CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ VẬN DỤNG ABC-EVA TRONG ĐÁNH GIÁ THÀNH QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP 1.1 ĐÁNH GIÁ THÀNH QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP 1.1 Các định nghĩa và nguyên tắc cơ bản trong đo lường thành quả Trong cuốn sách “ Đi tìm sự tuyệt hảo” của các nhà báo Thomas J.Peter và Robet H. Waterman (1982) [7], các tác giả đã sử dụng các thước đo thành quả trong việc nhận diện đặc điểm của các công ty thành công trên thế giới. Cuốn sách đã thúc đẩy các nhà nghiên cứu, nhà quản lý niềm đam mê nghiên cứu sâu hơn về chủ đề thước đo thành quả hoạt động của doanh nghiệp. Ngày nay, nội dung đo lường thành quả hoạt động của doanh nghiệp là chủ đề quan trọng trong quản lý doanh nghiệp cũng như quản lý lĩnh vực công.
Về bản chất, đo lường thành quả hoạt động là chủ đề đa dạng, xem xét dưới nhiều góc nhìn chức năng (kế toán, tiếp thị, sản xuất …) khác nhau. Thành quả hoạt động được xem xét trong đề tài này dưới góc nhìn kế toán với các thước đo tài chính. Các định nghĩa Thành quả (Performance) Theo các tác giả Michel Lebas and Ken Euske (2004) [9,tr 83], thuật ngữ thành quả được sử dụng rộng rãi trong các lĩnh vực quản lý. Cho dù vậy, định nghĩa chính xác cho thuật ngữ này hiếm khi được đề cập, ngay cả ở những bài báo hoặc các cuốn sách có nội dung chính về chủ để này.
Thông thường, thành quả được nhận dạng hoặc được coi là tính hữu hiệu và tính hiệu quả (Needly, Gregory và Platts 1995; Corvellec, 1994). Xem xét các từ điển, cho thấy sự đa dạng về ý nghĩa của thuật ngữ này, ví như thuật ngữ là: 7 - Thang đo bởi con số hoặc công thức có thể diễn giải; - Kết quả của một hành động; - Khả năng thực hiện hoặc tiềm năng tạo ra kết quả; - Sự so sánh kết quả với các điểm chuẩn (benchmark), hoặc các tham chiếu được lựa chọn; - Kết quả phát sinh so sánh với sự mong đợi… Trên ý nghĩa ngôn ngữ trên, Covellec (1994,1995) và Bourguignon (1995)2 cho rằng, thành quả liên quan đồng thời đến hành động, kết quả của hành động, và mức đạt được của kết quả khi so sánh với với điểm chuẩn. Xem xét các thành quả là đưa ra các điều chỉnh, nhận xét có tính so sánh. Các tiêu chuẩn cho sự điều chỉnh thường liên hệ chặt chẽ, dựa trên kết quả Như vậy, có thể định nghĩa thành quả là tổng thể các quá trình dẫn người quản lý tiến hành các hoạt động đúng đắn ở hiện tại, và tạo kết quả của tổ chức trong tương lai.
Nói một cách khác, theo Needly, AD (2004) thì thành quả là các việc làm hôm nay, tạo ra kết quả đo lường được trong tương lai [9, trang 68]. Đo lường thành quả hoạt động (performance measurement) Theo Neely, AD (2004) [11] “Đo lường thành quả hoạt động là một chủ đề thường được thảo luận, nhưng hiếm khi định nghĩa”. Neely đưa ra các định nghĩa về đo lường, thước đo và hệ thống đo lường thành quả hoạt động, cụ thể như sau: “ Đo lường thành quả được định nghĩa như quá trình lượng hóa tính hiệu quả và tính hiệu lực của hành động” “ Thước đo thành quả được định nghĩa là thang đo được dùng để lượng hóa tính hiệu lực, tính hiệu quả của hành động” 2 Được trích dẫn bởi Neely, AD (2004) 8 “ Hệ thống đo lường thành quả là tập hợp các thang đo dùng để lượng hóa cả tính hiệu lực và tính hiệu quả của các hành động” Ngoài ra, một khái niệm về thước đo thành quả thường được đề cập trong nghiên cứu và thực hành là “ Đo lường thành quả là việc sử dụng tập hợp đa chiều các thước đo thành quả, bao gồm các thước đo tài chính và thước đo phi tài chính, gồm việc đo lường bên trong và đo lường bên ngoài doanh nghiệp. Các thước đo này phải lượng hóa được điều gì đã đạt được và giúp ta dự toán được tương lai” b.
Các nguyên tắc cơ bản trong đo lường thành quả Theo các tác giả Rob Austin và Jody H.G [9, trang 96], có các nguyên tắc cơ bản trong đo lường thành quả sau: Nguyên tắc 1: Thành quả được định nghĩa rõ ràng. Nguyên tắc này là yêu cầu rõ ràng cho bất cứ hệ thống đo lường thành quả nào. Thành quả nên được định nghĩa một cách rõ ràng, cả ở trước và sau ở các tiêu chí phù hợp với sự việc, không bởi bên thứ ba, hay người lao động và nhà quản lý. Nguyên tắc 2: Thành quả được đo lường chính xác.
Nguyên tắc này là đòi hỏi hiển nhiên trong thực tế. Một khi công việc xong, thành quả phải được đo lường theo cách tối đa hóa lượng thông tin, để có thể được sử dụng trong việc xác định mức độ thành quả đã đạt được. Nguyên tắc 3: Việc thưởng phải dựa trên thành quả đo lường.2 Các bước đơn giản thiết lập thang đo lường thành quả 3 Một khung đo lường thành quả tốt sẽ tập trung vào khách hàng và đo lường đúng việc. Một thang đo lường cần phải có các đặc tính sau: - Có nghĩa, được hiểu đơn nhất và không đa nghĩa - Dựa trên mức độ cao nhất của dữ liệu tích hợp 3 Trích từ nguồn: www.uk/quality/performance 9 - Dữ liệu được thu thập thông qua các qui trình bình thường - Mang động cơ thúc đẩy - Có sự liên hệ với các mục tiêu quan trọng của tổ chức.
Có bốn bước chính trong việc thiết lập thang đo lường thành quả - các mục tiêu chiến lược được chuyển thành mục tiêu thành quả mong muốn đạt được, các thang đo được thiết lập để so sánh, nhận diện các khác biệt giữa thành quả mong muốn và thực tế, và tiếp tục cải thiện, mở rộng quá trình. Bước 1: Thiết lập mục tiêu Việc thiết lập mục tiêu chính mang tính quan trọng đối với thành công của tổ chức, và các mục tiêu chính phải bảo đảm nguyên tắc SMART, gồm: - Tính cụ thể (Specific). - Tính có thể đo lường được (Measurable). - Tính có thể đạt được (Achievable).
- Tính liên hệ (Releavant).1: Các bước thiết lập thang đo lường thành quả [18] Bước 2: Định nghĩa thước đo kết quả Một khi mục tiêu được thiết lập, bước tiếp theo của quá trình phát triển thước là định nghĩa thước đo kết quả (outcome metrics) – cái gì được đo lường để quyết định mục tiêu đặt ra có đạt được hay không. Bước 3: Tiến hành đo lường Công việc đo lường được thực hiện trước hết bằng việc thiết kế quá trình thu thập dữ liệu/báo cáo tiến trình thực hiện. Dữ liệu đo lường, được sử 10 dụng trong quá trình đo lường, sẽ giúp phát hiện, nhận biết được mức độ đạt được muc tiêu. Đây chính là cơ sở để nhà quản lý thực hiện bước tiếp theo.
Bước 4: Tiến hành các đánh giá và điều chỉnh 1.3 Phân loại các thước đo thành quả hoạt động a. Dựa trên đối tượng đo lường trong mô hình nhân quả Một trong đặc tính của việc đo lường thành quả là tính chất nhân quả - mối quan hệ chặt chẽ giữa hành động và kết quả, hay còn gọi là mô hình logic (logic model). Các thước đo xuất phát từ việc hiểu mục đích của tổ chức và hành động nào, công việc nào được thực hiện để hoàn thành mục đích của tổ chức. Mô hình logic là công cụ hữu ích để thực hiện điều trên, và được mô tả bởi sơ đồ sau: Quản trị Đầu Các quá Đầu ra Khách hàng Nhà cung trình/ cấp vào Hoạt động Kết quả Sơ đồ 1.2: Mô hình logic quá trình kinh doanh [18] Người quản lý dựa có thể đo lường bất cứ điểm nào theo mô hình logic.
Dựa trên từng đối tượng của mô hình, ta phân loại các thước đo sau: Bảng số 1.1: Phân loại thước đo dựa trên đối tượng của mô hình logic Loại thước đo Mô tả Ví dụ Thước đo đầu vào Đo lường nguồn lực sử dụng bởi - Số giờ làm việc của (Input measures) các hoạt động hoặc quá trình. nhân viên Một số đầu vào liên quan đến - Số tiền chi ra khối lượng công việc. Một số 11 khác liên quan đến tổng số nguồn lực được sử dụng trong quá trình Thước đo đầu ra Số lượng các đơn vị sản phẩm - Số sản phẩm SX (otput measures) /dịch vụ sản xuất hoặc chuyển - Số trẻ được tiêm phòng giao Thước đo quá trình Mô tả các khía cạnh của quá - Số ngày chuẩn y (process measures) trình kinh doanh, ví dụ tỷ lệ hoàn thành, thời gian xử lý, tỷ lệ lỗi Thước đo thành quả Đo lường lợi ích cuối cùng của - Giảm tỷ lệ chết (Outcome measures) doanh nghiệp/chương trình/dịch - Lợi nhuận vụ b. Phân loại dựa theo lĩnh vực đo lường Dựa trên lĩnh vực đo lường, ta có : - Thước đo thành quả ở góc độ tài chính.
- Thước đo thành quả ở góc độ phi tài chính.4 Sự phát triển các thước đo thành quả tài chính. Trước áp lực thay đổi của môi trường kinh doanh, các thước đo thành quả tài chính mới lần lượt được các nhà nghiên cứu, cũng như thực hành giới thiệu và ứng dụng. Bắt đầu bằng các thước đo thành quả tài chính truyền thống như giá trị lợi nhuận, ROA, ROI, các thước đo mới như lợi nhuận còn lại (RI) hay giá trị kinh tế gia tăng là những chỉ tiêu mới được vận dụng ở các nước phát triển để đo lường thành quả hoạt động của doanh nghiệp. Những chỉ tiêu truyền thống đo lường thành quả doanh nghiệp như lợi nhuận, ROA, ROE…Tổng hợp từ các bằng chứng khoa học có liên quan cho thấy các chỉ tiêu truyền thống đánh giá thành quả hoạt động có một số hạn chế nhất định (Milunovich và Tseui, 1996; Lehn và Makhija, 1997, Itern và 12 Larcker, 2001; v.
Những hạn chế của chỉ tiêu này xuất phát từ sự sai lệch do các qui định kế toán và chính sách thuế (không phản ánh được bản chất kinh tế của lợi nhuận). Các chỉ tiêu đo lường này cũng thể hiện tính linh hoạt và tính có thể so sánh ở góc độ quốc tế của kế toán bị bóp méo, khả năng dự đoán thấp, tính có thể so sánh giữa các doanh nghiệp theo thời gian rất thấp, v. Những hạn chế này chủ yếu đến từ sự vận dụng các chính sách kế toán không phản ánh lợi nhuận kinh tế thực sự của doanh nghiệp mà chỉ phản ánh lợi nhuận kế toán.