CHƯƠNG 1: CO SỞ KHOA HỌC VÀ THỰC TIEN XÂY DỰNG MÔ HÌNH LÀNG SINH THÁI I. Mô hình làng sinh thái 1. Khái niệm làng sinh thái 1. Khái niệm Làng là đơn vị dân cư cơ sở của một thôn, một xã, một huyện, một tỉnh và của một đất nước.
Lang phát trién bền vững là góp phần vào công cuộc xây dựng đất nước, phát triển phon vinh, thịnh vượng. Làng có thé xem như là tế bào của một đất nước, đặc biệt là nước ta một nước có nền sản xuất nông nghiệp là chủ yếu, giống như tế bào trong cơ thể, tế bào có khỏe thì cơ thể mới khỏe mạnh được, đúng với nghĩa “Dân có hưng thì nước mới thịnh”. Làng như thế nào được coi là làng sinh thái: Lang sinh thái là một hệ sinh thái có không gian sống của một cộng đồng người nhất định. Hệ sinh thái này vừa có chức năng sản xuất ra những thứ cần thiết cho nhu cầu của cộng đồng mà không phá vỡ mối cân bằng sinh thái.
Trong hệ, con người có vai trò trung tâm để điều hòa các mối quan hệ nhằm sử dụng tối ưu các nguồn tài nguyên sẵn có, hướng tới một sự cân bằng én định, bền vững cả khía cạnh tự nhiên lẫn khía cạnh xã hội. Làng sinh thái là kết quả thực tế từ một sự mong muốn của con người nhằm tìm ra một lối sống bền vững dựa trên thái độ và cách tiếp cận đối với vấn đề về loại bỏ chat thai. Mục dich của làng sinh thái là quy hoạch vật chat như sử dung năng lượng thấp với mức hiệu suất cao và sản sinh chất thải thấp, và quy hoạch xã hội như nâng cấp các giá trị xã hội và văn hóa liên quan tới giá trị vật chất,. Trong làng sinh thái, nhà ở thường là nhà kiểu năng lượng thấp, không quá 10.000 kwh/năm, đảm bảo không dùng các nhiên liệu hóa thạch, tránh sử dụng xe hơi, hàng hóa được tiêu dùng trong các cửa hàng bán lẻ.
Rau xanh, cây ăn quả, hoa và cả cây lấy gỗ được trồng trên các lô đất tập thé và tư nhân dé tự thỏa mãn nhu cầu. Các phế thải sinh vật được sử dụng làm phân bón và giảm lượng chất thải rắn hữu cơ, hạn chế được sự ô nhiễm nguôn nước. Việc ủ phân cục bộ, tách nguôn hợp lý và đốt giấy Quách Quỳnh Nga Kinh tế môi trường 50 Chuyên đê thực tập tốt nghiệp 5 GVHD: PGS.TS Nguyên Thế Chinh loại có thể giảm một khối lượng chất thải rắn từ các hộ gia đình hàng năm khoảng từ 250kg/người xuống còn 100kg/người hoặc thậm chí là thấp hơn nữa. Những đặc trưng cơ bản của làng sinh thái: e Sử dụng tối ưu nguồn nguyên liệu, nhiên liệu và năng lượng tại chỗ.
Kể cả nguồn lực con người. e Quan hệ giữa các yếu tố vô sinh (đất, nước, khí hậu) và các yếu tố hữu sinh (sinh vật sản xuất, sinh vật tiêu thụ, sinh vật phân hủy và kề cả con người) luôn cân bằng ồn định theo quy luật phát triển của một hệ sinh thái tự nhiên. e Là không gian sống của nhiều loài sinh vật, trong đó đặc biệt là con người với nhiều cảnh quan nhân tạo đan xen với cảnh quan tự nhiên. Tạo sự đa dạng về kiến trúc không gian thích nghi cho nhiều loài sinh vật cư trú.
e Làng sinh thái được xây dựng trên cơ sở tuân thủ các quy luật phát triển của hệ sinh thái tự nhiên vốn có, sử dụng kiến thức bản địa và kiến thức khoa học hiện đại trong sản xuất, tổ chức không gian sống. e Làng sinh thái là một hệ sinh thái điển hình, trong đó con người dong vai trò quan trọng nhất trong chu trình tuần hoàn vật chất và dòng năng lượng của hệ. Tùy vào điều kiện tự nhiên (thổ nhưỡng, khí hậu, nước, địa hình, địa chất) và xã hội (phong tục tập quán, truyền thống văn hóa, phương thức sản xuất và sinh hoạt) mà mỗi vùng đều có mô hình làng sinh thái với những đặc trưng riêng phù hợp với điều kiện tự nhiên và xã hội của mình. Đề xây dựng làng sinh thái, cần điều tra, khảo sát kỹ địa điểm, bao gồm: - Kinh tế xã hội: nguồn thu nhập chính, tập quán, tín ngưỡng, trình độ văn hóa, giáo dục, dân số và tỷ lệ sinh đẻ, sức lao động.
- Tai nguyên sinh học và nông nghiệp: diện tích rừng, đất nông nghiệp, đất hoang chưa khai thác, sinh vật chỉ thị có thể làm thước đo cân băng sinh thái. - Tho nhưỡng và khí hậu: tính chất của đất về mặt cơ học, vật lý, hóa học và sinh học, nhiệt độ và độ âm theo mùa, nguồn nước chính, thiên tai thường gặp,. - _ Hệ thống canh tác: co cấu cây trồng và vật nuôi quen thuộc, kinh nghiệm truyền thống, độc canh hay đa canh, cách sử dụng sản phẩm làm ra, tình trạng thu nhap,. Quách Quynh Nga Kinh tế môi trường 50 Chuyên đê thực tập tốt nghiệp 6 GVHD: PGS.TS Nguyên Thế Chinh Lang sinh thái là một mô hình minh họa cho hướng phát triển cần phải có trong cả các nước phát triển cũng như các nước đang phát triển để chuyển đổi được các xu hướng có hại, nhằm mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội gắn với việc bảo vệ môi trường, đảm bảo phát trién bền vững.
Phân loại Tùy theo từng mục đích mà người ta đưa ra những tiêu chí phân loại khác nhau và từ đó phân ra thành các loại khác nhau. e Tùy theo từng vùng miền khác nhau, chia ra các làng sinh thái mang tên vùng sinh thái đó: - Làng sinh thái Tây Bac Bộ - Lang sinh thái Đông Bắc Bộ - Lang sinh thái Đồng Bằng Bắc Bộ - Làng sinh thái Bắc Trung Bộ - Lang sinh thái Trung va Nam Trung Bộ - Lang sinh thái Đông Nam Bộ - Lang sinh thái Tây Nam Bộ - Lang sinh thái Tây Nguyên e Theo tiêu chí hệ sinh thái độ cao so với mặt biến, làng sinh thái được chia ra thành: - Lang sinh thái vùng ven biển - Lang sinh thái vùng đồng trũng thấp - Lang sinh thái vùng đồng bằng cao - Lang sinh thái vùng đôi núi trung du - Lang sinh thái vùng núi rừng e Theo mục đích nghiên cứu, sử dụng làng sinh thái sẽ lai được chia nhỏ hon: Ví dụ: Làng sinh thái vùng đôi núi trung du có thê được chia nhỏ hơn thành: - Lang sinh thái vùng đồi núi trung du Bắc Bộ - Lang sinh thái vùng đồi núi trung du Trung Bộ - Lang sinh thái vùng đôi núi trung du Tây Nam Bộ. e Theo đặc thù sản xuất xã hội, làng sinh thái chia ra thành: - Lang sinh thái thuần nông Quách Quỳnh Nga Kinh tế môi trường 50 Chuyên đê thực tập tốt nghiệp 7 GVHD: PGS.TS Nguyễn Thế Chỉnh - Lang sinh thái nông nghiệp và nghề gốm - Làng sinh thái nông nghiệp và nghề sơn mài - Lang sinh thái vườn cây ăn quả và nuôi ong - Lang sinh thái vườn cây điều, cây cao su - Lang sinh thái nghề chế biến nước mắm - Lang sinh thái nghề muối - Lang sinh thái vườn rừng — ao — chuồng — biogas e Theo mục tiêu phát triển kinh tế, làng sinh thái chia thành: - Lang sinh thái đơn thuần - Lang kinh tế sinh thái - Làng sinh thái kết hợp du lịch sinh thái 2. Cơ sở khoa học xây dựng làng sinh thái 2.
Kinh tế sinh thái 2. Khái niệm về kinh tế sinh thái Hoạt động kinh tế nông nghiệp, công nghiệp có tác động hai mặt đối với hệ sinh thái mà chính con người là một thành viên vừa là người thừa hưởng, vừa là thủ phạm. Trong các thập kỷ cuối của thế kỷ 20, nhân loại được chứng kiến sự bùng nổ của dân số và công nghiệp. Sản phẩm công nghiệp và nông nghiệp tăng lên một cách đáng kể đồng thời những nhiễu loạn gây nên trên hành tinh chúng ta cũng thật đáng sợ.
Các nước công nghiệp phát triển đã đồ vào đất, nước, không khí những chat thải độc hại, chất phóng xạ, khí độc, hóa chất tiêu hủy chậm,.làm cho hành tinh suy giảm chức năng của nó. Hạn hán, lũ lụt nghiêm trọng xảy ra ở nhiều lục địa và giả thiết tầng ô zôn bị chọc thủng do kinh tế công nghiệp và chiến tranh gây nên cũng góp thêm những tiếng chuông cảnh tỉnh. Ở một số nước đang phát triển, dân số tăng nhanh phải tăng số lượng đàn gia súc, mở thêm diện tích sản xuất lương thực — thực phẩm trong hoàn cảnh thiếu thốn về phương tiện, phân bón và kỹ thuật canh tác đã làm cho diện tích hoang mạc và sa mạc lan rộng. Trước thực trạng đó, khái niệm về kinh tế sinh thái đã được hình thành từ những năm 1990 do những thành tựu của khoa học kinh tế trên con đường phát triển các mối quan hệ ho trợ giữa con người với thiên nhiên.
Quách Quỳnh Nga Kinh tế môi trường 50 Chuyên đê thực tập tốt nghiệp 8 GVHD: PGS.TS Nguyên Thế Chinh Kinh tế sinh thái là sự kết hợp hữu cơ giữa một số lĩnh vực khoa học xã hội, khoa học kỹ thuật (chủ yếu là các hoạt động kinh tế) với một số khoa học tự nhiên (chủ yếu là khoa học sinh thái), là sự kết hợp của nhiều lĩnh vực khoa học (sinh học, khí tượng, thổ nhưỡng, toán học, tin học,.) tạo nên một môn khoa học mới — Khoa học kinh tế sinh thái. Và nội dung của môn khoa học này là nghiên cứu, giải quyết các khía cạnh sinh thái của các hoạt động kinh tế của con người cũng như các khía cạnh kinh tế của các hoạt động sinh thái. Các hoạt động kinh tế của con người như công nghiệp, nông nghiệp, lưu thông, dịch vụ,.ở thời đại hiện nay chỉ có thể đem lại hiệu quả thiết thực khi được tiến hành trên cơ sở vận dụng phù hợp các quy luật sinh thái. Mặt khác, các hoạt động sinh thái gìn giữ, bảo vệ môi trường, bảo vệ thiên nhiên, bảo vệ nguồn gen,.chỉ có ý nghĩa khi nó góp phần thúc đây và nâng cao hiệu quả của các hoạt động kinh tế.1: Xuất phát điểm của Kinh tế sinh thái Làm kinh tế Kinh tế hóa Bài trí môi môi trường chính sách trường thông qua môi trường thông qua Kinh tế nguyên liệu Phân tích phí tôn Tăng cường các quá Kinh tế nông lâm Hữu ích trình tự nhiên Kinh tế hàng không Cân đối năng lượng Tạo nên thêm những Kinh tế thủy Đánh giá hiệu suất quá trình tự nhiên Kinh tế phong cảnh Công cụ kinh tế thị Tạo nên quá trình tự trường nhiên hoàn toàn mới Nguồn: Cuốn sách Quản ly môi trường, Con đường kinh tế dé dan đến nên kinh tế sinh thái, Manfred Schreiner, nam 1996.