Phần mở đầu Phần nội dung Chƣơng 1: Cơ sở lý luận liên kết đào tạo giữa nhà trƣờng và doanh nghiệp Chƣơng 2: Thực trạng và nhu cầu liên kết đào tạo giữa Trƣờng Cao Đẳng Công Thƣơng TP.HCM và Doanh nghiệp sản xuất Bột giấy , Giấy Chƣơng 3: Xây dựng mô hình liên kết đào tạo giữa trƣờng Cao Đẳng Công Thƣơng TP.HCM và Doanh nghiệp sản xuất Bột giấy, Giấy Phần kết luận 4 Luan van PHẦN NỘI DUNG Chƣơng 1: Cơ sở lý luận liên kết đào tạo giữa nhà trƣờng và doanh nghiệp 1. Tổng quan về vấn đề nghiên cứu 1. Nƣớc ngoài Với quan điểm của Josh Bersin 31 về đào tạo đáp ứng nhu cầu ngƣời học thì ông cho rằng việc thay đổi quan điểm về học tập ở trƣờng đại học trong doanh nghiệp truyền thống là tất yếu theo sự phát triển của kinh tế, xã hội và sự thay đổi về lực lƣợng lao động. Những thay đổi này đã dẫn đến ba yêu cầu quan trọng mà nhà trƣờng cần phải tạo đƣợc cho việc học tập là: Phải có theo yêu cầu, nhu cầu.
Phải có việc làm có liên quan. Phải đƣợc liên tục thay đổi. Các chƣơng trình điều khiển mới về công nghệ trong đó có công nghệ thông tin đang làm cho các mô hình trƣờng đại học trong doanh nghiệp truyền thống không thể duy trì thay vào đó là sự xuất hiện của mô hình dịch vụ học tập.1: Sự khác biệt giữa đại học truyền thống trong doanh nghiệp và dịch vụ học tập. Sự khác biệt Đại học truyền thống Dịch vụ học tập Chương trình khóa Có sẵn trong danh mục Tùy thuộc từng nơi học Người học đến Để đƣợc đào tạo Việc học thực hiện tùy thuộc trường vào ngƣời học Hình thức tổ chức Nhà trƣờng thực hiện tổ Tùy thuộc nhu cầu học của chức tập trung các khóa học.
ngƣời học. Josh Bersin và nhóm nghiên cứu nhận định cho việc thực hiện mô hình dịch vụ học tập là việc thực hiện một mô hình dịch vụ chia sẻ chứ không phải là một mô hình chƣơng trình trung tâm. Điều này buộc nhà quản lý phải xây dựng và quản lý 5 Luan van một tổ chức tƣ vấn thực hiện để trong quá trình đánh giá hiệu quả đào tạo thông qua mức độ dịch vụ chứ không chỉ là kết quả học tập. Về mối tƣơng quan giữa trƣờng đại học truyền thống và trƣờng đại học trong doanh nghiệp, tác giả Akram A.
El-Tannir 29 đƣa ra mô hình trƣờng đại học của công ty nhƣ mô hình bền vững cho việc học tập liên tục trong thế giới doanh nghiệp. Sự xuất hiện gần đây của mô hình đào tạo và phát triển là nhờ vào sự tăng trƣởng nhanh chóng của công nghệ thông tin và viễn thông. Nhƣ một công cụ mới để tiếp cận với kiến thức, Internet đã loại bỏ sự cần thiết phải hiện diện trong đào tạo và phát triển và thay vào đó, truy cập ảo để học tập là cho phép sự linh hoạt hơn cho ngƣời lao động tự học , rất cần thiết trong môi trƣờng doanh nghiệp. Đồng thời, nội dung trong đào tạo cho nhân viên công ty thƣờng ngày càng trở nên tập trung vào việc kinh doanh của công ty hơn là trong các cơ sở giáo dục đại học.
El-Tannir việc kết hợp truy cập ảo và nội dung cụ thể tạo cơ hội cho hoạt động học tập liên tục thông qua một trƣờng đại học của công ty. Nhân viên cố gắng giải quyết , và học hỏi từ các vấn đề kinh doanh thực tế và do đó phát triển kỹ năng của họ và đồng thời hợp tác với nhau trong một mô hình mới của học tập suốt đời trong công ty. Điều này cung cấp một xác nhận mạnh mẽ đối với sự bền vững của các trƣờng đại học của công ty trong quá trình học tập suốt đời .1: Mô hình 4 phƣơng thức đào tạo phù hợp với nhu cầu trong tƣơng lai. El-Tannir đề nghị hai loại học tập liên tục trong hình thức tƣ vấn đào tạo và học từ xa sẽ phải thay đổi để thích ứng với nhu cầu đa dạng của 6 Luan van ngƣời học, tức là sự kết hợp đại học học thuật hàn lâm và đại học trong doanh nghiệp.
Căn cứ tính chất của mục tiêu, nhiệm vụ, dự kiến tƣ vấn đào tạo sẽ phải thích ứng để tham gia nhiều hơn trong việc tạo ra các trƣờng đại học của công ty cho các công ty quan tâm và chƣơng trình đào tạo nội bộ của họ, trong khi đào tạo từ xa nghiêng về một hình thức ảo của các trƣờng đại học học thuật hàn lâm. Mức độ mà những kỳ vọng này trở thành hiển nhiên trong thực tế vẫn còn là một vấn đề cho các nghiên cứu trong tƣơng lai. Theo báo cáo nghiên cứu của M. Perkmann và cộng sự 34, tr428 thì nguồn gốc của các mức độ kết hợp giữa nhà trƣờng và thƣơng mại xuất phát từ các bối cảnh: a.
Đặc điểm cá nhân: Đặc điểm cá nhân đóng một vai trò quan trọng trong việc dự đoán tham gia học tập nhƣ giới tính, độ tuổi trong đó giới tính nam thì phù hợp với các ngành kỹ thuật và độ tuổi thâm niên thƣờng có liên quan đến sự hợp tác. Mối quan hệ cá nhân cho phép mối liên kết, liện hệ có thể có mạng lƣới lớn hơn , mang tính xã hội hơn, cho phép họ tìm kiếm đối tác tiềm năng trong khu vực tƣ nhân. Hiệu ứng mạng lƣới nhƣ vậy đƣợc tăng cƣờng bởi sự tƣơng tác thƣờng xuyên với các đối tác công nghiệp. Thêm vào đó là kinh nghiệm trƣớc đó trong lĩnh vực thƣơng mại, cấp bằng sáng chế tích cực ảnh hƣởng đến thái độ và hành vi của ngƣời hợp tác về phía ngành công nghiệp.
Một đặc điểm cá nhân nữa cũng hỗ trợ cho sự kết hợp là chất lƣợng và thành công của các nhà khoa học. Nói cách khác, các nhà khoa học tốt nhất và thành công nhất cũng là những ngƣời tham gia nhiều nhất với các đối tác công nghiệp. Ngoài ra, khả năng cá nhân để huy động nguồn lực cho nghiên cứu cũng tích cực liên quan đến phối hợp với các ngành công nghiệp cũng nhƣ các khoản tài trợ của chính phủ và các quỹ huy động từ các ngành công nghiệp 7 Luan van b. Bối cảnh tổ chức: Yếu tố quyết định nổi bật trong sự kết hợp là sự nổi bật của tổ chức đƣợc đại diện bởi chất lƣợng của các trƣờng đại học, các học giả hoặc bộ phận.
Nếu cá nhân thuộc tổ chức có bằng sáng chế giá trị và giải thƣởng của họ thì các viện nghiên cứu có nhiều khả năng để tƣ vấn cho các công ty tƣ nhân, trong khi ngƣợc lại nếu cá nhân đƣợc đánh giá giá trị học thuật truyền thống thì các đơn vị đặc biệt trong phạm vi của họ nhƣ các trƣờng đại học, trung tâm nghiên cứu thì tích cực tham gia kết hợp (Bozeman và Gaughan , 2007). Cơ cấu tổ chức về chuyên môn từ nhiều lĩnh vực có thể là công cụ để tạo điều kiện tƣơng tác giữa các khu vực công và tƣ nhân. Liên quan đến yếu tố quyết định của tổ chức trong sự kết hợp nhà trƣờng và thƣơng mại hóa theo nghiên cứu phân tích vai trò của trƣờng đại học và các tính năng của bộ ( Owen - Smith và Powell ,2001) và cơ sở hạ tầng chuyển giao công nghệ ( Lockett và Wright, Năm 2005; Siegel và cộng sự, 2003 ) cho thƣơng mại hóa. Điều này cho thấy rằng chất lƣợng nghiên cứu của các trƣờng đại học liên kết làm tăng khả năng của các nhà nghiên cứu tham gia vào thƣơng mại hóa ( Di Gregorio và Shane , 2003; Mansfield , 1995; O'Shea và cộng sự , 2005 .Owen - Smith và Powell năm 2001; Sine và cộng sự, 2003).
Bối cảnh thể chế: Về vai trò của chính sách quốc gia , so sánh thực nghiệm bằng chứng hạn chế. Hầu hết các nghiên cứu tập trung vào Bắc Mỹ và các nƣớc châu Âu trong đó có Anh , Tây Ban Nha , Đức và Thụy Điển trong khi ít thông tin về bối cảnh địa lý khác. So sánh khác nhau của các bối cảnh thể chế cho thấy rằng thƣơng mại hóa các trƣờng đại học có nhiều phát minh có khả năng tạo môi trƣờng đặc trƣng cho sự cạnh tranh khốc liệt ( nhƣ ở Mỹ) trong khi môi trƣờng cứng nhắc hơn khuyến khích các sáng kiến ( Goldfarb và Henrekson , 2003 ; Henrekson và Rosenberg , 2001). Ngƣợc lại , nghiên cứu về tham gia học tập hiếm khi đề cập đến vai trò của các thể 8 Luan van chế môi trƣờng và chính sách quốc gia , một phần bởi vì nó có ít ảnh hƣởng bởi sự quan tâm từ các nhà hoạch định chính sách thƣơng mại.
Trong nƣớc Theo nghiên cứu “Mô hình đào tạo gắn với nhu cầu doanh nghiệp ở Việt Nam hiện nay” của tác giả Phùng Xuân Nhạ 18( Khoa kinh tế, Trƣờng Đại học Quốc Gia Hà Nội) thì để đạt thành công cho mô hình đào tạo gắn với nhu cầu doanh nghiệp ở Việt Nam hiện nay thì cần có một số yếu tố sau: - Lợi ích của đào tạo phải gắn với nhu cầu doanh nghiệp: tức là yếu tố các bên cùng có lợi. Nếu các bên theo đuổi mục tiêu lợi ích riêng của mình mà không tính đến lợi ích thỏa đáng của bên kia thì rất khó hợp tác với nhau. Các bên phải nhìn nhận rất rõ là khách hàng của nhau thì mới có đƣợc các ứng xử theo nguyên tắc cùng có lợi. - Nội dung và cơ chế đào tạo gắn với nhu cầu của doanh nghiệp: Từng vị trí công việc trong doanh nghiệp sẽ yêu cầu phải có kiến thức, kỹ năng gì, nghiệp vụ nào, phẩm chất nghề nghiệp cần thiết.
Căn cứ vào chiến lƣợc phát triển của doanh nghiệp qua các năm sẽ dự báo đƣợc nhu cầu về số lƣợng, dạng loại lao động cần thiết của doanh nghiệp, nhờ đó nhà trƣờng tính toán đƣợc quy mô, cơ cấu ngành nghề, trình độ đào tạo hợp lý. Ngoài đào tạo đáp ứng nhu cầu doanh nghiệp thì nhà trƣờng còn phải đảm bảo tính tiên tiến, hiện đại của chƣơng trình mà các doanh nghiệp chƣa biết đến hoặc ít quan tâm và quan trọng hơn là đào tạo ra con ngƣời có khả năng tự học để học suốt đời. - Công nghệ đào tạo: Qua kết quả đánh giá nhu cầu nhà trƣờng sẽ lựa chọn ra đƣợc công nghệ đào tạo thích hợp. Công nghệ này gồm ít nhất 6 thành tố: Chƣơng trình và học liệu, Đội ngũ giảng viên, Cơ sở vật chất, Dịch vụ đào tạo, Tài chính và Quản lý.