CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Khái niệm về đất đai Theo V.Đôcutraiep (1846-1903), đất trên bề mặt lục địa là một vật thể thiên nhiên được hình thành do sự tác động tổng hợp cực kỳ phức tạp của 5 yếu tố: sinh vật, đá mẹ, địa hình, khí hậu và tuổi địa phương.
Đôcutraiep, các nhà thổ nhưỡng học bổ sung thêm các yếu tố như nước ngầm và đặc biệt là vai trò của con người để hoàn chỉnh khái niệm về đất. Học giả người Anh, Wiliam lại cho rằng: “Đất là lớp mặt tơi xốp của lục địa có khả năng tạo ra sản phẩm từ cây trồng”. Về vấn đề này C.Mác viết: “Đất là tư liệu sản xuất cơ bản và phổ biến quý báu nhất của sản xuất nông nghiệp”, đất là “điều kiện không thể thiếu cho sự tồn tại và sinh sống của loài người”. Trong phạm vi nghiên cứu về sử dụng đất, đất đai được xem là một nhân tố sinh thái, bao gồm tất cả các thuộc tính sinh học và tự nhiên của bề mặt trái đất có ảnh hưởng sử dụng đất.
Các nhà thổ nhưỡng và quy hoạch Việt Nam cho rằng “Đất là phần trên mặt của vỏ trái đất mà ở đó cây cối có thể mọc được” và đất đai được hiểu theo nghĩa rộng: “Đất đai là một diện tích cụ thể của bề mặt trái đất, bao gồm tất cả các yếu tố cấu thành của môi trường sinh thái ngay trên và dưới bề mặt bao gồm: khí hậu, thời tiết, thổ nhưỡng, địa hình, mặt nước, các lớp trầm tích sát bề mặt cùng với nước ngầm và khoáng sản trong lòng đất, động thực vật, trạng thái định cư của con người, những kết quả của con người trong quá khứ và hiện tại để lại” (Trần Thị Minh Châu, 2007). Như vậy, đất đai là một khoảng không gian có giới hạn gồm: Khí hậu, lớp đất bề mặt, thảm thực vật, động vật, diện tích mặt nước, nước ngầm và khoáng sản trong lòng đất. Trên bề mặt đất đai là sự kết hợp giữa các yếu tố thổ nhưỡng, địa hình, thuỷ văn, thảm thực vật cùng với các thành phần khác có vai trò quan trọng và ý nghĩa to lớn đối với hoạt động sản xuất và cuộc sống của xã hội loài người. Đất đai được xem vừa là đối tượng lao động vừa là phương tiện lao động trong quá trình sản xuất.
Đất đai là đối tượng lao động vì nó là nơi để con người thực hiện các hoạt động như: xây dựng làm nhà ở, bố trí máy móc, làm đất. Bên cạnh đó, đất đai còn là phương tiện lao động trong quá trình sản xuất thông qua việc con người đã biết lợi dụng một cách ý thức các đặc tính tự nhiên của đất như lý học, hoá học, sinh vật học và các tính chất khác để tác động vào đất như dùng để gieo trồng, nuôi gia súc, mặt bằng sản xuất (Phạm Sỹ Mẫn, Nguyễn Việt Anh, 2001). Theo Luật Đất đai năm 2013, căn cứ vào mục đích sử dụng đất, đất đai được phân loại thành 3 nhóm đất chính: Nhóm đất nông nghiệp, nhóm đất phi nông nghiệp, PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 4 nhóm đất chưa sử dụng. Trong đó, nhóm đất nông nghiệp là đất sử dụng vào mục đích sản xuất, nghiên cứu, thí nghiệm về nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối và mục đích bảo vệ, phát triển rừng; bao gồm các loại đất: Đất trồng cây hàng năm bao gồm đất trồng lúa và đất trồng cây hàng năm khác; đất trồng cây lâu năm; đất rừng sản xuất; đất rừng phòng hộ; đất rừng đặc dụng, đất nuôi trồng thủy sản; đất làm muối; đất nông nghiệp khác.
Đất trồng cây cà phê là đất trồng cây lâu năm thuộc nhóm đất nông nghiệp. Quan điểm sử dụng đất nông nghiệp Đất là một tài nguyên có hạn và mỗi quốc gia có một quỹ đất khác nhau về tính chất và quy mô. Hiện nay diện tích đất nông nghiệp ở nước ta đang bị thu hẹp dần qua từng năm. Tính riêng giai đoạn 2014-2018 giảm hơn 11.451 ha diện tích đất nông nghiệp, diện tích đất canh tác Việt Nam vào loại thấp nhất thế giới chỉ khoảng 0,12%.
Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên như: Do quá trình đô thị hóa, công nghiệp hóa diễn ra quá nhanh. Ngoài ra do nhu cầu về sử dụng năng lượng trong những năm qua đã xuất hiện hàng loạt các công trình thủy điện, hồ tích nước làm ảnh hưởng đến diện tích đất nông nghiệp đang canh tác, đặc biệt là làm ngập diện tích đất canh tác ở các thung lũng. Thực trạng sử dụng đất hiện nay đã làm cho đất đai có nguy cơ thoái hóa nghiêm trọng, giảm sức sản xuất của đất đai rất lớn đặc biệt là những vùng đất đai màu mỡ, không những thế sự suy thoái đất đai còn kéo theo sự suy giảm nguồn nước, những hiện tượng thiên tai bất thường… Chính vì thế, để đảm bảo cuộc sống của con người ở hiện tại và tương lai cần phải có những chiến lược về sử dụng đất để không những duy trì khả năng hiện có của đất mà còn khôi phục những khả năng đã mất của đất trong tương lai. Do vậy khi sử dụng đất phải tiết kiệm đảm bảo tính hiệu quả, tính bền vững.
Tại Điều 6, Luật đất đai 2013 có 03 nguyên tắc sử dụng đất: (i) Đúng quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất và đúng mục đích sử dụng đất; (ii) Tiết kiệm, có hiệu quả, bảo vệ môi trường và không làm tổn hại đến lợi ích chính đáng của người sử dụng đất xung quanh; (iii) Người sử dụng đất thực hiện quyền, nghĩa vụ của mình trong thời hạn sử dụng đất theo quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan. Đối với đất nông nghiệp ngoài 03 nguyên tắc trên, khi sử dụng đất cần bổ sung nguyên tắc: đầy đủ, hợp lý, hiệu quả, bền vững và phải có các quan điểm đúng đắn theo xu hướng tiến bộ, phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của từng địa phương để làm cơ sở cho việc sử dụng đất nông nghiệp có hiệu quả về cả mặt kinh tế, xã hội, môi trường và đảm bảo tính bền vững. - Đất nông nghiệp cần được sử dụng đầy đủ và hợp lý: Sử dụng đầy đủ và hợp lý đất đai có nghĩa là toàn bộ diện tích được sử dụng hết vào sản xuất và việc bố trí cây PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 5 trồng, vật nuôi phải trên cơ sở phù hợp với đặc điểm kinh tế - kỹ thuật của từng loại đất nhằm nâng cao năng suất cây trồng, vật nuôi, đồng thời giữ gìn và bảo vệ độ phì của đất. Việc thực hiện nguyên tắc này là cần thiết vì: quỹ đất nông nghiệp có hạn về diện tích, trong khi đó sức ép về đô thị hóa, công nghiệp hóa, gia tăng dân số, biến đổi khí hậu cùng với đó là nhu cầu về nông sản ngày càng tăng.
Để đáp ứng nhu cầu về nông sản phẩm phục vụ xã hội và nâng cao độ phì cho đất thì bên cạnh việc sử dụng tiết kiệm đất đai, hợp lý, cần phải cải tạo, bồi dưỡng đất và có chế độ canh tác thích hợp. - Đất nông nghiệp phải được sử dụng đạt hiệu quả: đây là kết quả của việc sử dụng đất đầy đủ, hợp lý, việc xác định hiệu quả sử dụng đất thông qua tính toán hàng loạt các chỉ tiêu khác nhau: năng suất cây trồng, chi phí đầu tư, hệ số sử dụng đất, giá sản phẩm, tỷ lệ che phủ đất,. Muốn nâng cao hiệu quả sử dụng đất phải thực hiện tốt, đồng bộ các biện pháp kỹ thuật và chính sách kinh tế - xã hội trên cơ sở đảm bảo an ninh lương thực, thực phẩm, tăng cường nguyên liệu cho công nghiệp chế biến và nông lâm sản cho xuất khẩu. - Đất nông nghiệp cần được quản lý và sử dụng một cách bền vững: Sự bền vững trong sử dụng đất đai có nghĩa là cả về số lượng và chất lượng đất đai phải được bảo tồn không những đáp ứng được mục đích trước mắt của thế hệ hiện tại mà phải đáp ứng những nhu cầu ngày càng tăng của các thế hệ mai sau.
Sự bền vững của đất đai gắn liền với điều kiện sinh thái môi trường vì vậy quá trình sử dụng đất phải bảo đảm hài hoà các phương thức sử dụng đất, gắn liền với bảo vệ môi trường vì lợi ích trước mắt kết hợp với lợi ích lâu dài (Phạm Vân Đình vàĐỗ Kim Chung, 1997). Khái quát về hiệu quả sử dụng đất Có nhiều quan điểm khác nhau về hiệu quả, trước đây người ta quan niệm hiệu quả chính là kết quả. Sau này người ta nhận thấy sự khác nhau giữa hiệu quả và kết quả. Nói chung nhất hiệu quả chính là kết quả mà yêu cầu của công việc mang lại (Trung tâm Từ điển ngôn ngữ, 1992).
Hiệu quả là kết quả mong muốn, cái sinh ra kết quả mà con người chờ đợi hướng tới; với những nội dung khác nhau. Trong sản xuất, hiệu quả có nghĩa là hiệu suất là năng suất. Trong kinh doanh, hiệu quả là lãi suất, lợi nhuận. Trong lao động nói chung, hiệu quả lao động là năng suất lao động được đánh giá bằng số lượng thời gian hao phí để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm hoặc bằng số lượng sản phẩm được sản xuất ra trong một đơn vị thời gian.
Kết quả hữu ích là một đại lượng vật chất tạo ra do mục đích của con người, được biểu hiện bằng những chỉ tiêu cụ thể, xác định. Do tính chất mâu thuẫn giữa PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 6 nguồn tài nguyên hữu hạn với nhu cầu tăng lên của con người mà ta phải xem xét kết quả đó được tạo ra như thế nào? Chi phí bỏ ra bao nhiêu? Có đưa lại kết quả hữu ích hay không? Chính vì vậy khi đánh giá kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh không chỉ dừng lại ở việc đánh giá kết quả mà phải đánh giá chất lượng hoạt động tạo ra sản phẩm đó. Đánh giá chất lượng hoạt động sản xuất kinh doanh là nội dung của đánh giá hiệu quả. Các nhà kinh tế thường phân loại hiệu quả theo các tiêu thức sau đây: - Theo lĩnh vực hoạt động của xã hội, hiệu quả bao gồm: hiệu quả kinh tế, hiệu quả kỹ thuật, hiệu quả xã hội, hiệu quả quốc phòng.
- Theo phạm vi lợi ích, hiệu quả bao gồm: hiệu quả tài chính và hiệu quả kinh tế - xã hội. - Theo mức độ phát sinh, hiệu quả bao gồm: hiệu quả trực tiếp và hiệu quả gián tiếp.