Chương 1: Cơ sở lý luận về mối quan hệ giữa an ninh kinh tế với đầu tư trực tiếp nước ngoài. Chương 2: Thực trạng mối quan hệ giữa an ninh kinh tế với đầu tư trực tiếp nước ngoài ở vùng kinh tế trọng điểm phía Nam giai đoạn 2009-2014. Chương 3: Giải pháp đảm bảo giải quyết mối quan hệ giữa an ninh kinh tế với đầu tư trực tiếp nước ngoài ở vùng kinh tế trọng điểm phía Nam. 15 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA AN NINH KINH TẾ VỚI ĐẦU TƢ TRỰC TIẾP NƢỚC NGOÀI 1.
Quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin và Đảng Cộng sản Việt Nam về mối quan hệ giữa an ninh kinh tế với đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài Mối quan hệ giữa ANKT với đầu tư trực tiếp nước ngoài, nếu hiểu rộng hơn đây chính là mối quan hệ giữa phát triển KT-XH với quốc phòng, an ninh. Phát triển KT-XH đi đôi với tăng cường củng cố quốc phòng, an ninh là nhiệm vụ chính trị quan trọng luôn đồng hành với nhau trong mọi thời kỳ của lịch sử. Kinh tế với quốc phòng, an ninh là những lĩnh vực khác nhau song giữa chúng có mối quan hệ biện chứng tác động lẫn nhau. Trong đó, kinh tế là yếu tố suy cho đến cùng quyết định đến quốc phòng an ninh, quốc phòng an ninh tác động trở lại kinh tế.
Ăngghen đã khẳng định: “Không có gì phụ thuộc vào kinh tế tiên quyết hơn là chính quân đội và hạm đội”; và “Thắng lợi hay thất bại của chiến tranh đều phụ thuộc vào điều kiện kinh tế” [49; tr. Chế độ KT-XH quyết định đến nguồn gốc, bản chất của quốc phòng, an ninh; đến khả năng huy động các nguồn lực cho quốc phòng, an ninh. Trình độ, quy mô của nền kinh tế sẽ quyết định đến số lượng, chất lượng của quốc phòng, an ninh. Kinh tế là yếu tố quan trọng quyết định đến chiến lược, chiến thuật, khoa học kỹ thuật quân sự, phương thức xây dựng và đảm bảo quốc phòng, an ninh.
Ngược lại, hoạt động đảm bảo quốc phòng, an ninh không chỉ phụ thuộc vào kinh tế mà còn tác động trở lại kinh tế trên cả góc độ tích cực và tiêu cực. Ở góc độ tích cực quốc phòng-an ninh tạo môi trường hòa bình, ổn định để phát triển KT-XH; bảo vệ thành quả KT-XH. Ở góc độ tiêu cực, hoạt động quốc phòng, an ninh về cơ bản hầu như ít tạo ra của cải vật chất cho xã hội và tiêu tốn một số lực lượng vật chất kỹ thuật do nền kinh tế tạo ra. 16 Vận dụng và phát triển quan điểm của Ph.
Ăng-ghen về mối quan hệ giữa kinh tế với quốc phòng, an ninh V. Lê-nin luôn coi trọng kết hợp chặt chẽ những vấn đề chiến lược về quốc phòng, an ninh và đối ngoại, dựa trên cơ sở xây dựng và phát triển KT-XH của đất nước [43; tr. Trong học thuyết bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa, V. Lê-nin đặc biệt coi trọng việc phát huy sức mạnh chính trị - tinh thần của chế độ xã hội chủ nghĩa ưu việt và những thành tựu về phát triển KT-XH, coi đó là cơ sở trực tiếp quyết định việc nâng cao khả năng phòng thủ đất nước, bảo vệ vững chắc tổ quốc xã hội chủ nghĩa.
Lênin chỉ rõ: “Một cuộc cách mạng chỉ có giá trị khi nào nó biết tự vệ” [44, tr. Về mối quan hệ giữa kinh tế với quốc phòng, an ninh theo Chủ tịch Hồ Chí Minh: Bảo vệ Tổ quốc không chỉ là tư tưởng quân sự, quốc phòng, an ninh, kháng chiến, mà kháng chiến bao giờ cũng đi liền với kiến quốc. Kiến quốc là xây dựng, phát triển nền kinh tế bền vững, làm cơ sở vật chất cho việc củng cố an ninh, quốc phòng [50; tr. Đối với Việt Nam, kết hợp giữa kinh tế với quốc phòng, an ninh luôn được Đảng Cộng sản Việt Nam nhận thức, quán triệt sâu sắc và thực hiện có hiệu quả trong mọi thời kỳ cách mạng.
Trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung phát triển năm 2011), Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định kết hợp giữa kinh tế với quốc phòng, an ninh có mối quan hệ hữu cơ, biện chứng, tạo thành một thể thống nhất, “tuy hai mà một, tuy một mà hai”. Đảng ta đặt lên hàng đầu “sự ổn định và phát triển bền vững mọi mặt đời sống KT-XH là nền tảng vững chắc của quốc phòng - an ninh”, đồng thời “tăng cường quốc phòng, giữ vững an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên của Đảng, Nhà nước và toàn dân” [33, tr. Đây là mối quan hệ biện chứng khách quan. Giải quyết tốt mối quan hệ này toàn Đảng, toàn dân, toàn quân phải thực hiện tốt việc kết hợp chặt chẽ giữa kinh tế với quốc phòng-an ninh, quốc phòng-an ninh với kinh tế.
Sự kết hợp đó sẽ góp phần đưa chủ trương của 17 Đảng vào trong cuộc sống, bảo đảm sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc đạt nhiều thành tựu to lớn hơn nữa. Sự gắn kết mối quan hệ giữa quốc phòng- an ninh với phát triển KT-XH là phù hợp với mối quan hệ biện chứng duy vật lịch sử, là quy luật khách quan của sự phát triển bền vững của mọi quốc gia dân tộc. Sự kết hợp này chính là sự tổng hòa, toàn diện trên cả hai phương diện lý luận và thực tiễn. Về lý luận có thể xem xét ở hai khía cạnh: Thứ nhất, KT-XH, quốc phòng-an ninh là những mặt hoạt động cơ bản của mỗi quốc gia, dân tộc có độc lập, chủ quyền.
Trên mỗi lĩnh vực có mục đích, cách thức hoạt động và quy luật riêng, song giữa chúng có mối quan hệ, tác động qua lại lẫn nhau. Trong đó, kinh tế là yếu tố nền tảng tác động đến sự vững mạnh của quốc phòng-an ninh; ngược lại, quốc phòng-an ninh cũng có tác động tích cực trở lại với kinh tế, bảo vệ và tạo điều kiện thúc đẩy kinh tế phát triển. Kinh tế quyết định đến nguồn gốc ra đời, sức mạnh của quốc phòng, an ninh. Lợi ích kinh tế suy cho cùng là nguyên nhân làm nảy sinh các mâu thuẫn và xung đột xã hội.
Để giải quyết mâu thuẫn đó, phải có các hoạt động quốc phòng an ninh đi kèm. Thứ hai, kinh tế quyết định đến việc cung cấp cơ sở vật chất kỹ thuật, nhân lực cho hoạt động quốc phòng-an ninh. Để xây dựng quốc phòng-an ninh vững mạnh phải xây dựng, phát triển kinh tế. Mặt khác, kinh tế còn quyết định đến việc cung cấp số lượng, chất lượng nguồn nhân lực cho quốc phòng, an ninh, qua đó quyết định đến tổ chức biên chế của lực lượng vũ trang; quyết định đến đường lối chiến lược quốc phòng-an ninh.
Tuy nhiên quốc phòng-an ninh không chỉ phụ thuộc vào kinh tế mà còn tác động ngược trở lại với KT-XH trên cả góc độ tích cực và tiêu cực, ở một số khía cạnh: Một là, quốc phòng-an ninh vững mạnh sẽ tạo môi trường thuận lợi, ổn định lâu dài cho phát triển KT-XH. Hoạt động quốc phòng-an ninh tiêu tốn đáng kể một phần nhân lực, vật lực, tài chính của xã hội. Nhưng tiêu dùng này theo Lênin là những tiêu dùng “mất đi”, không quay vào tái sản xuất xã hội. 18 Do đó, sẽ ảnh hưởng đến tiêu dùng của xã hội, ảnh hưởng đến sự phát triển của nền kinh tế.
Hai là, hoạt động quốc phòng-an ninh có thể dẫn đến hủy hoại môi trường sinh thái, để lại hậu quả nặng nề cho kinh tế, nhất là khi chiến tranh xảy ra (có sử dụng vũ khí hạt nhân, vũ khí hóa học, vũ khí sinh học…). Để hạn chế những tác động tiêu cực này, phải kết hợp chặt chẽ giữa tăng cường củng cố quốc phòng-an ninh với phát triển kinh tế xã hội thành một chỉnh thể thống nhất. Như vậy, về lý luận mối quan hệ giữa phát triển KT-XH với tăng cường củng cố quốc phòng-an ninh là một tất yếu khách quan. Mỗi lĩnh vực hoạt động có nội dung, phương thức riêng nhưng lại có sự thống nhất ở mục đích chung, cái này là điều kiện tồn tại của cái kia và ngược lại.
Tuy nhiên, việc kết hợp cần phải được thực hiện một cách khoa học, hợp lý, cân đối và hài hòa. Về thực tiễn: Lịch sử phát triển của các quốc gia trên thế giới đã chứng minh, dù nước lớn hay nước nhỏ; kinh tế phát triển hay chưa phát triển; dù chế độ chính trị như thế nào thì mỗi quốc gia cũng đều chăm lo thực hiện kết hợp phát triển kinh tế với tăng cường củng cố quốc phòng, an ninh, kể cả những nước mà hàng trăm năm nay chưa có chiến tranh. Tuy nhiên, các nước khác nhau, với chế độ chính trị xã hội khác nhau, điều kiện hoàn cảnh khác nhau thì sự kết hợp cũng có sự khác nhau về mục đích, nội dung, phương thức và kết quả. Ở Việt Nam, sự kết hợp đó đã có lịch sử lâu dài.
Dựng nước đi đôi với giữ nước là qui luật tồn tại, phát triển của dân tộc ta. Trước kia, để xây dựng và phát triển đất nước, ông cha ta đã có những chủ trương, kế sách thực hiện sự phát triển KT-XH với tăng cường củng cố quốc phòng-an ninh trong quá trình dựng nước và giữ nước, những kế sách giữ nước đó có thể là tư tưởng: “nước lấy dân làm gốc”, “dân giàu nước mạnh”, “quốc phú binh cường”; 19 “ngụ binh ư nông”,… đó là vừa phát triển kinh tế, vừa tăng cường sức mạnh bảo vệ quốc gia, dân tộc. Từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời và lãnh đạo cách mạng, đã kế thừa và thực hiện sự kết hợp phát triển kinh tế, xã hội với tăng cường củng cố quốc phòng, an ninh một cách nhất quán bằng những chủ trương sáng tạo, phù hợp với từng thời kỳ của cách mạng. Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954): Đảng đề ra chủ trương “vừa kháng chiến vừa kiến quốc”, “vừa chiến đấu vừa gia tăng sản xuất, thực hành tiết kiệm”; chúng ta đồng thời thực hiện phát triển kinh tế địa phương và tiến hành chiến tranh nhân dân rộng khắp: “xây dựng làng kháng chiến”, địch đến thì đánh, địch lui ta lại gia tăng sản xuất.
Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975): kết hợp phát triển kinh tế với tăng cường củng cố quốc phòng, an ninh đã được Đảng ta chỉ đạo thực hiện ở mỗi miền với nội dung và hình thức thích hợp. Ở miền Bắc, bảo vệ xã hội chủ nghĩa và xây dựng hậu phương lớn cho miền Nam đánh giặc.