cạnh tranh là một quy luật cơ bản của cơ chế thị trường, đồng thời còn là thuộc tính mang tính tất yếu của kinh tế thị trường. Theo Từ điển kinh doanh, xuất bản ở Anh năm 1992, “cạnh tranh” là “sự ganh đua, sự kình địch giữa các nhà kinh doanh trên thị trường nhằm tranh giành cùng một loại tài nguyên sản xuất hoặc cùng một loại khách hàng về phía mình”. TTHCCT lần đầu tiên được nhắc đến trong một học thuyết về hạn chế thương mai (the restraint of trade doctrine) của hệ thống thông luật liên quan đến hiệu lực của những thỏa thuận trong hợp đồng nhằm hạn chế quyền tự do thương mại của một bên ký kết. Học thuyết cho rằng khi các bên tiến hành ký kết điều khoản này có nghĩa là một bên đã đồng ý bị hạn chế việc thực hiện một số quyền liên quan đến quyền tự do thương mại của mình.
Cũng theo đó, điều khoản này có hiệu lực thi hành khi nó được thiết lập trên nguyên tắc phù hợp với chính sách công, lợi ích công cộng và đảm bảo tính hợp lý trong ký kết và thực hiện [24, tr. Về TTHCCT trong lĩnh vực lao động, tại Anh, nơi bắt nguồn của TTHCCT, thuật ngữ này thường được đề cập trong phán quyết của Toà án và các tài liệu học thuật [40]. Nhìn chung, có thé hiểu một TTHCCT trong lĩnh vực lao động là nhiing quy định ràng buộc NLP sẽ không làm việc cho đối thủ cạnh tranh hoặc không tu mình cạnh tranh với NSDLD trong một khoảng thời gian xác định và tại một khu vực được chỉ định [44]. Ở Hoa Kỳ, khái niệm TTHCCT được quy định trong các văn bản pháp luật của một số tiểu bang.
Cụ thé, chăng hạn pháp luật bang Massachusetts quy định “Thod thuận hạn chế cạnh tranh là thỏa thuận giữa một người sử dụng lao động và một người lao động, hoặc phát sinh từ một quan hệ lao động sắp được hình thành, trong đó người lao động hoặc người lao động tương lai đông ý rang họ sẽ không tham gia vào mot số hoạt động nhất định có tính cạnh tranh với người sử dụng lao động sau khi quan hệ lao động chấm dứt” [30]. Pháp luật của bang Nevada cho rang “Thoả thuận hạn chế cạnh tranh (non-compete covenant) là thỏa thuận giữa người sử dụng và người lao động, sau khi chấm dứt quan hệ lao động với người sử dụng lao động, cấm người lao động thực hiện ngành nghề tương tự có cạnh tranh hoặc làm việc cho một đối thủ cạnh tranh của người sử dụng lao động” [33]. Qua những phân tích, tham khảo các quan điểm trên có thé đưa ra khái niệm về TTHCCT trong lao động như sau: TTHCCT trong lĩnh vực lao động là thỏa thuận giữa NSDLĐ và NLĐ về việc NLĐ sẽ không tham gia vào các hoạt động cạnh tranh với NSDLĐ hay chính họ thực hiện hành vi xâm phạm quyên đối với bí mật kinh doanh của NSDLĐ hoặc làm việc cho đối thủ cạnh tranh của NSDLĐ trong một phạm vi ngành, nghề, không gian và thời gian xác định. Mục đích của thỏa thuận này là bảo vệ lợi ích của doanh nghiệp bằng cách ngăn ngừa việc NLĐ sử dụng những thông tin hoặc mối quan hệ mà họ đã tích lũy trong thời gian làm việc cho công ty hiện tại để tạo lợi thế cho đối thủ cạnh tranh.
Đặc điểm thoả thuận hạn chế cạnh tranh Về cơ bản, TTHCCT trong lĩnh vực lao động có những đặc điểm sau: Thứ nhát, chủ thê tham gia giao kết thoả thuận là NSDLD va NLD có day đủ năng lực pháp luật và năng lực hành vi. Điều đáng lưu ý là vị thế của các bên khi ký kết TTHCCT là không cân băng. Trong QHLD, NLD lại ở trong tinh trạng cần việc làm, đồng thời, NSDLD có quyền quản lý NLD thông qua việc lựa chọn, phân công, giám sát NLĐ. Điều này dẫn đến trên thực tế NLĐ nhìn chung là chủ thể yếu thế hon trong QHLD.
Thứ hai, TTHCCT có thé tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau, điều này phụ thuộc vào ý chí của các chủ thé trong QHLD cũng như thời điểm các bên giao kết thỏa thuận này. Tuy nhiên, hình thức của TTHCCT trong lĩnh vực lao động chủ yếu là văn bản. Điều này xuất phát từ bản chất của loại thỏa thuận này, đó là một sự thỏa thuận giữa NSDLĐ và NLĐ với nội dung ghi nhận cam kết của NLĐ và NSDLĐ, do đó, hình thức văn bản là một sự lựa chọn phù hợp trong việc thé hiện một cách rõ ràng sự thỏa thuận trên. Với hình thức văn bản, TTHCCT có thé là một điều khoản nằm trong HDLD hay phụ lục của hợp đồng hoặc tồn tại dưới dạng một văn bản độc lập.
Nếu là một điều khoản trong HĐLĐ thì hình thức bắt buộc phải theo hình thức của HDLD, còn nếu tách rời ton tại dưới dạng một văn bản độc lập thì theo hình thức của giao dịch dân su. Thứ ba, nội dung của TTHCCT thường bao gồm nội dung về: (i) Thỏa thuận về việc không làm việc cho đối thủ cạnh tranh Theo thỏa thuận này, NLĐ cam kết không cho đối thủ cạnh tranh của NSDLĐ trong một phạm vi và thời gian xác định. Như đã nói ở trên, TTHCCT là giải pháp tối ưu nhằm bảo vệ NSDLĐ trước nguy cơ bị xâm phạm các lợi ích kinh doanh chính đáng. Tuy nhiên, bởi sự kìm hãm quyền tự do việc làm của NLĐ, quyền tự do thương mại của các chủ thé kinh tế và khả năng gây ảnh hưởng đến các lợi ích công mà các thỏa thuận này được kiểm soát hết sức chặt chẽ.
Hơn nữa, trong một số trường hợp, thỏa thuận cấm cạnh tranh đôi khi lại trở thành công cụ dé NSDLĐ ap đặt giới han vô ly cho NLD, tao ra sự cạnh tranh không lành mạnh giữa các công ty, doanh nghiệp,. Chính vì thế, để thực thi nguyên tắc bảo vệ NLĐ, thỏa thuận này phải chịu sự ràng buộc gắt gao về mặt pháp lý khi thiết lập các sự hạn chế (không gian, thời gian, phạm vi nghề nghiệp). 10 (ii) Thỏa thuận cắm chào mời, giao dich với khách hàng/nhà cung cấp Là một trong số các hình thức biểu hiện cơ bản của TTHCCT, thỏa thuận cắm chào mời, giao dich với khách hàng, nhà cung cấp (gọi tắt là thỏa thuận cam chào mời) là cam kết của hai bên trong QHLD, theo đó, NLD không được phép thực hiện hành vi trực tiếp hoặc gián tiếp chào mời, thu hút, giao dịch với khách hàng, nhà cung cấp về phía của NSDLĐ khác hay cho chính bản thân mình trong quá trình làm việc hoặc sau khi cham dứt HD:D với NSDLD. (iii) Thỏa thuận cắm lôi kéo NLD khác Sự ồn định của lực lượng lao động là một trong những nhân tố thúc đây sự phát triển hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp.
Vì vậy, khi nhiều hơn một NLD rời di, tính kết nối sẽ không còn nguyên vẹn, và tất yếu làm ảnh hưởng ít nhiều đến quy trình hoạt động của doanh nghiệp. Do đó, để tránh những xáo trộn trong nội bộ doanh nghiệp, NSDLD thường đặt ra yêu cầu đối với NLD về các điều khoản cấm lôi kéo đồng nghiệp. Theo đó, NLD không được thực hiện các hành vi trực tiếp hoặc gián tiếp lôi kéo đồng nghiệp làm việc cho chính mình hoặc cho đối thủ cạnh tranh của NSDLĐ. NLĐở đây phải là các đối tượng có sức ảnh hưởng đến những nhân viên khác chăng hạn như Giám đốc, Trưởng phong,.
Như vậy, về cơ bản, thỏa thuận này không tạo ra sự hạn chế quyền cua NLD. (iv) Thỏa thuận không thực hiện các hoạt động han chế cạnh tranh khác. Ngoài những nội dung trên, NLD còn cam kết không thực hiện các hoạt động hạn chế cạnh tranh khác, cụ thể NLĐ sẽ cam kết không tham gia vào các hoạt động cạnh tranh với NSDLD. Việc không tham gia vào hoạt động cạnh tranh với NSDLD có thé bao gồm nhưng không giới hạn ở việc không được thành lập doanh nghiệp hoạt động trong cùng ngành, lĩnh vực kinh doanh của NSDLĐ.
Ngoài ra, TTHCCT thường có thỏa thuận về việc NSDLĐ phải trả một khoản bi đắp cho NLĐ, là lợi ích chính đáng mà NLĐ đáng lẽ phải được hưởng sau khi QHLD đã chấm dứt nếu không bị ràng buộc bởi các cam kết về hạn chế cạnh tranh mang lai. 11 Thứ tư, về thời điểm giao kết và áp dụng, TTHCCT có thê được ký kết trước, đồng thời hoặc sau khi các bên ký kết HDLD. Về thời điểm áp dụng, TTHCCT có thé được áp dụng trong suốt thời hạn HDLD và/hoặc trong một khoảng thời gian sau khi các bên đã cham dứt HDLD, tuỳ thuộc vào sự thoả thuận của các bên giao kết và pháp luật của từng quốc gia quy định về giới hạn của TTHCCT. Việc áp dụng TTHCCT sau khi cham dứt QHLĐ mang lại nhiều ý nghĩa hon với NSDLD nhưng cũng gây ra nhiều tranh cãi.
Vì vậy, khi xây dựng khung pháp lý dé điều chỉnh loại thỏa thuận trên, việc xem xét và cân nhắc thời điểm áp dụng cũng như giới hạn của thỏa thuận đóng vai trò rất quan trọng. Ý nghĩa của thoả thuận han chế cạnh tranh trong lĩnh vực lao động Ở cái nhìn chủ quan, TTHCCT trong lao động mang lại lợi ích cho riêng NSDLD.