CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA VĂN HÓA VÀ PHÁT TRIỂN 1. VĂN HÓA VÀ VAI TRÒ CỦA VĂN HÓA 1. Khái niệm văn hóa Khi nói về khái niệm văn hóa và bàn về bản sắc văn hóa Việt Nam đã có rất nhiều các nhà nghiên cứu quan tâm và đưa ra những cách luận giải khác nhau. Một số nhà nghiên cứu cho rằng: “Bản sắc văn hóa có nghĩa là: Bản là cái gốc, cái căn bản, cái lõi, cái hạt nhân của một vật (vật ở đậy hiểu theo nghĩa rộng, bao gồm cả người, động vật, thực vật, đồ vật, các chất, những khái niệm trừu tượng.
Sắc là cái thể hiện ra bên ngoài của vật đó. Vì thế khi nói bản sắc dân tộc của văn hóa Việt Nam tức là nói những giá trị gốc, căn bản, cốt lõi, những giá trị hạt nhân của dân tộc Việt Nam được thể hiện qua đời sống hiện tại của con người Việt Nam trên mọi lĩnh vực.” Đề cập tới khái niệm văn hóa, Edouard Heriiot nhà nghiên cứu văn học người Pháp đã đưa ra định nghĩa về văn hóa, ông cho rằng: “Văn hóa là tất cả cái còn lại khi người ta đã quên đi tất cả, là cái vẫn thiếu khi người ta đã học tất cả” C. Mác cho rằng “Văn hóa là toàn bộ những thành quả được tạo ra nhờ hoạt động lao động sáng tạo của con người - hoạt động sản xuất vật chất và tái sản xuất ra đời sống hiện thực của con người. Trong tiếng Việt, văn hóa được dùng theo nghĩa thông dụng để chỉ học thức (trình độ văn hóa), lối sống (nếp sống văn hóa), còn theo nghĩa chuyên biệt, văn hóa dùng để chỉ trình độ phát triển của một giai đoạn (ví dụ: văn hóa Đông Sơn, văn hóa Óc Eo.), theo nghĩa rộng thì văn hóa bao gồm tất cả, từ Luan van 11 những sản phẩm vật chất cho đến những giá trị tinh thần và các hoạt động khác.
Theo Phạm Văn Đồng, văn hóa là “hiểu biết, khám phá và sáng tạo”, “là quá trình con người và cộng đồng con người ở từng nơi và ở mọi nơi đoàn kết và phấn đấu cho biết bao gian khổ và hy sinh để từng bước, từng phần khẳng định mình từng bước, từng phần thoát khỏi thân phận bị tha hóa, dần dần trở thành con người tự do” Từ những đánh giá của các nhà nghiên cứu đã hình thành quan niệm đầy đủ về bản chất của văn hoá. Nếu trước đây khái niệm văn hoá chỉ được hiểu theo nghĩa hẹp trong giới hạn các hoạt động văn học, nghệ thuật thì ngày nay văn hoá được hiểu theo nghĩa rộng là tổng thể các hệ thống giá trị bao gồm các mặt tình cảm, tri thức, vật chất và tinh thần của xã hội do con người sáng tạo ra trong hoạt động thực tiễn - lịch sử của mình, trong mối quan hệ giữa con người với tự nhiên và xã hội Với những cách tiếp cận nêu trên về văn hóa các nhà nghiên cứu đã tổng kết những bản chất và thuộc tính của văn hóa, cụ thể: Thứ nhất, văn hóa là do con người sáng tạo ra. Thứ hai, văn hóa là sự thể hiện thái độ của con người đối với thế giới bên ngoài và thế giới bên trong của chính họ thông qua các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra trong đời sống nhằm đáp ứng yêu cầu của sự sinh tồn. Thứ ba, văn hóa là phương thức, cách thức con người tồn tại trong mối quan hệ với môi trường tự nhiên, xã hội và chính bản thân con người.
Trong lễ phát động: “Thập kỷ thế giới phát triển văn hoá” (Pari - tháng 12/1986) Ông F. Mayor Tổng giám đốc UNESCO đã cho rằng: “Văn hoá là tổng thể sống động các hoạt động sáng tạo (của các cá nhân và các Luan van 12 cộng đồng) trong quá khứ và trong hiện tại. Qua các thế kỷ, hoạt động sáng tạo ấy đã hình thành nên các giá trị, các truyền thống và các thị hiếu - những yếu tố xác định đặc tính riêng của mỗi dân tộc” [23, tr.32] Nghiên cứu về vấn đề văn hóa và nhận thấy những tác động tích cực của văn hóa tới các lĩnh vực của đời sống xã hội, đưa ra những lý giải về văn hóa một cách cụ thể và gần gũi hơn với con người. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đưa ra quan niệm về văn hóa: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày như ăn, mặc, ở, và các phương thức sử dụng.
Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa. Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn. Trong cuốn Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam, tác giả Trần Ngọc Thêm cho rằng: Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội của mình. Tóm lại, Văn hóa là hệ thống giá trị vật chất và tinh thần do lao động của người sáng tạo ra, được cộng đồng khẳng định tích lũy lại, tạo ra bản sắc riêng của từng tộc người, từng xã hội.
Trong Nghị quyết Trung ương 5 (Khóa VIII), Đảng ta khẳng định: Văn hóa Việt Nam là tổng thể những giá trị vật chất và tinh thần do cộng đồng các dân tộc Việt Nam sáng tạo ra trong quá trình dựng nước và giữ nước…, là kết quả giao lưu và tiếp thu tinh hoa của nhiều nền văn minh thế giới để không ngừng hoàn thiện mình. Các quan điểm về văn hóa a. Quan điểm của triết học Mác - Lênin về văn hóa Trong toàn bộ các tác phẩm kinh điển đồ sộ của mình, C. Mác không để lại một tác phẩm nào với tư cách là sự trình bày hệ thống các quan điểm của mình về văn hóa.
Văn hóa không được Mác đề cập như một lĩnh vực nghiên cứu chuyên biệt, độc lập. Nhưng toàn bộ tư tưởng của Mác về vấn đề này tự nó lại được khái quát lên và thể hiện ra trong hệ thống các quan điểm duy vật biện chứng của Mác về con người và xã hội. Trong triết học Mác, bản chất của văn hóa được thể hiện trong mối quan hệ biện chứng với bản chất của con người và xã hội. Trên cơ sở những quan điểm về con người, bản chất con người và sự tồn tại của con người, Mác đã đưa ra những quan niệm về văn hóa.
Trong quá trình tồn tại và phát triển con người cần phải dựa và tự nhiên, và tự nhiên được coi là yếu tố đầu tiên góp phần vào sự phát triển của con người. Bên cạnh yếu tố tự nhiên thì văn hóa có thể coi là nhân tố thứ hai. Mác đưa ra quan điểm “bản chất con người là tổng hòa các mối quan hệ xã hội”, với ý nghĩa đó, tự nhiên được coi là yếu tố ban đầu quy định sự tồn tại của con người với tư cách là một thực thể sinh học. Ở phương diện này, con người phải phụ thuộc vào tự nhiên và tác động vào tự nhiên để duy trì sự tồn tại của mình.
Nhân tố thứ hai giúp cho con người bộc lộ năng lực và phát huy bản chất con người, đồng thời là nhân tố gắn bó mật thiết tới đời sống của con người đó chính là văn hóa. Như vậy, văn hóa là sự kết tinh năng lực bản chất người trong thế giới các sản phẩm do chính hoạt động con người tạo ra, là cái quy định bản chất con người với tư cách là một "sinh vật có tính loài" - là "một thực thể xã hội". Nói cách khác, văn hóa là toàn bộ những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra bằng lao động và hoạt động thực tiễn trong quá trình thực Luan van 14 tiễn của mình biểu hiện trình độ phát triển xã hội trong từng thời kỳ lịch sử nhất định. Triết học Mác đã đưa ra khái niệm về văn hóa: Văn hóa là khái niệm phản ánh tổng thể sự thể hiện ra và sự phát huy những năng lực bản chất người trong tất cả các dạng thứ tồn tại hoạt động của con người và là sự phản ánh tổng thể các hệ thống giá trị do con người sáng tạo ra trong quá trình thực tiễn - lịch sử - xã hội của mình.
Chủ nghĩa Mác - Lênin khẳng định, văn hóa vật chất là năng lực sáng tạo của con người được thể hiện và kết tinh trong sản phẩm vật chất, còn văn hóa tinh thần là tổng thể các tư tưởng, lý luận và giá trị được sáng tạo ra trong đời sống tinh thần và hoạt động tinh thần của con người. Đề cập tới vai trò của văn hóa trong phát triển xã hội, Chủ nghĩa Mác - Lênin khẳng định nói tới văn hóa là nói tới con người, nói tới việc phát huy những năng lực thuộc bản chất của con người nhằm hoàn thiện con người. Do đó văn hóa có mặt trong mọi hoạt động của con người, trên mọi lĩnh vực hoạt động thực tiễn và sinh hoạt tinh thần của xã hội. Đặc biệt, khi khẳng định những ảnh hưởng của văn hóa đối với đời sống xã hội của con người, Chủ nghĩa Mác - Lênin cũng nhấn mạnh sự phát triển của văn hóa bao giờ cũng chịu sự chi phối của cơ sở kinh tế, chính trị của mỗi chế độ xã hội, do vậy nếu tách rời khỏi cơ sở kinh tế và chính trị sẽ không thể hiểu được nội dung và bản chất của văn hóa.
Vì vậy, văn hóa trong xã hội có giai cấp bao giờ cũng mang bản chất giai cấp, đây cũng là quy luật của xã hội có giai cấp, bởi vì phương thức sản xuất tinh thần, văn hóa, không thể phản ánh và không bị chi phối bởi phương thức sản xuất vật chất. Có thể nói, Chủ nghĩa Mác - Lênin đã có những đánh giá rất toàn diện về vai trò của văn hóa đối với sự phát triển của con người, từ đó nhấn mạnh phát Luan van 15 triển văn hóa là yếu tố nền tảng của xã hội là một việc làm phù hợp theo đúng quy luật khách quan. b Quan điểm của Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam về văn hóa *.