Chương 1: Cơ sở lý luận về cau trúc vốn và giá trị doanh nghiệp Chương 2: Mô hình nghiên cứu Chương 3: Kết quả nghiên cứu, kết luận và hàm ý chính sách và hạn chế CHUONG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VE CẤU TRÚC VON VÀ GIÁ TRI DOANH NGHIỆP 1. Cấu trúc vốn 1. Khái niệm Cầu trúc vốn (capital structure) là thuật ngữ tài chính dùng dé miêu tả nguồn gốc va cách thức hình thành nên nguồn vốn mà doanh nghiệp dùng dé tiến hành mua săm tài sản và các phương tiện vật chất, cùng với việc thực hiện hoạt dộng kinh doanh. Theo Nguyễn Minh Kiều (2009) cấu trúc vốn được xác định bang là tỷ lệ giữa số tiền nợ và số tiền vốn chủ sở hữu, bao gồm cả vốn cô phần ưu đãi và vốn bổ sung thường được tính trong tổng nguồn vốn của doanh nghiệp.
Các lý thuyết về cấu trúc vốn: Theo Brigham và Houston (2009), cấu trúc vốn được xem là một trong những khía cạnh quan trọng trong quản trị doanh nghiệp dưới góc nhìn là một nhà quản trị. Và họ thường quan tâm đến việc tìm kiếm cấu trúc vốn tối ưu, điều này được coi là một vân đê quan trọng: - Một câu trúc vôn tôi ưu là sự sap xêp von một cách hiệu qua dé giá trị cô phiêu được tăng đên mức tôi đa. Một tiêu chuân phô biên cho câu trúc vôn tôi ưu mà các nhà quản tri doanh nghiệp thương xem xét là khi tỷ lệ nợ chiêm khoảng từ 40% đến 50% trong tông số von. - Các doanh nghiệp xác định được một co cau vốn mà họ đặt ra như một mục tiêu để phù hợp với chiến lược và mục tiêu kinh doanh của mình từ cấu trúc vốn tối ưu.
Đó là sự kết hợp các nguồn vốn khác nhau như nợ vay, cổ phần ưu đãi và cô phần phô thông thường được doanh nghiệp lập kế hoạch dé tăng thêm vốn. - Một cau trúc vốn tối ưu sẽ đòi hỏi phải đánh đổi giữa mức độ rủi ro và lợi nhuận. Tăng tỷ lệ vay hoặc sử dụng khoản vay có tính đòn bây cao hơn sẽ tăng rủi ro. Tuy nhiên, việc tăng đòn bay sẽ giảm chi phí phòng thủ thuế khi sử dụng đòn bây so với việc sử dụng vôn chủ sở hữu.
Các chỉ tiêu do lường cau trúc von gốm: - Ty lệ nợ trên vốn chủ sở hữu (Debt-to-Equity Ratio): Đây là ty lệ giữa tong số nợ của công ty so với vốn chủ sở hữu. Chỉ số này thể hiện tỷ lệ sử dụng vốn vay so với tiên dau tư của chủ sở hữu vào công ty. Nêu chỉ sô nay cao, điêu đó có nghĩa là công ty sử dụng nhiều tiền vay hơn tiền của chủ sở hữu dé hoạt động kinh doanh. Tuy nhiên, việc dùng quá nhiêu tiên vay có thê đem lại rủi ro tài chính.
- Tỷ lệ vay dai han trên tông tài sản (Long-term Debt to Total Asset Ratio): Day là tỷ lệ đo lường mức độ nợ dai han của công ty so với tổng tài sản của nó. Chỉ số này cho biết tỷ lệ giữa tong số tiền nợ dài han và tong số tài sản mà công ty sở hữu. Nếu chỉ số này cao, có nghĩa là công ty đang sử dụng nhiều tiền vay dài hạn dé đầu tư vào tài sản, tình trạng này có thé dẫn đến hoàn cảnh nợ quá nhiều và công ty bị ảnh hưởng đến khả năng thanh toán. - Tỷ lệ vay ngắn hạn trên tong tài san (Short-term Debt to Total Asset Ratio): Ty lệ này cho biết mức độ sử dung no ngắn han và tong tài sản của công ty.
Chi số này cho biết tong số tiền mà công ty vay ngắn hạn so với tổng giá trị tài sản mà công ty sở hữu. Nếu tỉ lệ này tăng lên, điều này cho thấy công ty đang sử dụng nhiều tiền vay ngắn hạn dé hoạt động kinh doanh. Tuy nhiên, tỷ lệ này có thê dẫn đến tình trạng thanh khoản kém và khó thanh toán các khoản nợ ngắn hạn của công ty. - Tỷ lệ tiền vay dai hạn trên tổng tiền vay (Long-term Debt to Total Debt Ratio): Đây là tỷ lệ giữa tông số tiền nợ dài hạn của công ty so với tổng số tiền nợ của công ty.
Chỉ số này cho biết tỷ lệ giữa tổng số tiền mà công ty vay dài hạn với tổng số tiền nợ. Lý thuyết trọng điểm vốn riêng (Modigliani-Miller) Theo lý thuyết này, sẽ không có sự phụ thuộc giữa giá trị của công ty và cau trúc vốn của nó. Nghĩa là giá trị của công ty sẽ không thay đổi nếu công ty tài trợ bằng nợ hoặc vốn chủ sở hữu. Lý do là vì những khoản lợi nhuận tăng thêm từ việc sử dụng nợ sẽ được phân phối cho cả cô đông và người cho vay, trong khi những khoản lợi nhuận tăng thêm từ việc vốn chủ sở hữu được sử dụng dé phân phối cho cô đông.
Do đó, cấu trúc vốn sẽ không làm giá trị công ty thay đôi. Tuy nhiên, lý thuyết trọng điểm vốn riêng có nhiều giả định và hạn chế trong thực tế. Lý thuyết Modigliani-Miller được xây dựng trên hai giả định cơ bản: - Ly thuyết không có thuế giả định răng các khoản thu nhập của công ty hoặc cá nhân không bi áp dụng bat kỳ loại thuế nào. Điều này được giả định nhằm đơn giản hóa tính toán và phân tích.
- Thị trường hoàn hảo: Lý thuyết thị trường hoàn hao giả định rang các nhà dau tư có thê mua hoặc ban bat kỳ loại tài sản nào với giá tương đương. Điêu nay đông nghĩa với việc giá cô phiêu và tài sản của công ty không bị ảnh hưởng bởi câu trúc vôn của nó. Tuy vậy, trong thực tê, việc dùng các nguôn vôn không giông nhau làm cho các công ty thường phải đôi diện với các chi phí thuê và các rủi ro khác nhau. Do đó, các công ty thường phải xác định một câu trúc vôn tôi ưu đê giá trị cho cô đông được tối đa hoá.
Lý thuyết đánh đổi cấu trúc vốn (The trade-off theory) Lý thuyết đánh déi cấu trúc vốn (Trade-off theory) được coi là một trong những lý thuyết cơ bản nhất và phô biến nhất trong lĩnh vực tài chính doanh nghiệp. Theo lý thuyết này đề xuất rằng các công ty cần phải tìm ra một sự cân bằng giữa việc sử dụng nợ dé dat lợi ích và chi phí phát sinh từ việc dùng nợ dé tăng cường cơ câu vôn. Theo lý thuyét này, khi các công ty quyêt định vê câu trúc von của mình, họ sẽ phải đôi mặt với một sự đánh đôi giữa chi phí nợ và lợi ích của việc sử dụng nợ. Từ đó, các công ty cân tìm ra một mức độ von nợ phù hợp đê tôi ưu hóa giá tri trả vê cho cô đông.
Lý thuyết đánh đổi câu trúc vốn cho rang khi tỷ lệ nợ vay của công ty tăng lên, chi phí của vốn nợ sẽ tăng; nhưng đồng thời, việc sử dung nợ vay cũng có kha năng tạo ra lợi ích cho công ty, gồm có: « Tang tỷ suất sinh lời cho cổ đông: Nợ vay giúp tăng lợi nhuận và sinh lợi cho cô đông. ¢ _ Giảm chi phí thuế: Khi trả lãi cho khoản vay, chi phí này có thé được khấu trừ thuế, từ đó giảm thiéu chi phí thuế. ‹ Tang khả năng đòi nợ: Nợ vay cũng giúp công ty tăng khả năng thu hồi nợ của mình vì công ty có thể sử dụng các khoản tài sản đảm bảo để đảm bảo cho khoản vay. Với những lợi ích và chi phí trên, các công ty sẽ phải tim cách tìm ra một mức độ cân băng giữa sử dụng nợ và vốn chủ sở hữu nhằm tối đa hóa giá trị cho cô đông.
Lý thuyết chi phí vốn cung cấp một khung định lượng cho việc tìm kiếm mức độ vốn nợ phù hợp nhất cho công ty, giúp quản lý rủi ro tài chính và đảm bảo tôi ưu hóa giá trị cho cô đông. Lý thuyết ưu tiên vốn (Pecking Order theory) Lý thuyết ưu tiên vốn (Pecking Order theory) là một lý thuyết trong tài chính, cho rằng các doanh nghiệp sẽ sử dụng các nguồn vốn có chi phí tối thiểu trước, trước khi chuyên sang các nguồn vốn có chi phi cao hơn dé tài trợ cho các dự án mới. Theo lý thuyết ưu tiên vốn, khi các công ty cần hỗ trợ tài chính cho các dự án đầu tư mới hoặc dé cung cấp nguồn vốn cho hoạt động kinh doanh, họ sẽ ưu tiên sử dụng các nguôn vôn theo thứ tự sau: - Nguôn von tự có: Các công ty có thé đưa nguôn von từ lợi nhuận tự có ưu tiên sử dụng nguôn vôn tự có lên hàng đâu trong danh sách ưu tiên đê cung câp tài chính cho các dự án mới hoặc dé đầu tư vào hoạt động kinh doanh. - Von nợ ngăn han: Nêu không đủ nguôn von tự có dé lam nguôn tài chính cho các kê hoạch mới, các công ty có thê ưu tiên dùng vôn nợ ngăn hạn hơn là vôn nợ dài hạn.
Giải thích cho điêu này là do việc tận dụng vôn nợ ngăn hạn sẽ không làm tăng mức nợ dài hạn của công ty và cũng giúp giảm chi phí vôn. - Von nợ dài han: Nêu các công ty không thê cung cap nguôn kinh phi cho các dự án mới hoặc hoạt động kinh doanh băng cách dùng nguôn vôn tự có hoặc vôn nợ ngăn hạn, họ sẽ dùng vôn nợ dải hạn. Tuy nhiên, dùng vôn nợ dài hạn sẽ tăng mức nợ và chi phí liên quan đên sử dụng vôn của công ty. - Phát hành cô phiếu: Khi các công ty không thể khai thác các nguồn tài chính hiện có dé hỗ trợ cho các dự án mới hoặc hoạt động kinh doanh, họ sẽ phát hành cô phiêu dé tăng cường von chủ sở hữu.
Lý thuyết ưu tiên vốn có ý nghĩa trong việc giải thích cách các doanh nghiệp tài trợ tài chính cho các hoạt động kinh doanh hoặc các dự án mới. Các doanh nghiệp sẽ ưu tiên dùng nguồn vốn có chỉ phí thấp trước, và chỉ khi cần thiết mới sử dụng nguồn vốn khác. Lý thuyết chi phí đại diện (The Agency cost) Lý thuyết chi phí dai điện (The Agency Cost) có ảnh hưởng đến cấu trúc vốn của doanh nghiệp. Theo lý thuyết này, sự giới hạn các lựa chọn cấu trúc vốn của doanh nghiệp là hậu quả của các kinh phí phát sinh từ hành động đại diện của giám đốc điều hành.