Chương 1 Giới thiệu Chương 2: Cơ sở lý thuyết. 6 Chương 3: Mô hình nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu. Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận. Chương 5: Kết luận kiến nghị.
7 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2. Một số khái niệm liên quan a. Nông hộ là tập những người có quan hệ vợ chồng, họ hàng huyết thống, cùng chung nơi ở và một số sinh hoạt cần thiết khác như ăn, uống. Tuy nhiên cũng có thể có một vài trường hợp một số thành viên của hộ không có họ hàng huyết thống, nhưng những trường hợp này rất ít xảy ra.
Hộ nông dân có thể hiểu đơn giản là nông hộ mà hoạt động sản xuất nông yếu của họ là nông nghiệp. Ngoài các hoạt động nông nghiệp, hộ nông dân còn có thể tiến hành thêm các hoạt động khác, tuy nhiên đó chỉ là các hoạt động phụ. Tuy nhiên, hiện có rất nhiều khái niệm khác nhau về hộ nông dân. Theo Ellis định nghĩa “Hộ nông dân là các nông hộ làm nông nghiệp, tự kiếm kế sinh nhai trên những mảnh đất của mình, sử dụng nông yếu sức lao động của gia đình để sản xuất, thường nằm trong hệ thống kinh tế lớn hơn, nhưng nông yếu đặc trưng bởi sự tham gia cục bộ vào các thị trường và có xu hướng hoạt động với mức độ không hoàn hảo cao” (Ellis, 1988, p.
Nhà nông học Nga - Traianốp cho rằng "Hộ nông dân là đơn vị sản xuất rất ổn định" và ông coi "Hộ nông dân là đơn vị tuyệt vời để tăng trưởng và phát triển nông nghiệp". Luận điểm trên của ông đã được áp dụng rộng rãi trong chính sách nông nghiệp tại nhiều nước trên thế giới, kể cả các nước phát triển. Ở nước ta, có nhiều tác giả đề cập đến khái niệm hộ nông dân. Theo nhà khoa học Lê Đình Thắng (1993, trang 19) cho rằng: “Nông hộ là tế bào kinh tế xã hội, là hình thức kinh tế cơ sở trong nông nghiệp và nông thôn”.
Đào Thế Tuấn (1997) cho rằng: “Hộ nông dân là những hộ nông yếu hoạt động nông nghiệp theo nghĩa rộng, bao gồm cả nghề rừng, nghề cá và hoạt động phi nông nghiệp ở nông thôn”. Còn theo nhà khoa học Nguyễn Sinh Cúc (2001, trang 6), trong phân tích điều tra nông thôn năm 2001 cho rằng: "Hộ nông nghiệp là những hộ có toàn bộ hoặc 50% số lao động thường xuyên tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp các hoạt động trồng trọt, chăn nuôi, dịch vụ nông nghiệp (làm đất, thuỷ nông, giống cây trồng, bảo vệ thực vật,.) và thông thường nguồn sống chính của hộ dựa vào nông nghiệp". Kinh tế nông hộ là loại hình kinh tế trong đó các hoạt động sản xuất nông yếu dựa vào lao động gia đình (lao động không thuê) và mục đích của loạt hình kinh tế này trước hết nhằm đáp ứng nhu cầu của nông hộ (không phải mục đích chính là sản xuất hàng hoá để bán). Tuy nhiên cũng cần có sự chú ý ở đây là các nông hộ cũng có thể sản xuất để trao đổi nhưng ở mức độ hạn chế.
Kinh tế trang trại cũng là một hình thức của kinh tế nông hộ, nhưng qui mô và tính chất sản xuất hoàn toàn khác hẳn. Tính chất sản xuất nông yếu của trang trại nông yếu là sản xuất hàng hoá, tức là sản xuất nhằm mục đích để đáp ứng nhu cầu của thị trường. Cũng chính vì vậy mà qui mô sản xuất của trang trại thường lớn hơn nhiều so với kinh tế hộ. Như vậy, xét về bản chất, kinh tế nông hộ là một hình thức cơ bản và tự nông trong nông nghiệp.
Nó được hình thành và phát triển một cách khách quan, lâu dài, dựa trên sự sở hữu các yếu tố sản xuất, là loại hình kinh tế có hiệu quả, phù hợp với sản xuất nông nghiệp, thích ứng, tồn tại và phát triển trong mọi chế độ kinh tế xã hội. Tính tự nông trong kinh tế nông hộ được thể hiện ở những đặc điểm sau: (1) Làm nông quá trình sản xuất và tái sản xuất trong nông nghiệp; (2) Sắp xếp điều hành phân công lao động trong quá trình sản xuất; (3) Quyết định phân phối sản phẩm làm ra sau khi đóng thuế cho nhà nước, được chọn 2. Vốn trong nông nghiệp Vốn là một loại tài sản được đưa vào sản xuất kinh doanh nhằm mục đích cuối cùng là mang lại lợi nhuận. Vốn tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau, được hình thành từ nhiều nguồn khác nhau, thường chia làm hai loại cơ bản sau: Vốn cố định là hình thức vốn chuyển dịch dần vào từng bộ phận giá trị sản phẩm và hoàn thành trong vòng tuần hoàn khi tài sản cố định hết thời hạn sử dụng.
Ví dụ như về mặt giá trị tài sản cố định hao mòn dần trong quá trình sử dụng (hao mòn hữu hình và hao mòn khi vô hình). Giá trị của vốn cố định được dịch chuyển dần vào giá trị sản phẩm mới cho đến khi nào tài sản cố định hết thời hạn sử dụng thì nó hoàn thành một lần chu chuyển sản xuất nông nghiệp, đất sản xuất nông nghiệp, đầu tư xây dựng cơ bản,. dưới hình thức trích khấu hao. Vốn cố định bao gồm máy móc, công cụ cơ khí phục vụ,… Vốn lưu động là số vốn ứng trước về đối tượng lao động và tiền lương, sản phẩm đang chế tạo, thành phẩm hàng hoá, tiền tệ,… Nó luân chuyển một lần vào giá trị sản 9 phẩm cho đến khi nào nó chuyển thành tiền thì vốn lưu động hoàn thành một vòng luân chuyển.
Về mặt hiện vật thì vốn lưu động thay đổi hoàn toàn hình thái vật chất ban đầu sau quá trình sản xuất. Vốn lưu động bao gồm: giống vật nuôi, cây trồng, vật tư nông nghiệp. Tín dụng nông thôn Tín dụng nông thôn có thể được hiểu là vốn tín dụng trong lĩnh vực nông nghiệp. Nó được chia thành 3 loại: Tín dụng chính thức, tín dụng phi chính thức và tín dụng bán chính thức.
Tín dụng chính thức hình thành thông qua hai hình thức là: trực tiếp và gián tiếp. Theo hình thức thứ nhất, nông hộ có thể vay vốn trực tiếp từ các tổ chức tín dụng khi họ đáp ứng đầy đủ thủ tục và yêu cầu của từng tổ chức. Đối với trường hợp này, người vay nông yếu là các hộ sản xuất kinh doanh với quy mô lớn thuộc nhóm hộ khá. Theo hình thức thứ hai, người dân vay vốn gián tiếp thông qua các tổ chức đoàn thể xã hội như Hội Nông dân, Hội Phụ nữ, Hội Cựu chiến binh và Đoàn thanh niên.
Đối tượng vay vốn trong trường hợp này thường là các hộ thuộc diện chính sách, các đối tượng được ưu tiên, các hộ nghèo và không có tài sản để thế chấp. Tín dụng phi chính thức cũng là lĩnh vực đa dạng nhất của thị trường tín dụng nông thôn về nhà cung cấp, loại hình và quy mô vốn vay, lãi suất, thời hạn cũng như hình thức trả nợ. Một số hoạt động tín dụng phi chính thức như: người cho vay tư nhân; bạn bè, người thân và hàng xóm; nhóm tiết kiệm và cho vay luân phiên (chơi phường hụi); cho vay như hình thức đầu tư có cam kết. Trong đó, đặc điểm của các khoản vay này thường là quy mô nhỏ và ngắn hạn (theo mùa hoặc theo ngày) với lãi suất cao hơn so với vay tín dụng chính thức hoặc không có lãi suất (nếu vay của bố mẹ, người thân, bạn bè mà không cần tài sản thế chấp hoặc chứng nhận vay vốn bằng văn bản).
Tín dụng bán chính thức được hình thành và phát triển thông qua các chương trình tín dụng vi mô được cấp vốn bởi các chương trình hỗ trợ từ các quỹ quốc tế và các tổ chức phi chính phủ (NGO). Loại hình tín dụng này thường cung cấp các dịch vụ tài chính vi mô cho những hộ không có khả năng tiếp cận tín dụng chính thức. Hầu hết các hoạt động tài chính vi mô này chỉ phát triển theo dự án thực hiện ở cấp địa phương. Lĩnh vực tín dụng bán chính thức cung cấp các khoản vay nhỏ (cho các nông 10 hộ nghèo, thiếu đất canh tác; đồng bào dân tộc thiểu số; phụ nữ sống ở nông thôn hoặc vùng sâu, vùng xa) với điều kiện cho vay dễ dàng và lãi suất thấp.
Các lý thuyết về tiếp cận tín dụng Khả năng tiếp cận tín dụng là xác suất mà người vay có khả năng nhận được hoặc không nhận được các khoản tiền vay tín dụng. Tiếp cận tín dụng có nghĩa là mức độ tín dụng mà người vay có thể nhận được. Về mặt lý thuyết, thị trường tín dụng chính thức bao gồm cung và cầu tín dụng. Cầu tín dụng được xác lập dựa trên các đặc điểm của hộ, như là các đặc điểm nhân khẩu học và kinh tế - xã hội; Và cung tín dụng được định nghĩa là số tiền mà các nhà cung cấp quyết định cho vay dựa trên những thông tin sẵn có về nhu cầu vay.
Các tổ chức tín dụng sẽ quyết định cấp toàn bộ hoặc giảm số tiền cho vay hoặc hoàn toàn bác bỏ yêu cầu xin vay (Zeller, 1994). Hoạt động cho vay có đặc thù là số tiền cho vay hôm nay chỉ có thể thu lại vào ngày mai. Do tất cả đều thay đổi theo thời gian nên người cho vay không chắc là có thể thu lại được số tiền cho vay (đương nhiên là cùng với tiền lãi) vào thời điểm đáo hạn hay không, mặc dù đã thẩm định người vay hết sức kỹ lưỡng trước đó. Một quan điểm khác lại cho rằng thị trường tín dụng nông thôn là hoàn hảo, có tính cạnh tranh cao và minh bạch, và lãi suất cao phản ánh mức rủi ro mất khả năng chi trả cao và chi phí thông tin tốn kém.
Tuy nhiên, lý thuyết thông tin không hoàn hảo và lý thuyết thông tin hoàn hảo, đều không giải thích được các thực tế sau đây ở khu vực nông thôn: (1) Tín dụng chính thức, phi chính thức cùng tồn tại, mặc dù lãi suất tín dụng chính thức thấp hơn; (2) Lãi suất biến thiên theo mức cân bằng giữa cung tín dụng và cầu; (3) Thị trường tín dụng phân khúc rất mạnh. Lãi suất thay đổi phụ thuộc vào khả năng chi trả và phụ thuộc vào mùa vụ; (4) Luôn tồn tại một lượng các người cho vay thương mại ở khu vực tín dụng phi chính thức, mặc dù lãi suất cao; (5) Ở khu vực phi tín dụng chính thức, liên kết giữa giao dịch tín dụng và giao dịch ở thị trường khác là phổ biến; (6) Người cho vay chính thức thường chuyên biệt hóa ở các vùng mà nông dân có quyền với đất đai.