Tổng quan nghiên cứu

Trong bối cảnh đẩy mạnh đổi mới cơ chế quản trị công, tỷ lệ đơn vị sự nghiệp y tế tự bảo đảm chi thường xuyên tại Việt Nam đã gia tăng đáng kể từ 1,3% năm 2013 lên mức 4,2% vào năm 2017 với 89 đơn vị. Riêng tại 18 bệnh viện trực thuộc Bộ Y tế, việc thực hiện cơ chế tự chủ đã giúp cắt giảm 20.599 người hưởng lương trực tiếp từ ngân sách nhà nước, đồng thời tiết kiệm hàng nghìn tỷ đồng chi ngân sách mỗi năm. Mặc dù các văn bản pháp quy quan trọng như Nghị định 43/2006/NĐ-CP và Nghị định 16/2015/NĐ-CP đã mở ra không gian phát triển vượt bậc về tự chủ tài chính và tổ chức bộ máy, phần lớn các bệnh viện công lập hiện nay vẫn tập trung chủ yếu vào nguồn thu dịch vụ khám chữa bệnh mà chưa chú trọng thiết lập mối liên kết khoa học và công nghệ (KH&CN) với các đối tác ngoài bệnh viện.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của luận văn là làm rõ thực trạng phân tán, thiếu đồng bộ trong hoạt động nghiên cứu và triển khai (R&D) tại các bệnh viện công lập, nơi các mối quan hệ hợp tác công nghệ còn lỏng lẻo và thiếu cơ chế vận hành mềm dẻo. Mục tiêu nghiên cứu cụ thể là xác lập cơ sở khoa học và đề xuất hệ thống giải pháp xây dựng mối liên kết hiệu quả giữa tổ chức KH&CN tại bệnh viện công lập với các đối tác trong và ngoài bệnh viện theo nguyên tắc tự chủ, gắn liền với nhu cầu thực tiễn xã hội.

Phạm vi khảo sát của đề tài tập trung vào giai đoạn 2010 – 2018 tại Bệnh viện Bạch Mai – bệnh viện đa khoa hoàn chỉnh hạng đặc biệt với quy mô 1.900 giường bệnh, kết hợp so sánh với một số bệnh viện lớn khu vực phía Bắc. Đề tài mang ý nghĩa lý luận sâu sắc trong chuyên ngành Quản lý Khoa học và Công nghệ, đồng thời có giá trị thực tiễn định lượng cao nhằm gia tăng hiệu quả khai thác hơn 200 đề tài nghiên cứu hàng năm và mở rộng năng lực chuyển giao công nghệ đến mạng lưới 18 bệnh viện vệ tinh tại 21 tỉnh thành.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn xây dựng hệ thống luận cứ dựa trên ba trụ cột lý thuyết và mô hình quản lý hiện đại:

Thứ nhất là Lý thuyết chính sách và các mô hình tổ chức KH&CN của Giáo sư Vũ Cao Đàm (2009, 2010). Luận văn vận dụng khung phân tích 4 mô hình tổ chức KH&CN cơ bản, bao gồm mô hình chuyển giao truyền thống qua công ty tư vấn, mô hình doanh nghiệp tự triển khai công nghệ, mô hình viện nghiên cứu tạo lập doanh nghiệp khoa học công nghệ (spin-off) và mô hình doanh nghiệp mở rộng chuỗi giá trị từ nghiên cứu ứng dụng đến tư vấn thương mại hóa.

Thứ hai là Khung phân loại hoạt động nghiên cứu và triển khai theo tiêu chuẩn UNESCO. Cấu trúc R&D được phân định rõ ràng thành nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng và ba giai đoạn triển khai thực nghiệm gồm chế tác vật mẫu (prototype), sản xuất thử nghiệm quy trình (pilot) và sản xuất loạt nhỏ (series 0) để xác định độ tin cậy công nghệ.

Thứ ba là Lý thuyết tự chủ tổ chức (Autonomy) và Cấu trúc 4 thành phần công nghệ của Giáo sư Trần Ngọc Ca (phần kỹ thuật, phần thông tin, phần con người và phần tổ chức). Tự chủ trong hoạt động KH&CN y tế được định nghĩa qua 5 tiêu chí cốt lõi: tự trị định hướng học thuật, tự chủ huy động tài chính, xóa bỏ rào cản hành chính, tự do chuyển đổi mô hình tổ chức và chuẩn hóa tiêu chí đánh giá kết quả theo thông lệ quốc tế. Các khái niệm chính bao gồm: tổ chức KH&CN bệnh viện, tự chủ tài chính y tế, chuyển giao công nghệ lâm sàng và chuỗi giá trị viện - trường - doanh nghiệp.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng kết hợp các nguồn dữ liệu thứ cấp và sơ cấp được thu thập trong khung thời gian từ năm 2010 đến 2018:

Nguồn dữ liệu thứ cấp bao gồm hệ thống báo cáo tài chính, báo cáo tổng kết hoạt động R&D của Bộ Y tế, số liệu thống kê quản trị của Bệnh viện Bạch Mai và các văn bản quy phạm pháp luật liên quan từ Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Nội vụ và Bộ Tài chính.

Cỡ mẫu nghiên cứu định tính gồm 15 chuyên gia và nhà quản lý chủ chốt, bao gồm thành viên Ban Giám đốc Bệnh viện Bạch Mai, lãnh đạo các Viện, Trung tâm chuyên khoa, Trưởng phòng Nghiên cứu khoa học cùng các chuyên gia chính sách thuộc Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) và Vụ Khoa học Đào tạo - Bộ Y tế. Phương pháp chọn mẫu có chủ đích (purposive sampling) được lựa chọn nhằm tiếp cận trực tiếp những cá nhân nắm giữ quyền hạn ra quyết định và có trải nghiệm thực tế sâu sắc nhất về cơ chế tự chủ y tế.

Phương pháp phân tích tài liệu và kỹ thuật phỏng vấn sâu được áp dụng để đối chiếu giữa quy định văn bản với thực tiễn triển khai. Lý do lựa chọn cách tiếp cận định tính kết hợp phân tích thống kê mô tả là nhằm giải mã căn nguyên của các điểm nghẽn thể chế, từ đó thiết kế mô hình đơn vị trung gian KH&CN phù hợp với đặc thù quản trị bệnh viện công lập tại Việt Nam.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, tiềm lực khoa học công nghệ tại Bệnh viện Bạch Mai rất hùng hậu nhưng chưa được thương mại hóa tương xứng. Đơn vị sở hữu nguồn nhân lực chất lượng cao với hơn 2.500 cán bộ viên chức, trong đó có gần 800 cán bộ trình độ sau đại học cùng sự phối hợp thường trực của hơn 200 cán bộ giảng dạy từ Đại học Y Hà Nội theo mô hình Viện - Trường. Trung bình mỗi năm, bệnh viện triển khai khoảng 5 đề tài cấp Nhà nước, 20 đề tài cấp Bộ và 200 đề tài cấp cơ sở. Trong 5 năm khảo sát, bệnh viện đã ứng dụng thành công hơn 500 kỹ thuật mới hiện đại như xạ trị gia tốc, hệ thống chẩn đoán PET/CT, công nghệ gen trị liệu, thực hiện 60 ca thụ tinh trong ống nghiệm (IVF), 62 ca ghép thận và 36 ca ghép tủy. Tuy nhiên, gần như toàn bộ các kết quả này chỉ dừng lại ở phục vụ điều trị nội bộ mà chưa được đóng gói thành tài sản trí tuệ để chuyển giao thương mại.

Thứ hai, thực trạng tự chủ tài chính trong toàn ngành y tế bộc lộ sự phân hóa sâu sắc. Đến năm 2017, số lượng đơn vị y tế công lập tự bảo đảm chi thường xuyên đạt 89 đơn vị (chiếm 4,2%), tăng 217,8% so với mức 28 đơn vị của năm 2013. Số đơn vị do ngân sách nhà nước bảo đảm toàn bộ kinh phí giảm từ 31,8% (678 đơn vị) xuống còn 27,9% (592 đơn vị). Tuy nhiên, số liệu năm 2016 tại 2.146 đơn vị y tế cho thấy có tới 1.846 đơn vị (chiếm 86,02%) có thu nhập tăng thêm cho người lao động dưới 1 lần lương cơ sở, và chỉ có 32 đơn vị (chiếm 1,49%) đạt mức tăng thêm trên 2 lần lương.

Thứ ba, cơ chế liên kết đối ngoại của tổ chức KH&CN bệnh viện còn mang tính hành chính một chiều. Dù công tác chỉ đạo tuyến đạt kết quả ấn tượng với hơn 5.000 lượt cán bộ tăng cường cho 49 bệnh viện thuộc 21 tỉnh thành phía Bắc và xây dựng thành công 18 bệnh viện vệ tinh, mối liên kết với các doanh nghiệp sản xuất dược phẩm, trang thiết bị y tế và các quỹ đầu tư mạo hiểm hầu như chưa được thiết lập. Bệnh viện thiếu hẳn một tổ chức trung gian có tư cách pháp nhân độc lập để đàm phán và vận hành các hợp đồng nghiên cứu triển khai theo cơ chế thị trường.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân căn bản của tình trạng trên bắt nguồn từ sự bất cập trong hệ thống chính sách. Nghị định 43/2006/NĐ-CP, Nghị định 85/2012/NĐ-CP và Nghị định 16/2015/NĐ-CP chủ yếu tiếp cận tự chủ dưới góc độ cắt giảm gánh nặng chi ngân sách nhà nước thông qua giá dịch vụ y tế, chưa hình thành hành lang pháp lý cho quyền tự chủ công nghệ và tự trị nghiên cứu. Giá dịch vụ y tế theo Thông tư liên tịch 37/2015/TTLT-BYT-BTC mới chỉ tính 2/4 yếu tố chi phí (chi phí trực tiếp và tiền lương), chưa tính đủ chi phí quản lý và khấu hao tài sản, khiến bệnh viện gặp khó khăn trong việc trích lập quỹ đầu tư R&D mạo hiểm.

Dữ liệu phân bổ kinh phí nghiên cứu có thể được trực quan hóa thông qua biểu đồ so sánh cơ cấu vốn, phản ánh tỷ trọng ngân sách nhà nước cấp trực tiếp cho nghiên cứu khoa học tại các bệnh viện chiếm tỷ lệ rất nhỏ so với tổng doanh thu khám chữa bệnh. Bảng so sánh 4 mô hình tổ chức KH&CN cũng làm nổi bật khoảng trống thể chế: bệnh viện công lập hiện đang vận hành theo mô hình tổ chức R&D khép kín cổ điển, thiếu các thực thể cầu nối như doanh nghiệp spin-off hoặc công ty tư vấn công nghệ y tế. Kết quả này củng cố báo cáo của Ngân hàng Thế giới năm 2011 về tự chủ bệnh viện tại Việt Nam, khẳng định việc thiếu tự chủ trong khai thác tài sản trí tuệ và quản trị nhân sự chất lượng cao đang kìm hãm tiềm năng thương mại hóa các phát minh y sinh học.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm tháo gỡ rào cản và xác lập mối liên hệ bền vững giữa tổ chức KH&CN tại bệnh viện công lập với các đối tác, luận văn đưa ra 4 nhóm giải pháp mang tính hành động cao:

Thứ nhất, thiết lập Viện Khoa học và Công nghệ trực thuộc Bệnh viện Bạch Mai đóng vai trò đơn vị trung gian điều phối. Ban Giám đốc bệnh viện cần phê duyệt đề án chuyển đổi Phòng Nghiên cứu khoa học thành Viện KH&CN độc lập trong giai đoạn 2019 – 2020. Đơn vị này chịu trách nhiệm làm đầu mối kết nối nhu cầu điều trị của 23 khoa lâm sàng với các trường đại học, viện nghiên cứu và doanh nghiệp, hướng tới mục tiêu tăng trưởng 30% số lượng hợp đồng R&D liên kết ngoài ngân sách.

Thứ hai, hoàn thiện hành lang pháp lý và trao quyền tự chủ toàn diện về hoạt động KH&CN y tế. Bộ Y tế chủ trì phối hợp với Bộ Khoa học và Công nghệ cùng Bộ Tài chính ban hành văn bản hướng dẫn thực hiện Nghị định 16/2015/NĐ-CP trong giai đoạn 2020 – 2022. Chính sách cần cho phép các bệnh viện hạng đặc biệt được tự chủ ký kết hợp tác công - tư (PPP), sử dụng cơ sở hạ tầng phục vụ nghiên cứu thử nghiệm và trích tối thiểu 10% nguồn thu chênh lệch dịch vụ để tái đầu tư cho Quỹ phát triển KH&CN.

Thứ ba, thí điểm thành lập doanh nghiệp khoa học công nghệ (doanh nghiệp spin-off) trong lòng bệnh viện. Bệnh viện Bạch Mai phối hợp với các nhà đầu tư tư nhân xây dựng đề án thành lập doanh nghiệp KH&CN y tế trước năm 2023, tập trung vào khâu sản xuất thử nghiệm loạt 0 và thương mại hóa các chế phẩm sinh học, kỹ thuật tế bào gốc và thiết bị y tế sáng chế, đặt mục tiêu tối thiểu 15% kỹ thuật mới được chuyển giao có bản quyền thương mại.

Thứ tư, đổi mới cơ chế tuyển dụng, thu hút nhân tài và phân chia lợi ích nghiên cứu. Phòng Tổ chức cán bộ và Hội đồng Khoa học bệnh viện ban hành quy chế tài chính nội bộ mới từ năm 2020, quy định tỷ lệ phân chia thù lao từ 30% đến 50% lợi nhuận thu được từ thương mại hóa sáng chế cho nhóm tác giả nghiên cứu, tạo đòn bẩy vật chất giữ chân đội ngũ 800 cán bộ sau đại học và thu hút các chuyên gia y tế quốc tế.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu mang lại giá trị ứng dụng thiết thực cho 4 nhóm đối tượng trọng tâm sau:

Thứ nhất, Ban Giám đốc và cán bộ quản lý tại các bệnh viện công lập tuyến trung ương và tuyến tỉnh. Tài liệu cung cấp bản thiết kế chi tiết về mô hình đơn vị trung gian KH&CN, hỗ trợ các nhà quản trị bệnh viện tối ưu hóa nguồn lực từ hệ thống giường bệnh điều trị để mở rộng quan hệ đối tác R&D với các tổ chức trong và ngoài nước.

Thứ hai, các nhà hoạch định chính sách tại Bộ Y tế, Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Tài chính và Bộ Nội vụ. Luận văn cung cấp bằng chứng thực tiễn về những bất cập của Nghị định 43/2006/NĐ-CP và Nghị định 16/2015/NĐ-CP, đóng vai trò căn cứ thực tế để xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật về đổi mới sáng tạo và cơ chế tự chủ toàn diện trong ngành y tế.

Thứ ba, các doanh nghiệp dược phẩm, công ty thiết bị y tế và các quỹ đầu tư mạo hiểm. Các tập đoàn sản xuất có thể tham khảo mô hình liên kết Viện - Trường - Doanh nghiệp để thiết lập các hợp đồng thử nghiệm lâm sàng, đặt hàng R&D và nhận chuyển giao công nghệ y sinh độc quyền từ các chuyên gia đầu ngành.

Thứ tư, giảng viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh chuyên ngành Quản lý Khoa học và Công nghệ, Quản lý Kinh tế và Quản trị Bệnh viện. Luận văn là tài liệu tham khảo học thuật chuẩn mực về phương pháp nghiên cứu tình huống điển hình (case study), phân tích chính sách và áp dụng lý thuyết đổi mới công nghệ vào lĩnh vực y tế công cộng.

Câu hỏi thường gặp

Cơ chế tự chủ bệnh viện công lập hiện nay đã bao hàm đầy đủ quyền tự chủ trong nghiên cứu khoa học hay chưa?

Chưa đầy đủ. Các chính sách hiện hành như Nghị định 43/2006/NĐ-CP và Nghị định 16/2015/NĐ-CP chủ yếu tập trung vào quyền tự chủ tài chính và tổ chức bộ máy phục vụ khám chữa bệnh. Hoạt động R&D tại các bệnh viện công lập vẫn chịu sự ràng buộc bởi các quy định hành chính cứng nhắc, thiếu quyền tự chủ định giá công nghệ và chưa có cơ chế tài chính linh hoạt để hợp tác thương mại với doanh nghiệp.

Vì sao Bệnh viện Bạch Mai cần thành lập một Viện Khoa học và Công nghệ làm đơn vị trung gian?

Bệnh viện Bạch Mai hiện có quy mô rất lớn với 11 Viện, Trung tâm, 23 Khoa lâm sàng và hơn 200 đề tài nghiên cứu hàng năm nhưng đang thiếu đầu mối quản lý tập trung. Việc thành lập Viện KH&CN trung gian giúp chuyên nghiệp hóa khâu đàm phán hợp đồng, bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ và kết nối trực tiếp năng lực lâm sàng với các nguồn vốn đầu tư bên ngoài.

Đâu là rào cản lớn nhất khi bệnh viện công lập liên kết R&D với khối doanh nghiệp tư nhân?

Rào cản lớn nhất là sự thiếu hụt hành lang pháp lý rõ ràng về việc sử dụng tài sản công và nhân lực công lập để tham gia liên doanh, liên kết theo hình thức đối tác công - tư (PPP). Ngoài ra, các quy định phức tạp về định giá sáng chế y học và rủi ro đạo đức sinh học trong thử nghiệm lâm sàng cũng khiến các nhà đầu tư ngần ngại rót vốn.

Mô hình kết hợp Viện - Trường tại Bệnh viện Bạch Mai mang lại giá trị nổi bật nào?

Mô hình phát huy sức mạnh cộng hưởng khi huy động hơn 200 cán bộ từ Đại học Y Hà Nội tham gia điều trị và nghiên cứu trực tiếp tại bệnh viện. Sự kết hợp này đã giúp đào tạo liên tục cho hơn 50.000 lượt cán bộ y tế trong 10 năm, đồng thời bảo đảm nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ chuyển giao hơn 10.000 kỹ thuật chuyên sâu cho các tuyến y tế cơ sở.

Bệnh viện công lập có thể thành lập doanh nghiệp spin-off để kinh doanh công nghệ y tế không?

Theo Luật Khoa học và Công nghệ và hệ thống lý thuyết quản lý hiện đại, bệnh viện công lập hoàn toàn có quyền thành lập doanh nghiệp KH&CN trực thuộc. Tuy nhiên, để hiện thực hóa mô hình này, Nhà nước cần ban hành nghị định hướng dẫn riêng về cơ chế góp vốn bằng tài sản trí tuệ và quy chế phân chia lợi nhuận minh bạch cho các nhà khoa học y khoa.

Kết luận

Luận văn thạc sĩ của tác giả Nguyễn Vân Khánh đã hoàn thành xuất sắc các mục tiêu nghiên cứu với 5 kết quả then chốt:

  • Khẳng định tính cấp thiết của việc mở rộng quyền tự chủ bệnh viện từ tự chủ tài chính thuần túy sang tự chủ toàn diện về khoa học và công nghệ.
  • Hệ thống hóa cơ sở lý luận vững chắc về 4 mô hình tổ chức KH&CN và quy trình triển khai R&D theo tiêu chuẩn của UNESCO và các học giả hàng đầu.
  • Phân tích sâu sắc thực trạng năng lực R&D tại Bệnh viện Bạch Mai với hơn 500 kỹ thuật tiên tiến được áp dụng và mạng lưới 18 bệnh viện vệ tinh rộng khắp.
  • Chỉ rõ những điểm nghẽn về thể chế, sự thiếu vắng mô hình tổ chức trung gian và cơ chế phân chia lợi nhuận chưa tương xứng với đội ngũ chuyên gia.
  • Đề xuất mô hình Viện KH&CN làm đầu mối kết nối đa bên cùng lộ trình thành lập doanh nghiệp spin-off y tế gắn liền với thực tiễn giai đoạn mới.

Công trình là đóng góp học thuật và thực tiễn quan trọng cho chuyên ngành Quản lý Khoa học và Công nghệ, cung cấp cẩm nang hành động thiết thực cho các nhà quản lý y tế trong lộ trình tự chủ 2020 – 2025. Hãy tham khảo toàn văn luận văn để trang bị những giải pháp quản trị đổi mới sáng tạo đột phá cho đơn vị của bạn ngay hôm nay!