Mở đầu Khái quát về lý do chọn dé tài, mục tiêu nghiên cứu chung, mục tiêu cụ thể của đề tài, giới hạn phạm vi nghiên cứu, cấu trúc bài luận Chương 2: Tổng quan Trinh bày tong quan về tài liệu nghiên cứu có liên quan, các tài liệu được sử dung đề tham khảo. Trinh bày tong quan về đặc điểm địa bàn nghiên cứu, tình hình liên kết sản xuất cà phê ở huyện Lạc Dương, tỉnh Lâm Đồng. Chương 3: Nội dung và phương pháp nghiên cứu Trình bày các lý thuyết liên quan đến nội dung nghiên cứu bao gồm: Lý thuyết nông hộ, liên kết và liên kết kinh tế, các yếu tô ảnh hưởng đến quyết định tham gia liên kết. Trình bày phương pháp nghiên cứu gồm mô hình nghiên cứu, chọn mẫu nghiên cứu, thu thập số liệu, phân tích sé liệu.
Chương 4: Kết quả và thảo luận Tổng hợp và xử lý số liệu, thực hiện tính toán lập bảng biéu cần thiết từ thông tin mẫu điều tra để so sánh hiệu quả kinh tế giữa hộ đã liên kết và hộ không tham gia liên kết, xác định các yếu tô ảnh hưởng đến quyết định tham gia liên kết của các hộ trồng cà phê tại huyện Lạc Dương, tỉnh Lâm Đồng. Giải quyết các mục tiêu đã đề ra trong phần mục tiêu nghiên cứu. Chương 5: Kết luận và đề xuất Kết luận nội dung và kết quả nghiên cứu chính, từ đó đề xuất một số kiến nghị nhăm mở rộng tham gia liên kêt của nông hộ. CHƯƠNG 2 TỎNG QUAN 2.
Tong quan về tài liệu nghiên cứu 2. Tài liệu nghiên cứu ngoài nước Arouna và cộng sự (2017). Canh tác theo hợp đồng của các nhà sản xuất gạo ở Châu Phi. Nghiên cứu cho rằng các nước đang phát triển, nông dân sản xuất nhỏ phải đối mặt với nhiều khó khăn bao gồm thiếu thông tin, khả năng tiếp cận tín dụng và thị trường.
Đề tài nghiên cứu nhằm khắc phục những hạn chế này, nông dân nghèo tài nguyên có thê tham gia canh tác theo hợp đồng. Tuy nhiên, canh tác theo hợp đồng cần đáp ứng nhu cầu của nông dân dé có thé bền vững. Nghiên cứu này nhằm phân tích sở thích của nông dân trồng lúa đối với các hợp đồng nông nghiệp ở Benin. Dữ liệu lựa chọn đã nêu được thu thập từ 579 nông dân trồng lúa.
Đề giải thích sự không đồng nhất, dữ liệu được phân tích bằng mô hình logit hỗn hợp. Kết quả cho thấy các nhà sản xuất ưa thích các hợp đồng theo các điều khoản sau: hợp đồng ngắn hạn (một vụ), thanh toán khi giao hàng, bán theo nhóm và có đối tác chế biến. Tuy nhiên, sở thích hợp đồng là khác nhau đối với nam và nữ. Nghiên cứu cho thấy rằng sự khác biệt này và thuộc tính của hợp đồng ưu tiên cần được tính đến đề thiết kế hợp đồng canh tác phù hợp nhất cho các bên tham gia chuỗi giá trị và các nhà hoạch định chính sách ở châu Phi cận Sahara.
Ba và cộng sự (2019). Tổng quan về hợp đồng canh tác theo liên kết dọc của ngành lúa gạo Việt Nam. Nghiên cứu cho rằng Chính phủ Việt Nam hiện đang nỗ lực nâng cấp chuỗi giá trị lúa gạo ở Đồng bằng sông Cửu Long bằng cách khuyến khích phối hợp đọc giữa nhà xuất khâu và nông dân thông qua hợp đồng canh tác, và phối hợp ngang giữa nông dân thông qua chương trình “nông dân nhỏ, cánh đồng lớn”. Các nghiên cứu trước đây về các yêu tô quyết định việc tham gia canh tác theo hợp đồng cho rằng các công ty chỉ cung cấp một loại hợp đồng duy nhất, trong khi trên thực té, nông dân có thé phải đối mặt với hàng loạt các lựa chọn hợp đồng độc quyền.
Đưa ra các chính sách đúng đắn và có mục tiêu dé thúc đây tính bao gồm hợp đồng do đó chủ yếu xoay quanh việc triển khai các đặc tả kinh tế lượng chính xác của quyết định tham gia hợp đồng canh tác. Các nhà nghiên cứu mô hình hóa sự tham gia và cường độ canh tác theo hợp đồng theo bốn cách khác nhau đọc theo liên tục điều phối theo chiều doc: như một sự lựa chọn rời rac, phân loại, có trật tự và liên tục. Họ nhận thay rằng những nông dân lớn tuổi hơn, nhỏ hơn và được điều phối theo chiều ngang với mức độ tin cậy cao hơn ở người mua có xu hướng đảm bảo mức đầu tư của người mua cao hơn thông qua việc tăng cường phối hợp theo chiều đọc. Trái ngược với phát hiện phô biến trong tài liệu rằng việc tham gia theo hợp đồng có xu hướng nghiêng về các trang trại lớn hơn, phát hiện của nghiên cứu từ Việt Nam cho thấy rằng sự thiên vị về quy mô của canh tác theo hợp đồng có thê được nới lỏng thành công thông qua phối hợp theo chiều ngang và thậm chí có thể đảo ngược khi có mức độ phối hợp dọc ngày càng tăng khi các nông hộ nhỏ hơn được tìm thấy để đảm bảo mức đầu tư cao hơn của người mua.
Những phát hiện này nhắn mạnh vai trò của cả hai chính sách trong việc thúc đây tính bao trùm của canh tác theo hợp đồng trong nâng cấp chuỗi giá trị lúa gạo ở Việt Nam. Tài liệu nghiên cứu trong nước Trương Diễm Huyền (2013) đã thực hiện nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định tham gia hợp đồng của nông hộ nuôi tôm tại xã Tân Đức, huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau. Qua thu thập số liệu thứ cấp của uỷ ban xã, tổng Cục thống kê, sách báo, internet,. và phỏng van 50 hộ nuôi công nghiệp , cho thấy các biến khuyến nông, diện tích và giá bán có ảnh hưởng khá lớn đến quyết định tham gia hợp đồng của nông hộ.
Biến trình độ học van, chi phí cố định, kinh nghiệm và tin dụng không có ý nghĩa thống kê cho thấy các biến này ít ảnh hưởng đến quyết định của nông hộ những vấn đề này cũng không thể bỏ qua vì nó cũng là một trong những nhân tố ảnh hưởng đến quyết định tham gia hợp đồng của người dân. Đề tài cũng phân tích các lợi ích của nông dân tham gia hợp đồng trong hai trường hợp: giá bán thời điểm thu hoạch cao hơn và thấp hon giá có định trong hợp đồng. Qua các phân tích trên sẽ giúp xác định được các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định của nông hộ nhằm đề xuất các giải pháp nâng cao khả năng tham gia hợp đồng của nông hộ tại xã. Doãn Hải Nam (2014) đã thực hiện nghiên cứu phân tích những liên kết của nông dân trong sản xuất hoa cúc tại Đà Lạt từ tháng 1 đến tháng 5 năm 2013 nhằm mục đích phân tích liên kết trong sản xuất kinh doanh hoa cúc và từ đó đưa ra những giải pháp phát triển bền vững cho hoa cúc tại Đà Lạt.
Đề tài sử dụng các phương pháp thống kê mô tả, phương pháp thống kê mô tả, phương pháp phân tích so sánh, phương pháp phân tích kinh tế, phương pháp chuyên gia. Số liệu nghiên cứu được điều tra thực địa trên địa bàn Đà Lạt và các số liệu trong báo cáo thống kê của UBND thành phố Đà Lạt và Niêm Giám Thống Kê. Nghiên cứu cho thấy được hiệu quả sự liên kết của hộ nông dân, doanh nghiệp, nhà khoa học từ đó đưa ra các định hướng và đề xuất cho việc phát triển liên kết một cách bền vững tại thành phố trong sản xuất kinh doanh hoa cúc trong thời gian tới. Kết quả cho thấy việc hình thành liên kết nông dân với công ty, nhà khoa học sẽ tạo ra đầu ra sản phẩm và giúp nông dân có thu nhập 6n định.
Kết quả nghiên cứu là cơ sở cho việc đề xuất một số kiến nghị cho việc phát triển sản xuất kinh doanh hoa cúc tại Đà Lạt. Phan Hoàng Trâm (2016) đã nghiên cứu đề tài các yếu tố ảnh hưởng tới quyết định áp dụng các tiêu chuẩn vietgap dé trong bó xôi của nông hộ tại thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng được thực hiện nhằm đánh giá hiệu quả kinh tế của mô hình trồng rau bó xôi theo quy trình VietGap và xác định các yếu tố có ảnh hưởng đến quyết định áp dụng các tiêu chuân VietGap trong sản xuất rau bó xôi của nông dân. Đề tài sử dụng số liệu điều tra từ 120 hộ nông dân trồng rau bó xôi tai dia ban nghiên cứu, trong đó có 60 hộ trồng rau bó xôi theo cách truyền thống và 60 hộ trồng rau bó xôi theo quy trình VietGap. Những phương pháp được sử dụng trong đề tài như phương pháp thống kê mô tả, phương pháp so sánh, phương pháp phân tích lợi ích — chi phí, phương pháp hồi quy tương quan đã giúp nghiên cứu đạt được mục tiêu đề ra.
Kết quả cho thấy các hộ nông dân áp dụng mô hình trồng rau bó xôi theo quy trình VietGap có giá bán cao hơn trồng theo phương pháp truyền thống. Tuy sản lượng, chi phí của mô hình trồng rau bó xôi theo quy trình VietGap cao hơn nhưng kết quả cho thấy các chỉ tiêu về hiệu quả kinh tế của mô hình theo quy trình VietGap cao hơn so với cách trồng truyền thồng. Do đó mô hình trồng rau bó xôi theo quy trình VietGap có hiệu quả kinh tế hơn so với trồng rau bó xôi thông thường. Kết quả hồi quy mô hình Logit cho thấy các yếu tố chủ yếu tác động đến việc chấp nhận các tiêu chuẩn VietGap trong trồng rau bó xôi của nông hộ là kinh nghiệm, lao động, gia bán, tin dụng, thu nhập, tham gia hiệp hội.
Kết quả phân tích tổng hợp ý kiến thảo luận nhóm nông hộ và chuyên gia cho thấy yêu tố tăng thêm chỉ phi, công lao động, việc ghi chép số sách khi tham gia trồng rau bó xôi theo quy trình VietGap là yếu tố cản trở lớn nhất trong việc áp dụng mô hình sản xuất rau bó xôi VietGap. Các yếu tố khuyến khích: giá cao hơn, đảm bảo đầu ra cho sản phẩm là các yếu tố quan trọng nhất dé khuyến khích nông hộ áp dụng các tiêu chuẩn VietGap trong sản xuất rau bó xôi tại địa phương. Từ đó, đề tài đưa ra những kiến nghị để phát triển mô hình trồng rau bó xôi theo quy trình VietGap nhằm góp phần tăng thu nhập cho nông hộ. Hồ Thị Kim Phụng (2017) đã nghiên cứu nhằm đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định sử dụng phân hữu cơ vi sinh trong canh tác cà phê từ đó đề xuất giải pháp nhằm tăng cường sử dụng phân hữu cơ vi sinh của các nông hộ tại huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng.