phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận án có kết cấu bốn chương: hương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu. hương 2: Những vấn đề lý luận pháp lý về bảo đảm quyền và lợi ích của người lao động trong doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài hương 3: Thực trạng bảo đảm quyền và lợi ích của người lao động trong doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài theo pháp luật Việt Nam hiện nay hương 4: Phương hướng và giải pháp bảo đảm quyền, lợi ích của người lao động trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài theo pháp luật Việt Nam hiện nay 5 ƣơn 1 TỔ G QU TÌ Ì G Ê ỨU 1. ác côn trìn n ên cứu tron nƣớc 1. Cá ôn trìn n ên ứu tron n về quyền và lợ í ủ n l o độn 1.
Nhóm các công trình nghiên cứu là sách chuyên khảo Nguyễn Linh Khiếu (1999), “Lợi ích động lực phát triển xã hội”. Chính trị quốc gia, Hà Nội. Tác giả đã tổng kết lại nhiều nghiên cứu khác nhau về lợi ích trong nước và ngoài nước. Tác giả đã đưa ra một cách tiếp cận mới về khái niệm lợi ích: "Lợi ích chỉ có ý nghĩa là lợi ích trong các quan hệ lợi ích cụ thể.
Ngoài quan hệ lợi ích nó không còn là lợi ích nữa mà chỉ là cái có lợi hay có ích đối với các chủ thể ở một hoàn cảnh nhất định. Trong trường hợp này, nó cũng giống như các đối tượng thoả mãn nhu cầu hoặc chính là các đối tượng thoả mãn nhu cầu". Từ sự phân tích trên, tác giả đã đưa ra khái niệm về quan hệ lợi ích như một khái niệm trung gian để giải thích khái niệm lợi ích. Ông viết: "Quan hệ lợi ích là mối quan hệ khách quan giữa các chủ thể có cùng nhu cầu và cùng đối tượng thoả mãn nhu cầu như nhau trong việc thực hiện nhu cầu ấy".
Quan hệ lợi ích chỉ nảy sinh trong một hoàn cảnh xã hội nhất định và chỉ nảy sinh khi quan hệ nhu cầu trở nên không trực tiếp thực hiện được. Ngoài ra, tác giả còn phân tích mối quan hệ biện chứng giữa lợi ích vật chất và lợi ích tinh thần; giữa lợi ích chung và lợi ích riêng; giữa lợi ích trước mắt và lợi ích lâu dài. Mối quan hệ biện chứng giữa các lợi ích tiêu biểu với tư cách là động lực của xã hội đã được ông biện giải rất rành mạch và thuyết phục. Về quan hệ giữa lợi ích vật chất (lợi ích kinh tế) và lợi ích tinh thần, tác giả khẳng định: "Xét đến cùng thì các lợi ích vật chất đóng vai trò quyết định và là tiền đề, là cơ sở để thực hiện các lợi ích tinh thần.
Và thực hiện được các lợi ích tinh thần sẽ tạo ra những khả năng mới trong sự nảy sinh cũng như làm xuất hiện những phương thức thực hiện lợi ích vật chất mới". Khi phân tích bản chất, vai trò của lợi ích chung và lợi ích riêng, tác giả nhận thấy rõ vai trò, động lực trực tiếp của lợi ích riêng trong việc thôi thúc cá nhân hoạt động, nó chính là nhân tố quyết định con người tích cực tham gia hoạt động xã hội, vì vậy nó là cơ sở để thực hiện lợi ích chung. Ngược lại, khi lợi ích chung của mọi thành viên trong xã hội được thực hiện nó sẽ đóng vai trò là điều kiện và định hướng cho lợi ích riêng, cho nên, chỉ khi tạo lập được mối quan hệ hài hoà giữa lợi ích chung và lợi ích riêng mới có thể tạo ra 6 sự phát triển của mỗi cá nhân và của cả xã hội. Nguyễn Linh Khiếu cũng tổng kết lại quá trình sử dụng vai trò, động lực của lợi ích trong thực tiễn cách mạng Việt Nam.
Đây là một công trình khoa học vừa mang tính lý luận quan trọng về lợi ích nói chung vừa nghiên cứu về lợi ích kinh tế nói riêng. Nghiên cứu sinh sẽ tiếp tục nghiên cứu lợi ích của NLĐ trong quan hệ pháp luật lao động giữa chủ doanh nghiệp và NLĐ trong luận án của mình. Nguyễn Dương, Linh Sơn (2005),“Nghệ thuật sử dụng nguồn nhân lực trong kinh doanh. Con người - chìa khóa của sự thành công”.
Thế giới, Hà Nội. Nội dung cuốn sách gồm: hương I: on người - Chìa khóa của thành công; hương II: Dùng người trong kinh doanh; hương III: Giữ người trong kinh doanh. Tuy cuốn sách chỉ đề cập đến nghệ thuật sử dụng nguồn nhân sự trong kinh doanh không đề cập sâu đến vấn đề quyền và lợi ích của người lao động trong hoạt động kinh doanh nhưng các tác giả đã nhìn nhận và khẳng định việc bảo đảm quyền và lợi ích thích đáng cho NLĐ là phương thức giữ chân NLĐ làm việc cho doanh nghiệp mình và việc sử dụng NLĐ hợp lý, tạo điều kiện, môi trường làm việc thuận lợi cho NLĐ sẽ góp phần nâng cao năng suất lao động, góp phần tạo ra nhiều giá trị thặng dư trong kinh doanh. Võ Khánh Vinh (2010), “Quyền con người tiếp cận đa ngành và liên ngành Luật học”.
Khoa học xã hội, Hà Nội. Cuốn sách gồm các tham luận của nhiều học giả tập trung vào một số vấn đề: Những vấn đề lý luận, lịch sử về quyền con người, bảo đảm thực hiện và cơ chế bảo vệ quyền con người; Bảo vệ quốc tế quyền con người; Quyền con người ở Việt Nam: những vấn đề chung; Quyền con người và các ngành luật. Tập 1 gồm các tham luận: Quyền con người: giá trị xã hội, tính phổ biến và tính đặc thù; Những nguyên tắc cơ bản; các chủ thể liên quan đến quyền con người; nghiên cứu quyền con người; ác công ước quốc tế về quyền con người; Sự phân chia các thế hệ quyền con người: có thực sự cần thiết; Mô hình bộ máy quốc gia về nhân quyền ở một số nước và suy nghĩ về cơ chế bảo đảm quyền con người ở nước ta; Quyền con người và Hiến pháp; Hợp tác quốc tế bảo vệ quyền con người trong thế giới ngày nay; Các tổ chức quốc tế về quyền con người; Tòa án hình sự quốc tế - một thiết chế bảo vệ các quyền con người; Luật hình sự quốc tế và việc bảo vệ quyền con người; Quyền con người và luật nhân đạo quốc tế; ơ chế bảo vệ quyền con người tại Liên minh Châu Âu; Giám sát Hiến pháp: cơ chế pháp lý bảo vệ quyền con người: nhìn từ góc độ kinh nghiệm nước ngoài; Quan điểm và giải pháp nâng cao vai trò của 7 pháp luật trong việc bảo đảm quyền con người ở Việt Nam hiện nay; Nội luật hóa các ông ước quốc tế về quyền con người trong pháp luật Việt Nam; Thực hiện quyền con người vì mục tiêu phát triển con người ở Việt Nam- một số vấn đề lý luận và thực tiễn; Biện chứng của độc lập dân tộc, pháp trị dân chủ và quyền con người trong tư tưởng Hồ Chí Minh; Xây dựng nền hành chính đáp ứng nhiệm vụ dân chủ hóa xã hội và bảo đảm quyền con người ở nước ta hiện nay. Tập 2 gồm các tham luận: Quyền con người trong pháp luật an sinh xã hội; hính sách pháp luật Việt Nam với bảo đảm quyền con người trên lĩnh vực kinh tế, xã hội và văn hóa; Sự tham gia của “công dân” vào các hoạt động quản lý nhà nước, quản lý xã hội dưới phương diện bảo đảm quyền con người; Bảo vệ quyền con người và việc xây dựng tòa án Hiến pháp ở Việt Nam; Quyền con người về dân sự ở Việt Nam; Quyền nhân thân trong luật quốc tế và pháp luật Việt Nam; Quyền con người về hôn nhân và gia đình; Quyền tự do kinh doanh của công dân và nhà nước thuế; Pháp luật lao động Việt Nam và việc bảo vệ quyền con người; Mối quan hệ giữa quyền con người với Luật Hình sự Việt Nam; Vấn đề quyền con người trong lĩnh vực pháp luật đất đai; Quyền con người trong tố tụng hình sự Việt Nam, trong tố tụng dân sự Việt Nam; Mối quan hệ giữa quyền con người với Luật Thi hành án hình sự Việt Nam; Bảo vệ quyền con người trong thi hành án dân sự; Bảo vệ quyền của người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài trong pháp luật Việt Nam và các hiệp định song phương mà Việt Nam đã ký với một số nước; Những rào cản đối với việc thực thi pháp luật về bình đẳng giới ở Việt Nam hiện nay nhìn từ góc độ quyền con người; huyển hóa các điều ước quốc tế về quyền con người vào pháp luật Việt Nam.
Đây là tài liệu tham khảo hữu ích cho các nhà nghiên cứu và những ai quan tâm vấn đề quyền con người nói chung và quyền của người lao động nói riêng. Đại học quốc gia Hà Nội (2011), “Lao động di trú trong pháp luật quốc tế và Việt Nam”, Nxb. Lao động xã hội, Hà Nội. Cuốn sách đã khẳng định đi kèm với quá trình toàn cầu hóa là vấn đề di cư lao động quốc tế.
Theo tác giả, chưa có thời kỳ nào trong lịch sử nhân loại, tình trạng di cư lao động quốc tế lại phổ biến như hiện nay. Theo ước tính của ILO và IOM, hiện trên thế giới có gần 200 triệu người lao động di trú, chiếm 3% dân số toàn cầu, tính ra cứ 35 người dân và 26 người lao động trên thế giới thì có một người sống và làm việc ở ngoài đất nước mình. Di cư quốc tế vì việc làm là kết quả tất yếu và là một yêu cầu của quá trình toàn cầu hóa 8 về kinh tế. Nó mang lại nhiều lợi ích cho nền kinh tế thế giới nói chung, nền kinh tế của nhiều quốc gia nói riêng, cũng như cho nhiều gia đình, tuy nhiên, nó cũng tiềm ẩn những khó khăn, thách thức mà các Chính phủ và NLĐ di trú khắp nơi phải đối mặt, đó là tình trạng người lao động bị phân biệt đối xử, bị bóc lột và thậm chí bị xâm phạm các quyền và lợi ích cơ bản cả ở nước gửi và nước nhận lao động.
Nhóm công trình nghiên cứu là luận án tiến sĩ, luận văn thạc sỹ, báo cáo nghiên cứu và các bài báo khoa học Diệp Thành Nguyên (2005), “Vai trò của công đoàn trong bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động”, Tạp chí Nghiên cứu Khoa học, Trường Đại học Cần Thơ, số tháng 5/2005. Bài viết đã chỉ rõ chính đường lối phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa đã khơi dậy tiềm năng của đất nước, thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển.