Đặt vấn đề Ở Việt Nam hiện nay, các giống gà bản địa vừa là nguồn nguyên liệu đa dạng vô cùng quý giá cho bảo tồn đa dạng nguồn gen, vừa làm giống dùng để lai tạo với gà cao sản với mục đích cải thiện khả năng sinh trưởng và phát triển nhằm tăng cao năng xuất cho các giống gà bản địa. Hiện nay việc chăn nuôi gà bản địa khá phát triển, do chúng chịu đựng được các kiểu khí hậu khắc nghiệt ở địa phương và thường có khả năng đề kháng chống lại một số loại bệnh đặc thù. Đặc biệt khi các nguồn gà công nghiệp có nguồn gốc từ các giống gà nước ngoài rất hay gặp vấn đề về an toàn thực phẩm và có chất lượng thịt chưa phù hợp với ẩm thực của người Việt Nam. Người miền Bắc có phong tục tập quán hay ăn gà luộc nên thường xuyên sử dụng các giống gà có chất lượng thịt “dai và chắc” đặc biệt là khi luộc lên thịt gà không bị mềm quá.
Gà bản địa nuôi thả vườn có chất lượng thịt đáp ứng được các nhu cầu trên. Tại thôn Liên Minh, xã Trân Châu, huyện đảo Cát Hải, thành phố Hải Phòng nơi đây có giống gà Liên Minh là một giống gà bản địa quý. Giống gà này có hình dáng to cao, chân và cổ dài, lông mượt và da vàng. Gà trống có kích thước từ 4,5 đến 5 kg, gà mái từ 2,5 đến 3 kg.
Gà Liên Minh không chỉ có hình thức đẹp mà còn nổi tiếng bởi chất lượng thịt thơm ngon, ngọt thịt, da giòn có màu vàng tươi rất bắt mắt. Gà Liên Minh thường được nuôi chăn thả tự nhiên, giống gà này có khả năng chịu đựng tốt với điều kiện thức ăn nghèo dinh dưỡng và có tính đề kháng rất cao với một số loại bệnh thường gặp ở các giống gà khác. Gà Liên Minh cũng có giá cao hơn so với các giống gà khác, thường dao động trong khoảng từ 200 - 300 nghìn đồng/kg tuỳ thời điểm. Chính vây khi chăn nuôi gà Liên Minh sẽ cho hiệu quả kinh tế cao hơn so với các giống gà khác có thể giúp người dân địa phương tăng thêm thu nhập.
Gà Liên Minh có những ưu điểm vượt trội nên đã hấp dẫn nhiều người chăn nuôi ở các địa phương khác. Tuy nhiên việc nhân giống và chăn nuôi gà Liên Minh vẫn còn bị hạn chế về mặt quy mô. Do tốc độ sinh trưởng của gà vẫn chưa được cao, từ lúc gà nở đến khi xuất bán, phải mất từ 7 – 8 tháng. Hiện nay với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ, đặc biệt là sự phát triển của ngành công nghệ sinh học việc cải thiện khả năng sinh trưởng và phát triển ở vật nuôi cũng đang nhận được quan tâm.
Ngoài các phương pháp như: Nâng cao chất 1 lượng thức ăn, tối ưu hoá quy trình chăn nuôi,… thì việc sử dụng kỹ thuật di truyền phân tử trong chọn lọc giống giúp nâng cao khả năng sinh trưởng của vật nuôi cũng đang được nhiều nhà nghiên cứu áp dụng, các nghiên cứu đã mang lại nhiều kết quả khả quan. Đã có nhiều nghiên cứu về ảnh hưởng của đa hình gen GH đến khả năng sinh trưởng của gà như của Phùng Trọng Tuyển và cs, (2016); Heba Shafei và cs, (2017) đã cho thấy các đa hình nucleotide của gen GH có ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng ở gà. Đối với đa hình gen Growth hormone indel 65 (GH indel 65) có nghiên cứu của Rong Fu và cs, (2020) cho thấy gen này có ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng của giống gà. Nghiên cứu của Qinghua Nie và cs, (2005) cho thấy đa hình nucleotide gen Growth hormone indel 50 (GH indel 50) có ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng của 8 giống gà bản địa Trung Quốc.
Ở gà Liên Minh, chưa có nghiên cứu nào phân tích mối liên quan giữa đa hình nucleotid gen GH indel 65 và đa hình nucleotid gen GH indel 50 với khả năng sinh trưởng. Vì vậy, chúng tôi thực hiện đề tài “Đánh giá mối liên quan giữa đa hình gen GH indel 50, GH indel 65 với tính trạng sinh trưởng ở gà Liên Minh” với mục tiêu phát hiện được đa hình của gen GH indel 50, GH indel 65 và đánh giá được ảnh hưởng đa hình nucleotide của kiểu gen này lên khả năng sinh trưởng của gà Liên Minh, từ đó giúp chọn lọc được kiểu gen cho kiểu hình tốt nhất, góp phần làm nâng cao khả năng sinh trưởng của giống gà. Mục tiêu nghiên cứu - Xác định được đa hình của gen GH indel 50 và đánh giá được mối quan hệ của các kiểu gen này đối với khả năng sinh trưởng của giống gà Liên Minh - Xác định được đa hình của gen GH indel 65 và đánh giá được mối quan hệ của các kiểu gen này đối với khả năng sinh trưởng của giống gà Liên Minh 1. Yêu cầu - Theo dõi các chỉ tiêu sinh trưởng của 60 cá thể gà Liên Minh trong 20 tuần, từ 01 ngày tuổi đến 20 tuần tuổi.
- Tách chiết DNA tổng số từ mẫu máu của 60 cá thể gà Liên Minh. - Khuếch đại đoạn gen GH indel 50 và đoạn gen GH indel 65. 2 - Đánh giá mối liên quan giữa đa hình gen GH indel 50 với các chỉ tiêu sinh trưởng ở gà Liên Minh. - Đánh giá mối liên quan giữa đa hình gen GH indel 65 với các chỉ tiêu sinh trưởng ở gà Liên Minh.
TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Thông tin cơ bản về loài gà 2. Khái niệm Gà (danh pháp hai phần: Gallus gallus, Gallus gallus domesticus) là một loài chim đã được con người thuần hoá cách đây hàng nghìn năm. Một số ý kiến cho rằng loài này có thuỷ tổ từ loài chim hoang dã ở Ấn Độ và loài gà rừng lông đỏ nhiệt đới ở vùng Đông Nam Á.
Đặc điểm Gà thuộc loài động vật ăn tạp. Trong tự nhiên, chúng thường bới đất tìm hạt cây, côn trùng, thằn lằn hoặc chuột nhắt con. Tuổi thọ của gà có thể từ năm đến mười năm tùy theo giống. Theo giới tính gà được chia làm 2 loại là gà trống và gà mái.
Gà trống thường trông khác biệt với gà mái bởi bộ lông sặc sỡ, chiếc đuôi dài và bóng, lông nhọn trên cổ và lưng thường sáng và đậm màu hơn. Có thể phân biệt trống - mái dựa trên mào gà hoặc sự phát triển của cựa ở chân gà trống. Gà trưởng thành còn có những yếm thịt trên cổ phía dưới mỏ. Cả gà trống và mái đều có mào và yếm thịt, tuy nhiên ở đa số giống gà thì những đặc điểm này chỉ nổi bật ở gà trống.
Tuy có nguồn gốc từ loài chim nhưng nhìn chung những cá thể gà chỉ có thể bay quãng ngắn, chẳng hạn bay qua hàng rào hoặc bay lên cây, nhưng gà nhà không có khả năng bay xa vì gà thuộc lớp chim nhưng thuộc nhóm chim đào bới chứ không phải chim bay, do cấu tạo cơ thể có đầy đủ các bộ phận như chim nhưng nó không có cấu tạo thích nghi với đời sống bay lượn, do đó nó không bay được như chim, mặc dù cũng bay được một đoạn ngắn và tầm bay thấp. Gà thỉnh thoảng bay từng chập khi chúng khám phá khu vực xung quanh nhưng thường chỉ viện đến khả năng bay khi muốn tháo thân khỏi nguy hiểm. Đặc điểm ngoại hình của gà Theo Nguyễn Chí Bảo (1978), các đặc điểm bộ phận đặc trưng của giống gà cơ bản gồm 5 bộ phận: Đầu, mào, mỏ, bộ lông, chân: Đầu: Cấu tạo xương đầu được coi như có độ tin cậy cao nhất trong việc đánh giá đầu gia cầm. Da mặt và các phần phụ của da dầu cho phép rút ra kết luận về sự phát triển của mô đỡ và mô liên kết.
Gà trống có ngoại hình đầu giống gà mái sẽ có 4 tính sinh dục kém, gà mái có ngoại hình đầu giống gà trống sẽ không cho năng suất cao, trứng thường không phôi. Mào: Theo hình dáng của mào, mào dưới ta có thể biết được trạng thái sức khỏe và điều kiện sống của gà. Mào trên và mào dưới thuộc về các đặc diểm sinh dục phụ, khi buồng trứng hoạt động bình thường thì mào lớn chứa nhiều máu và ngược lại. Mỏ: chắc chắn và ngắn.
Gà có mỏ dài và mảnh không có khả năng sản xuất cao. Những giống gà da vàng thi mỏ cũng vàng, ở gà mái màu sắc này có thể bị nhạt đi ở cuối thời kì đẻ trứng. Bộ lông: Thể hiện đặc điểm di truyền của giống và có ý nghĩa quan trọng trong phân loại. Khi mới nở, gia cầm con được lông tơ che phủ, trong quá trình phát triển lông tơ dần được thay thế bằng lông cố định.
Tốc độ mọc lông là sự biểu hiện khả năng mọc lông sớm hay muộn, có thể có quan hệ mật thiết với cường độ hô hấp của gia cầm. Gà mái mọc lông đều hơn gà trống trong cùng một dòng và ảnh hưởng của hoocmon có tác dụng ngược với gen liên kết quy định tốc độ mọc lông. Màu lông do một gen quy định, phụ thuộc vào sắc tố chứa trong bào tương của tế bào. Lông gia cầm có màu sắc khác nhau là do tổc độ oxy hóa các chất tiền sắc tố melanin trong các tế bào lông.
Nếu các chất sắc tố là nhóm lipocrom thi lông có màu vàng, xanh tươi hoặc màu đỏ, nếu không có chất sắc tố thì lông màu trắng. Chân: Gà giống tốt phải có chân chắc chắn nhưng không được thô. Gà có chân hình chữ bát, các ngón cong, xương khuyết tật không nên sử dụng làm giống. Đặc điểm chân cao liên quan đến khả năng cho thịt thấp và phát dục chậm 2.
Chăn nuôi gà Hiện nay trên thế giới mỗi năm đang tiêu thụ khoảng 50 tỷ con gà để làm thực phẩm - trứng và thịt. Đa số gia cầm được nuôi bằng kỹ thuật công nghiệp. Theo viện Worldwatch (2006) thì 74% số thịt gia cầm và 68% số trứng được sản xuất theo lối này. Ngoài ra còn có cách nuôi gà thả vườn.
5 Nuôi lấy thịt Gà sống khoảng sáu năm hay hơn, tuy nhiên gà nuôi lấy thịt thông thường chỉ mất sáu tuần là đạt được kích cỡ giết thịt. Gà nuôi thả vườn hay gà nuôi bằng thực phẩm hữu cơ thường bị giết mổ khi đạt 14 tuần tuổi. Nuôi lấy trứng Loài gà có thể đẻ 300 trứng/năm. Khả năng đẻ trứng của gà lấy trứng bắt đầu giảm sau 12 tháng.
Gà mái rụng đáng kể lông và tuổi thọ sụt giảm từ bảy năm xuống dưới hai năm. Việc ấp trứng có thể diễn ra thành công dưới bàn tay con người thông qua máy móc cung cấp môi trường ấp chuẩn xác và có kiểm soát.