Chương 1. Cơ sở lý luận về xây dựng mối liên hệ giữa tổ chức khoa học và công nghệ tại bệnh viện công lập với các đối tác trong và ngoài bệnh viện theo hướng tự chủ 1. Khái niệm chính sách Có nhiều cách tiếp cận để xem xét khái niệm chính sách, trong đó đáng chú ý là James E. Anderson đã đưa ra định nghĩa: “Chính sách là quá trình hành động có mục tiêu, mà một hoặc một số chủ thể theo đuổi để giải quyết những vấn đề mà họ quan tâm”.
Từ tiếp cận xã hội học, chúng ta có thể hiểu“ chính sách là tập hợp biện pháp do chủ thể quản lý đưa ra, nhằm tạo lợi thế cho một (hoặc một số) nhóm xã hội, giảm lợi thế của một (hoặc một số) nhóm xã hội khác, để thúc đẩy việc thực hiện một (hoặc một số) mục tiêu xã hội mà chủ thể quyền lực đang hướng tới”. Từ tiếp cận tâm lý học, chúng ta có thể hiểu “chính sách là tập hợp biện pháp đối xử ưu đãi đối với một nhóm xã hội, nhằm kích thích vào động cơ hoạt động của nhóm này hướng theo việc thực hiện một (hoặc một số) mục tiêu của chủ thể quyền lực”. Từ tiếp cận thiết chế xã hội thì “ chính sách là một thiết chế xã hội, nó bao gồm những chuẩn mực và những giá trị được cấu trúc thành những khuôn mẫu tác phong, được xã hội thừa nhận dưới dạng các điều khoản pháp luật, và đóng vai trò những công cụ nhằm thỏa mãn những nhu cầu cơ bản của xã hội”. Theo tác giả Vũ Cao Đàm: “Chính sách là một tập hợp biện pháp được thể chế hoá, mà một chủ thể quyền lực, hoặc chủ thể quản lý đưa ra, trong đó tạo sự 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com ưu đãi một nhóm xã hội, kích thích vào động cơ hoạt động của nhóm này, định hướng hoạt động của họ nhằm thực hiện một mục tiêu ưu tiên nào đó trong chiến lược phát triển của một hệ thống xã hội.” [Vũ Cao Đàm; 2010] Khái niệm “Hệ thống xã hội” ở đây được hiểu theo một ý nghĩa khái quát.
Đó có thể là một quốc gia, một khu vực hành chính, một doanh nghiệp, một nhà trường. Như vậy, nói về một quyết định chính sách, người quản lý có thể hiểu như sau: - Chính sách là một tập hợp biện pháp. Đó có thể là một biện pháp kích thích kinh tế, biện pháp động viên tinh thần, một biện pháp mệnh lệnh hành chính hoặc một biện pháp ưu đãi đối với các cá nhân hoặc các nhóm xã hội. - Chính sách là một tập hợp biện pháp được thể chế hoá dưới dạng các đạo luật, pháp lệnh, sắc lệnh; các văn bản dưới luật, như nghị định, thông tư, chỉ thị của chính phủ; hoặc các văn bản quy định nội bộ của các tổ chức (doanh nghiệp, bệnh viện, trường học…) - Chính sách phải tác động vào động cơ hoạt động của các cá nhân và nhóm xã hội.
Đây phải là nhóm đóng vai trò động lực trong việc thực hiện một mục tiêu nào đó. Ví dụ, nhóm quân đội trong chính sách bảo vệ Tổ quốc, nhóm giáo viên trong chính sách giáo dục, nhóm khoa học gia trong chính sách khoa học, nhóm các nhà kinh doanh trong chính sách kinh tế. Mỗi nhóm được đặc trưng bởi những thang bậc giá trị khác nhau về nhu cầu. Đó là cơ sở tâm lý học giúp chúng ta vận dụng các bậc thang nhu cầu trong việc tạo động cơ cho đối tượng chính sách.
- Chính sách phải tác động hướng vào động cơ của các cá nhân và nhóm xã hội. Đây phải là nhóm đóng vai trò động lực trong việc thực hiện một mục tiêu nào đó. 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trong luận văn này tác giả sử dụng khái niệm về chính sách của tác giả Vũ Cao Đàm và như vậy khi nói đến chính sách cần phải chú ý đến các yếu tố dưới đây: - Chính sách là tập hợp những biện pháp mà chủ thể quyền lực hoặc chủ thể quản lý đưa ra, được thể chể hoá thành những quy định có giá trị pháp lý, nhằm thực hiện chiến lược phát triển của hệ thống theo mục đích mà chủ thể quyền lực mong đợi. - Bản chất của chính sách là sự phân biệt đối xử trong xã hội đối với các nhóm xã hội khác nhau.
Trong sự phân biệt đối xử đó, chủ thể quyền lực có sự ưu đãi đối với một (hoặc một số) nhóm xã hội nào đó là nhóm đóng vai trò tác nhân của mục tiêu phát triển hệ thống. - Các biện pháp ưu đãi phải có tác dụng kích thích động cơ hoạt động của nhóm được ưu đãi, là nhóm có vai trò then chốt trong việc thực hiện các mục tiêu phát triển hệ thống, nhằm thực hiện mục tiêu phát triển của hệ thống theo chiến lược mà nhóm chủ thể quyền lực hoặc chủ thể quản lý đưa ra. - Một chính sách luôn tạo ra một bất bình đẳng xã hội, rất có thể, đồng thời khắc phục một bất bình đẳng xã hội đang tồn tại, rất có thể khoét sâu thêm những bất bình đẳng vốn có, nhưng cuối cùng phải nhằm mục đích tối thượng, là thoả mãn những nhu cầu cơ bản của mục tiêu phát triển xã hội. Có một điểm cần lưu ý là nhóm được lợi không nhất thiết lúc nào cũng chiếm số đông.
Khái niệm công nghệ Từ “công nghệ” có gốc Hy Lạp, nó được ghép bởi tekhne có nghĩa là kỹ năng và logos có nghĩa là sự nghiên cứu. Thuật ngữ technology trong tiếng Anh có thể hiểu là sự nghiên cứu có hệ thống về kỹ thuật. 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Có nhiều khái niệm về công nghệ, Trần Văn Hải (2017) trong Giáo trình Chuyển giao công nghệ đã tổng hợp quan niệm về công nghệ của các học giả trên thế giới và trong nước, cụ thể: - Tổ chức PRODEC (1982) đưa ra quan niệm: “Công nghệ là mọi loại kĩ năng, kiến thức, thiết bị và phương pháp được sử dụng trong sản xuất công nghiệp, chế biến và dịch vụ”. - Ngân hàng thế giới thì định nghĩa (1985): “Công nghệ là phương pháp chuyển hóa các nguồn lực thành sản phẩm, gồm 3 yếu tố: Thông tin về phương pháp; Phương tiện, công cụ sử dụng phương pháp để chuyển hóa; Sự hiểu biết phương pháp hoạt động như thế nào và tại sao”.Root cho rằng: “Công nghệ là dạng kiến thức có thể áp dụng đươc vào việc sản xuất ra các sản phẩm và sang tạo ra sản phẩm mới”.Dunning cho rằng: “Công nghệ là nguồn lực bao gồm kiến thức được áp dụng để nâng cao hiệu quả sản xuất và việc nghiên cứu tiếp cận thị trường cho những sản phẩm và dịch vụ đang có và tạo ra những sản phẩm và dịch vụ mới”.
- Nawar Sharif đưa ra định nghĩa: “Công nghệ là là một hệ thống tri thức về quá trình chế biến vật chất hoặc/và thông tin, về phương tiện và phương pháp chế biến vật chất hoặc/và thông tin”. Công nghệ là một tập hợp phần cứng và phần mềm bao gồm 4 yếu tố: phần kỹ thuật, phần thông tin, phần con người và phần tổ chức. Trong luận văn này tác giả sử dụng định nghĩa về công nghệ do tác giả Trần Ngọc Ca đưa ra:“Công nghệ có thể được hiểu như là mọi loại hình kiến thức, thông tin, bí quyết, phương pháp (gọi là phần mềm) được lưu giữ dưới các dạng khác nhau (con người, ghi chép.) và mọi loại hình thiết bi, công cụ, tư liệu sản xuất (gọi là phần cứng) và một số tiềm năng khác ( tổ chức, pháp chế, 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com dịch vụ.) được áp dụng vào môi trường thực tế để tạo ra các loại sản phẩm và dịch vụ”. Trong định nghĩa nêu trên, công nghệ là một tập hợp của phần cứng và phần mềm, bao gồm bốn dạng cơ bản: - Dạng vật thể (vật liệu, công cụ sản xuất, thiết bị và máy móc, hệ thống hạ tầng.); - Dạng con người (kiến thức, kỹ năng và kinh nghiệm.); - Dạng ghi chép (bí quyết, quy trình, phương pháp.); - Dạng thiết chế tổ chức (sắp xếp cơ cấu nhân lực, cách thức điều hành, thiết kế, sắp đặt hệ thống thiết bị…).
Đặc điểm của hoạt động công nghệ Hoạt động công nghệ là khái niệm chỉ các hoạt động sử dụng công nghệ vào các mục đích khác nhau của con người. Nói đến hoạt động công nghệ cần phải nhấn mạnh 3 đặc điểm cơ bản rất quan trọng của hoạt động công nghệ: -Tính lặp lại chu kỳ một thao tác đã chuẩn hóa giúp cho công nghệ tạo ra những sản phẩm cùng loại giống hệt nhau. - Tính tin cậy của quá trình: quá trình công nghệ không được phép rủi ro bởi sẽ dẫn đến phế phẩm, phá vỡ mục tiêu của sản xuất. Toàn bộ quá trình công nghệ phải đảm bảo tính tin cậy trong từng khâu và trong từng thao tác.
- Tính xác định của sản phẩm: đây là tính xác định của sản phẩm theo thiết kế từ trước khi đầu tư vào sản xuất. Nếu những sản phẩm tạo ra không đủ những tính năng theo thiết kế thì xem như không đạt tiêu chuẩn. Khái niệm tổ chức KH&CN 1. Tổ chức “Tổ chức” là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học khác nhau trong đó có khoa học quản lý.
Do được nhiều ngành nghiên cứu nên đã có không ít 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com những định nghĩa, cách phân loại và xác định các đặc trưng cơ bản của tổ chức được đưa ra, lý giải. Thuật ngữ “Tổ chức” được nhiều ngành khoa học sử dụng với ý nghĩa khác nhau: Triết học định nghĩa “Tổ chức, nói rộng là cơ cấu tồn tại của sự vật. Sự vật không thể tồn tại mà không có một hình thức liên kết nhất định các yếu tố thuộc nội dung. Tổ chức vì vậy là thuộc tính của bản thân các sự vật”.
Tổ chức là thuộc tính của sự vật, nói cách khác sự vật luôn tồn tại dưới dạng tổ chức nhất định; Nhân loại học khẳng định từ khi xuất hiện loài người, tổ chức xã hội loài người cũng đồng thời xuất hiện. Tổ chức ấy không ngừng hoàn thiện và phát triển cùng với sự phát triển của nhân loại. Theo nghĩa hẹp đó, tổ chức là một tập thể của con người tập hợp nhau lại để thực hiện một nhiệm vụ chung hoặc nhằm đạt tới một mục tiêu xác định của tập thể đó. Như vậy, tổ chức là tập thể, có mục tiêu, nhiệm vụ chung; Ngay trong những chuyên ngành khoa học có giao thoa về đối tượng, phạm vi nghiên cứu cũng có cách tiếp cận, cắt nghĩa khác nhau về “Tổ chức”, cụ thể là: Theo Chester I.