Tổng quan nghiên cứu

Tỉnh Hưng Yên sở hữu tiềm năng thủy sản rộng lớn với hơn 5.000 ha mặt nước có khả năng nuôi trồng và hơn 4.400 ha đất trũng cấy lúa kém hiệu quả phù hợp chuyển đổi cơ cấu sản xuất. Mặc dù tổng sản lượng thủy sản nuôi trồng của tỉnh đạt trên 16.500 tấn mỗi năm với tốc độ tăng trưởng bình quân trên 13%/năm, ngành thủy sản địa phương vẫn đối mặt với nhiều thách thức lớn. Các đối tượng cá nước ngọt truyền thống như cá Mè, Trôi, Trắm, Chép và Rô phi đang dần bão hòa, tỷ suất sinh lời giảm sút và rủi ro dịch bệnh trên các mô hình nuôi lồng bè ven sông ngày càng phức tạp. Trước thực tế đó, cá Nheo Mỹ (Ictalurus punctatus, Rafinesque, 1818) – loài cá nước ngọt có giá trị thương phẩm cao từ 70.000 đến 100.000 đồng/kg và hàm lượng dinh dưỡng vượt trội (16,3 g protein và 6,9 g lipid trên 100 g thịt cá) – đã được đưa vào khảo nghiệm nhằm tìm kiếm hướng đi đột phá.

Nghiên cứu được triển khai với mục tiêu trọng tâm là xây dựng thành công mô hình nuôi đơn cá Nheo Mỹ thương phẩm trong ao đất theo hướng công nghiệp hóa, tạo ra khối lượng sản phẩm hàng hóa tập trung, đạt hiệu quả kinh tế cao và hoàn thiện quy trình kỹ thuật chuẩn hóa phù hợp với điều kiện sinh thái vùng Đồng bằng sông Hồng. Phạm vi nghiên cứu được thực hiện tại 4 huyện trọng điểm của tỉnh Hưng Yên gồm Văn Giang, Phù Cừ, Yên Mỹ và Khoái Châu trên tổng quy mô 10.000 m² ao đất, diễn ra trong 11 tháng (từ tháng 02/2016 đến tháng 01/2017) với thời gian nuôi thực tế kéo dài 8 tháng (từ tháng 05/2016 đến tháng 01/2017). Kết quả nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn to lớn khi xác lập tỷ lệ sống của cá đạt trên 90%, khối lượng thu hoạch bình quân đạt 1.397,7 ± 7,20 g/con và lợi nhuận ròng đạt từ 87 đến 165 triệu đồng/ha, mở ra triển vọng nhân rộng mô hình kinh tế thủy đặc sản bền vững.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng lý thuyết sinh thái học và đặc tính sinh học của bộ cá Nheo Siluriformes, cụ thể là loài cá Nheo Mỹ (Ictalurus punctatus). Về mặt sinh lý thích ứng, cá Nheo Mỹ là loài thủy sản rộng nhiệt, có khả năng sinh tồn trong biên độ nhiệt độ từ 0 đến 40°C và duy trì hoạt động bắt mồi, tăng trưởng tích cực trong khoảng 8 đến 35°C với nhiệt độ tối ưu từ 26 đến 30°C. Về mặt dinh dưỡng, mô hình chuyển hóa năng lượng thủy sản chỉ ra rằng cá Nheo Mỹ có tính ăn tạp thiên về động vật nhưng đáp ứng hoàn hảo với thức ăn công nghiệp có hàm lượng đạm từ 30% đến 35% protein, giúp tích lũy 116 đến 128 kcal/100g thịt cá mà không làm dư thừa lượng mỡ nội tạng.

Mô hình chất lượng nước ao nuôi thâm canh của Tucker và Robinson (1990) cùng mô hình cân bằng sinh thái thủy vực của Hargreaves và Tucker (2004) được tích hợp để kiểm soát môi trường sống. Hệ thống lý thuyết này xác định các ngưỡng sinh thái tối ưu bao gồm: hàm lượng oxy hòa tan (DO) ≥ 5 mg/l (ngưỡng giới hạn không dưới 2 mg/l), độ pH từ 6,5 đến 9,0, hàm lượng khí độc NH3 dưới 0,2 mg/l và NO2- dưới 0,5 mg/l. Khung nghiên cứu bao quát 4 khái niệm khoa học then chốt: nuôi đơn thâm canh trong ao đất (mono-aquaculture in earthen ponds), tốc độ tăng trưởng khối lượng tuyệt đối theo ngày (DWG), hệ số tiêu tốn thức ăn (FCR) và tỷ lệ sống tích lũy (TLS).

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu thu thập dữ liệu sơ cấp trực tiếp từ 4 ao nuôi đại diện tại 4 huyện: Yên Mỹ (2.900 m²), Phù Cừ (2.750 m²), Khoái Châu (2.900 m²) và Văn Giang (1.450 m²), với tổng số lượng giống thả là 15.000 con cá Nheo Mỹ khỏe mạnh (kích cỡ ban đầu >12 cm, khối lượng 20 đến 30 g/con, mật độ đồng nhất 1,5 con/m²). Phương pháp chọn mẫu là chọn mẫu có chủ đích dựa trên 6 tiêu chí nghiêm ngặt: tiềm lực kinh tế hộ gia đình, kinh nghiệm thâm canh, diện tích ao chuẩn hóa từ 1.500 đến 3.000 m², độ sâu mực nước chủ động 1,5 đến 2,0 m, chất đáy bùn cát hoặc đất thịt pha cát dày 20 đến 30 cm và nguồn nước cấp sạch giàu oxy.

Quy trình theo dõi môi trường tuân thủ nghiêm ngặt Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 5994-1995 và cẩm nang phân tích nước quốc tế APHA (1985). Nhiệt độ, độ pH và oxy hòa tan được đo 2 lần/ngày (vào lúc 08h00 và 16h00) bằng nhiệt kế tiêu chuẩn và test kit chuyên dụng của hãng Sera; độ trong được đo hàng ngày lúc 14h00 bằng đĩa Secchi; các chỉ số khí độc NH3 và NO2- được phân tích định kỳ 1 lần/tuần. Về sinh trưởng, phương pháp thu mẫu ngẫu nhiên định kỳ n = 30 con/ao/tháng được thực hiện bằng lưới kéo để cân khối lượng và đo chiều dài chuẩn xác, làm căn cứ điều chỉnh lượng thức ăn hàng ngày bằng 5% đến 7% khối lượng thân.

Toàn bộ dữ liệu số đo sinh học và thông số môi trường được xử lý thống kê bằng phần mềm Microsoft Excel 2010. Phương pháp phân tích thống kê mô tả (tính giá trị trung bình Mean và độ lệch chuẩn SD) kết hợp các công thức tính toán kinh tế học thủy sản (DWG, DLG, FCR, doanh thu, tổng chi phí và lợi nhuận ròng) được lựa chọn vì tính chính xác cao, phản ánh đúng thực chất mối tương quan giữa biến động môi trường và hiệu quả tăng trưởng thực địa.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Mô hình thực nghiệm tại Hưng Yên đã mang lại 4 phát hiện khoa học và kỹ thuật nổi bật:

Thứ nhất, các chỉ số thủy lý và thủy hóa trong 4 ao nuôi duy trì sự ổn định tối ưu cho cá sinh trưởng. Nhiệt độ nước trung bình cả chu kỳ dao động trong khoảng 24,48 ± 9,37°C đến 25,02 ± 9,24°C (biên độ thực tế từ 14,4°C trong đợt rét tháng 12 đến 35,0°C vào mùa nắng nóng tháng 7). Giá trị pH trung bình ổn định ở mức 7,54 ± 0,31 đến 8,02 ± 0,47 (dao động từ 7,2 đến 8,5). Hàm lượng oxy hòa tan trung bình luôn duy trì mức cao từ 6,1 ± 2,7 mg/l đến 6,5 ± 2,1 mg/l (thấp nhất 3,4 mg/l và cao nhất đạt 8,8 mg/l). Hàm lượng khí độc được khống chế ở mức an toàn tuyệt đối với NO2- từ 0,11 đến 0,22 mg/l và NH3 từ 0,02 đến 0,10 mg/l.

Thứ hai, tốc độ sinh trưởng của cá Nheo Mỹ đạt mức ấn tượng. Từ kích cỡ ban đầu 20 đến 30 g/con, sau 8 tháng nuôi dưỡng bằng thức ăn công nghiệp chứa 30% đến 35% protein, cá đạt khối lượng trung bình 1.397,7 ± 7,20 g/con (tăng trọng ròng hơn 1.370 g/con). Tốc độ tăng trưởng khối lượng bình quân (DWG) đạt 5,6 g/con/ngày.

Thứ ba, tỷ lệ sống của đàn cá trong cả 4 mô hình đều vượt mức 90%. Khả năng kháng bệnh của cá Nheo Mỹ trong môi trường ao đất rất tốt, không xuất hiện các ổ dịch nguy hiểm do vi khuẩn Edwardsiella ictaluri hay virus Ictalurid herpesvirus. Hệ số tiêu tốn thức ăn (FCR) ghi nhận trong khoảng từ 2,5 đến 2,8.

Thứ tư, hiệu quả tài chính vượt trội so với các đối tượng truyền thống. Với năng suất ước tính đạt 18 đến 20 tấn/ha sau 8 tháng và giá bán tại ao từ 70.000 đến 100.000 đồng/kg, mô hình ghi nhận mức lợi nhuận thuần dao động từ 87 đến 165 triệu đồng/ha.

Thảo luận kết quả

Diễn biến tăng trưởng của cá Nheo Mỹ có thể được trực quan hóa rõ nét qua các đồ thị đường biểu diễn tốc độ tăng khối lượng (DWG) và chiều dài (DLG) theo thời gian, song song với bảng so sánh đối sánh các chỉ số môi trường theo mùa. Đồ thị sinh trưởng cho thấy cá tăng trưởng nhanh nhất từ tháng thứ 3 đến tháng thứ 6 (giai đoạn mùa hè và thu với nhiệt độ nước lý tưởng 26 đến 30°C), sau đó chậm lại khi nhiệt độ nước xuống dưới 17°C vào tháng 12.

Nguyên nhân cốt lõi giúp tỷ lệ sống đạt trên 90% và cá phát triển đồng đều là do sự kết hợp đồng bộ giữa việc duy trì mực nước sâu 1,5 đến 2,0 m giúp ổn định nhiệt tầng đáy, vận hành hệ thống máy phun mưa tạo oxy từ 24h00 đến 06h00 sáng và định kỳ thay 1/3 lượng nước ao 2 tuần/lần kết hợp bón vôi xử lý đáy (2 đến 3 kg vôi/100 m³ nước).

Khi so sánh với các nghiên cứu trước đây, hệ số FCR ở mức 2,5 đến 2,8 của cá Nheo Mỹ cao hơn so với cá Rô phi (FCR khoảng 1,4 đến 1,7) và cá Trắm cỏ (FCR khoảng 1,8 đến 2,2). Điều này bắt nguồn từ bản chất trao đổi chất của loài ăn tạp thiên về động vật đòi hỏi hàm lượng đạm cao. Tuy nhiên, giá bán thương phẩm của cá Nheo Mỹ cao gấp 2 đến 2,5 lần so với cá Rô phi thông thường, khiến tổng giá trị lợi nhuận ròng trên một đơn vị diện tích (87 đến 165 triệu đồng/ha) cao hơn từ 25% đến 40% so với nuôi cá truyền thống. Ngoài ra, hình thức nuôi trong ao đất cho thấy ưu thế vượt trội về việc giảm thiểu tỷ lệ thất thoát và kiểm soát dịch bệnh so với hình thức nuôi lồng bè trên sông tại Hải Dương và Nam Sách.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm hoàn thiện và nhân rộng mô hình nuôi đơn cá Nheo Mỹ thương phẩm trong ao đất, 4 nhóm giải pháp kỹ thuật và tổ chức được đề xuất cụ thể:

Thứ nhất, chuẩn hóa quy trình xử lý ao và tuyển chọn giống thả. Các chủ hộ cần tiến hành tháo cạn nước ao, vét bùn chỉ để lại lớp dày 20 đến 30 cm, rải vôi bột khử trùng với liều lượng 7 đến 10 kg/100 m² và phơi đáy từ 5 đến 7 ngày nhằm triệt tiêu 100% mầm bệnh. Mực nước lấy vào phải qua lưới lọc mịn và duy trì ổn định ở mức 1,5 đến 2,0 m. Cá giống phải đạt kích cỡ đồng đều trên 12 cm (20 đến 30 g/con), nguồn gốc rõ ràng và bắt buộc tắm nước muối loãng nồng độ 2% đến 3% trong 10 phút trước khi thả vào tháng 4 và tháng 5 hàng năm với mật độ chuẩn 1,5 con/m². Giải pháp này do các hộ nuôi phối hợp với cán bộ khuyến nông thực hiện trong 2 tháng đầu vụ.

Thứ hai, tối ưu hóa kỹ thuật quản lý dinh dưỡng và hệ số FCR. Chủ trang trại cần sử dụng 100% thức ăn công nghiệp dạng viên nổi chuyên dụng cho cá da trơn, phân chia theo giai đoạn: dùng loại 35% protein khi cá dưới 100 g và giảm xuống 30% protein khi cá lớn. Lượng cho ăn dao động 5% đến 7% khối lượng thân/ngày, chia đều 2 bữa vào lúc 08h00 và 14h00, chủ động giảm 30% đến 50% khẩu phần khi thời tiết oi bức hoặc nhiệt độ nước xuống dưới 18°C nhằm mục tiêu kéo giảm hệ số FCR xuống dưới mức 2,5. Kỹ thuật viên trại nuôi chịu trách nhiệm giám sát xuyên suốt 8 tháng.

Thứ ba, nâng cấp hệ sinh thái ao nuôi và phòng ngừa dịch bệnh chủ động. Trang bị hệ thống máy quạt nước hoặc máy phun mưa tạo sóng vận hành liên tục từ nửa đêm đến sáng sớm nhằm giữ hàm lượng oxy hòa tan luôn trên 5,0 mg/l. Định kỳ 15 đến 30 ngày bón vôi liều 2 đến 3 kg/100 m³ nước hoặc chế phẩm vi sinh để phân hủy mùn bã hữu cơ; trộn thuốc Tiên Đắc vào thức ăn liều 1 g/5 kg cá/ngày liên tục 3 ngày mỗi tháng để phòng bệnh nội - ngoại ký sinh trùng, giữ tỷ lệ hao hụt toàn vụ dưới 8%. Chủ hộ tự thực hiện định kỳ hàng tuần.

Thứ tư, hoàn thiện chuỗi liên kết và chính sách hỗ trợ phát triển. Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Hưng Yên cùng Trung tâm Khuyến nông cần lồng ghép các nguồn vốn theo Nghị định 02/2010/NĐ-CP và Nghị quyết 05-NQ/TU để hỗ trợ 80% kinh phí con giống, 30% thức ăn và chế phẩm sinh học cho các vùng quy hoạch tập trung. Đồng thời, liên kết các hợp tác xã thủy sản với hệ thống siêu thị và nhà hàng tại Hà Nội, Hải Phòng nhằm bao tiêu sản lượng mục tiêu 500 tấn cá thương phẩm/năm trong lộ trình 2017 đến 2020.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung và kết quả nghiên cứu của luận văn mang lại giá trị ứng dụng thiết thực cho 4 nhóm đối tượng chính:

Nhóm thứ nhất là nông dân, chủ trang trại và hợp tác xã thủy sản nước ngọt tại khu vực Đồng bằng sông Hồng. Luận văn cung cấp bản hướng dẫn kỹ thuật chi tiết từ chuẩn bị ao, xử lý nước, vận hành thiết bị sục khí đến định mức cho ăn khoa học, giúp người nuôi chuyển đổi thành công diện tích ruộng trũng kém hiệu quả sang mô hình cá Nheo Mỹ thu lợi nhuận cao.

Nhóm thứ hai là cán bộ khuyến nông và kỹ thuật viên nông nghiệp cơ sở. Luận văn đóng vai trò là tài liệu chuẩn mực để xây dựng giáo trình tập huấn, chuyển giao tiến bộ kỹ thuật nuôi cá da trơn công nghiệp và hướng dẫn nông dân tiếp cận các gói hỗ trợ kinh phí theo quy chuẩn của ngành nông nghiệp.

Nhóm thứ ba là giảng viên, học viên cao học và nhà nghiên cứu chuyên ngành Nuôi trồng thủy sản. Công trình cung cấp bộ dữ liệu thực địa chuẩn xác về các thông số sinh lý, sinh trưởng (DWG, DLG), hệ số tiêu tốn thức ăn (FCR) và động thái môi trường nước ao nuôi đối với loài Ictalurus punctatus tại miền Bắc Việt Nam.

Nhóm thứ tư là các cơ quan quản lý nhà nước và nhà hoạch định chính sách nông nghiệp tại các địa phương. Báo cáo cung cấp căn cứ khoa học và thực tiễn vững chắc để xây dựng đề án quy hoạch vùng nuôi thủy sản thâm canh hàng hóa, định hướng tái cơ cấu nông nghiệp nông thôn bền vững đến năm 2020.

Câu hỏi thường gặp

Mật độ thả giống và tiêu chuẩn cá Nheo Mỹ giống tối ưu trong ao đất là bao nhiêu? Mật độ thả khuyến nghị là 1,5 con/m² ao đất. Cá giống cần đạt chiều dài từ 12 cm trở lên, khối lượng 20 đến 30 g/con, hoạt động bơi lội nhanh nhẹn, không trầy xước hay mất nhớt. Trước khi thả, bắt buộc tắm cá bằng dung dịch nước muối loãng 2% đến 3% trong 10 phút để tiêu diệt ngoại ký sinh trùng, giúp tỷ lệ sống đạt trên 90%.

Nên lựa chọn loại thức ăn và hàm lượng protein như thế nào cho cá Nheo Mỹ? Nên sử dụng 100% thức ăn công nghiệp viên nổi chuyên dụng. Giai đoạn cá nhỏ cần sử dụng loại thức ăn có hàm lượng đạm 35% protein; khi cá tăng trưởng trên 100 g chuyển sang dùng thức ăn 30% protein. Khẩu phần ăn hàng ngày duy trì từ 5% đến 7% khối lượng thân, chia làm 2 cữ ăn vào lúc 08h00 và 14h00.

Các chỉ số môi trường nước ao nuôi cần duy trì ở ngưỡng an toàn nào? Nhiệt độ nước thích hợp nhất cho cá sinh trưởng là 24 đến 30°C, pH ổn định từ 7,2 đến 8,5 và độ sâu mực nước từ 1,5 đến 2,0 m. Hàm lượng oxy hòa tan (DO) cần giữ ở mức trên 5,0 mg/l (không để tụt dưới 3,4 mg/l), khí độc NO2- dưới 0,22 mg/l và NH3 không vượt quá 0,10 mg/l.

Hiệu quả kinh tế của mô hình nuôi cá Nheo Mỹ so với các loài cá truyền thống ra sao? Sau 8 tháng nuôi, cá đạt cỡ trung bình 1.397,7 g/con, mang lại lợi nhuận ròng từ 87 đến 165 triệu đồng/ha với giá bán thương phẩm 70.000 đến 100.000 đồng/kg. Mức sinh lời này cao hơn từ 25% đến 40% so với mô hình nuôi thâm canh cá Rô phi hoặc cá Trắm cỏ truyền thống.

Cần làm gì để phòng trị các bệnh phổ biến thường gặp ở cá Nheo Mỹ trong ao đất? Người nuôi cần định kỳ 2 tuần/lần thay 1/3 lượng nước trong ao, bón vôi khử trùng đáy liều 2 đến 3 kg/100 m³ nước từ 15 đến 30 ngày/lần. Để phòng ngừa vi khuẩn và nấm, định kỳ trộn thuốc Tiên Đắc vào thức ăn liều 1 g/5 kg cá cho ăn liên tục 3 ngày mỗi tháng.

Kết luận

  • Mô hình nuôi đơn cá Nheo Mỹ (Ictalurus punctatus) trong ao đất tại Hưng Yên đã đạt thành công toàn diện với tỷ lệ sống vượt trên 90% và khối lượng cá thu hoạch bình quân đạt 1.397,7 ± 7,20 g/con sau 8 tháng.
  • Khẳng định các yếu tố môi trường ao đất tại 4 huyện thực nghiệm (Văn Giang, Phù Cừ, Yên Mỹ, Khoái Châu) hoàn toàn phù hợp với đặc tính sinh học của loài, duy trì DO từ 3,4 đến 8,8 mg/l, pH 7,2 đến 8,5 và nhiệt độ 24 đến 25°C.
  • Quy trình cho ăn 100% thức ăn công nghiệp (30% đến 35% protein) được chuẩn hóa, ghi nhận tốc độ tăng trưởng nhanh 5,6 g/con/ngày và hệ số FCR ở mức 2,5 đến 2,8.
  • Đánh giá hiệu quả kinh tế vượt bậc với mức lợi nhuận thuần từ 87 đến 165 triệu đồng/ha, chứng minh tính ưu việt hơn hẳn so với các đối tượng thủy sản truyền thống.
  • Đóng góp chính của luận văn là hoàn thiện gói quy trình kỹ thuật nuôi đơn thương phẩm cá Nheo Mỹ trong ao đất khép kín, làm cơ sở khoa học chuyển giao công nghệ cho vùng Đồng bằng sông Hồng.

Về kế hoạch phát triển tiếp theo, người nuôi có thể tiếp tục lưu cá trong ao thêm 10 đến 12 tháng để đưa trọng lượng cá thương phẩm đạt kích cỡ 2,5 đến 3,0 kg/con nhằm tối ưu hóa giá trị kinh tế. Các hộ chăn nuôi và đơn vị sản xuất nông nghiệp hãy chủ động liên hệ Trung tâm Khuyến nông địa phương để tiếp nhận quy trình chuyển giao kỹ thuật và mạnh dạn đầu tư nhân rộng mô hình nuôi cá Nheo Mỹ trong các vụ nuôi tiếp theo.