Chương 1: Giới thiệu tổng quan về đề tài nghiên cứu, mục tiêu đề tài, nội dung thực hiện, đối tượng và giới hạn của luận văn, cấu trúc luận văn Chương 2: Giới thiệu lý thuyết về mô hình liên quan đến kỹ thuật bảo mật trong đấu thầu điện tử, Luật đấu thầu của Việt Nam, các yếu tố tác động lên đấu thầu ở Việt Nam và các loại hình doanh nghiệp ở Việt Nam. Phần này cũng chính là tiền đề để đề xuất mô hình đấu thầu điện tử cho các doanh nghiệp ngoài Nhà nước được đề cập đến ở Chương 3. Chương 3: Xây dựng mô hình đấu thầu điện tử áp dụng vào môi trường doanh nghiệp ngoài Nhà nước tại Việt Nam. Trong chương này, tôi sẽ trình bày chi tiết việc áp dụng mô hình lý thuyết về kỹ thuật bảo mật trong đấu thầu điện tử vào môi trường các doanh nghiệp ngoài Nhà nước tại Việt Nam.
Những tương tác về vấn đề bảo mật đến mô hình này. Chương 4: Đánh giá mô hình sau khi xây dựng, đưa ra được các vấn đề mà mô hình đấu thầu điện tử được đề xuất ở Chương 3 giải quyết được bao gồm về vấn đề đấu thầu và quy trình, vấn đề về bảo mật và sự phù hợp của quy trình đối với môi trường doanh nghiệp Việt Nam, mà chủ yếu là doanh nghiệp ngoài Nhà nước, đó cũng là các ưu điểm của mô hình, qua đó đánh giá được các nhược điểm của mô hình này trong Chương 5. Chương 5: Tóm tắt luận văn, đưa ra được nhược điểm của mô hình, tóm tắt lại những đóng góp của luận văn, đưa ra ý kiến và hướng phát triển của mô hình. Đấu thầu điện tử cho doanh nghiệp ngoài Nhà nước tại Việt Nam -12- CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2.
MÔ HÌNH BẢO MẬT Tham khảo kỹ thuật bảo mật trong đấu thầu điện tử trên mạng mở của Weidong Kou (2002). Trong bằng sáng chế này, ông đưa ra: Một cơ chế trong hệ thống đấu thầu điện tử qua mạng nhằm đảm bảo cho các hồ sơ dự thầu được bảo mật cho đến khi đóng thầu. Dựa vào việc được chấp thuận cho phép nộp thầu điện tử, các nhà thầu tiềm năng mã hóa các hồ sơ dự thầu của họ bằng cách sử dụng khóa được cung cấp bởi bên thứ ba. Các hồ sơ đề xuất đã được mã hóa này được nộp đến cho bên mời thầu tuy nhiên bên mời thầu không được phép truy cập và tiếp cận trong thời gian chưa đóng thầu.
Hồ sơ dự thầu đã được mã hóa sẽ được lưu trữ trong một kho dữ liệu an toàn cho đến khi đóng thầu. Theo hướng thứ nhất, bên mời thầu sẽ tự giữ các hồ sơ dự thầu đã được mã hóa, và lấy được các khóa để truy cập nội dung hồ sơ dự thầu từ bên thứ ba ngay sau khi kết thúc thời hạn nộp thầu. Theo một hướng xử lý khác, bên mời thầu sẽ mã hóa thêm một lần nữa trên hồ sơ dự thầu đã được mã hóa bằng khóa riêng của họ, đồng thời chuyển tiếp hồ sơ đã được mã hóa hai lần cho bên thứ ba lưu trữ trong một kho dữ liệu an toàn cho đến khi đóng thầu. Bên thứ ba sau khi đóng thầu sẽ trả lại hồ sơ dự thầu đã được mã hóa hai lần cho bên mời thầu cùng với các khóa để cho phép bên mời thầu có thể truy cập nội dung hồ sơ mời thầu, Trong cả hai hướng, các bên lưu trữ hồ sơ dự thầu không được phép tiếp cận với các khóa giải mã cho đến khi đóng thầu.
Các thành phần trong sáng chế: - Đối tượng của sáng chế: cung cấp một cơ chế đấu thầu trong một mạng mở an toàn, đây là cơ chế điện tử dựa trên một giao thức an toàn trên cơ sở hồ sơ dự thầu được giữ bởi một bên thứ ba đáng tin cậy. - Các bên tham gia đấu thầu (cơ quan chính phủ) không thể nhìn thấy nội dung đề xuất thầu cho đến thời điểm mở thầu. - Bên thứ ba là một bên đáng tin cậy, được tin tưởng để nắm giữ hồ sơ dự thầu Đấu thầu điện tử cho doanh nghiệp ngoài Nhà nước tại Việt Nam -13- - Không có nhà cung cấp (nhà thầu) nào có thể nhìn thấy nội dung đề xuất của bất kỳ nhà cung cấp khác. - Sáng chế cung cấp một cơ chế khóa để lưu trữ an toàn đề xuất điện tử được gởi bởi các nhà cung cấp trong quá trình đấu thầu qua mạng, cơ chế này bao gồm các yếu tố: o Một khóa mật mã đầu tiên được chia sẻ duy nhất giữa nhà cung cấp và một bên thứ ba (bên chứng thực) trong quá trình đấu thầu mở được các nhà cung cấp sử dụng để chuyển một đề xuất thầu theo một yêu cầu đấu thầu.
o Các cá nhân, tổ chức yêu cầu đấu thầu không thể tiếp cận đề xuất thầu được trình bởi các nhà cung cấp. o Bao gồm một kho lưu trữ dữ liệu dùng để lưu trữ các đề xuất thầu cho đến thời hạn mở thầu. Điều kiện trong phát minh này là không giới hạn về các nguồn lực của hệ thống như phần cứng, phần mềm, mạng, các thông điệp, mã hóa, và các công nghệ chữ ký số để đảm bảo tính toàn vẹn, bảo mật, xác thực và chống thoái thác thông tin liên lạc giữa các bên. Cơ chế điện tử để khóa và lưu trữ một cách an toàn đề xuất thầu được gởi bởi nhà cung cấp trong quá trình đấu thầu qua mạng bao gồm: - Một khóa đầu tiên được chia sẻ duy nhất giữa một nhà cung cấp và một bên thứ ba thực hiện chứng thực trong quá trình đấu thầu, khóa bảo mật được nhà cung cấp sử dụng để mã hóa một đề nghị làm cho nó không thể bị tiếp cận khi nộp đề xuất thầu cho bên mời thầu khi chưa được phép.
- Một kho lưu trữ dữ liệu điện tử để lưu trữ các đề xuất thầu cho đến hết thời hạn nộp thầu (thời điểm đóng thầu) Đấu thầu điện tử cho doanh nghiệp ngoài Nhà nước tại Việt Nam -14- Hình 2. Sơ đồ các bước trong đấu thầu điện tử Hình 2.1 là sơ đồ minh họa một tình huống đấu thầu điển hình trong môi trường điện tử (môi trường mở). Có ba bên tham gia trong một quá trình đấu thầu an toàn trong mạng mở trong sáng chế, nhà cung cấp (100) muốn trở thành người cung cấp hàng hóa theo yêu cầu của bên yêu cầu đấu thầu (102), chẳng hạn như một cơ quan chính phủ, và một bên thứ ba (104) giữ vai trò đảm bảo cơ chế chứng thực.1 nêu lên các bước triển khai, để bắt đầu đấu thầu bên mời thầu (102) ban hành một lời mời thầu (bước 1), các nhà cung cấp (100) phản hồi bằng cách đưa ra một đề xuất nộp hồ sơ dự thầu và yêu cầu xác thực cho việc này (bước 2). Bên mời thầu (102) chuyển các yêu cầu xác thực ứng với mỗi nhà cung cấp cho bên thứ ba (104) để thực hiện chứng thực (bước 3), sau đó bên thứ ba lần lượt cung cấp mã xác thực cho các nhà cung cấp một cách trực tiếp (bước 4) hoặc gián tiếp.
Tiếp theo, các nhà cung cấp (100) có thể sử dụng mã xác thực của họ để nộp đề xuất dự thầu theo yêu cầu đấu thầu (bước 5). Các đề xuất dự thầu này được lưu trữ trong một bộ nhớ cache (106) (bước 6), bộ nhớ này có thể được đặt tại bên thứ ba hoặc đặt tại Đấu thầu điện tử cho doanh nghiệp ngoài Nhà nước tại Việt Nam -15- bên mời thầu cho đến ngày cuối cùng (hạn nộp hồ sơ dự thầu). Tuy nhiên không có bất kỳ một bên nào có đủ điều kiện để xem nội dung của hồ sơ thầu được lưu trữ khi chưa đến ngày đóng thầu. Sau khi hết hạn nộp thầu và tất cả các hồ sơ thầu đã được lưu trữ trong bộ nhớ cache, bên mời thầu được nhận tất cả các thông tin liên quan (bước 7) để mở các đề xuất thầu và tiến hành lựa chọn nhà thầu (bước 8).
Giao thức an toàn trong đấu thầu được thể hiện trong sáng chế này dựa trên cơ sở hạ tầng khóa công khai (PKI), trong đó mỗi bên tham gia đấu thầu có một khóa công khai và chữ ký số được lưu trữ trong một kho lưu trữ hoặc trong một cơ sở dữ liệu quan trọng, đồng thời được chứng nhận bởi Cơ quan chứng thực (CA). An toàn đấu thầu trong môi trường điện tử (môi trường mở) có thể được thực hiện thông qua quy trình trong hình 2. Mô hình bảo mật trong đấu thầu điện tử Đấu thầu điện tử cho doanh nghiệp ngoài Nhà nước tại Việt Nam -16- Hình 2. Mô hình bảo mật trong đấu thầu điện tử (tiếp theo Đấu thầu điện tử cho doanh nghiệp ngoài Nhà nước tại Việt Nam -17- Hình 2.2 là một sơ đồ mô tả quá trình xác thực của bên thứ ba trong một hệ thống đấu thầu điện tử an toàn.
Trước tiên, bên mời thầu (ví dụ cơ quan Chính phủ) công bố một lời mời thầu thông qua bất kỳ phương tiện thông tin nào (khối 200). Có thể bao gồm việc quảng bá thông qua các phương tiện truyền thông điện tử, báo chí, thông qua các phương tiện truyền thông phi điện tử nhằm thông báo cho các nhà cung cấp được biết về thông tin yêu cầu cần đấu thầu. Một nhà cung cấp muốn tham gia đấu thầu việc đầu tiên phải gởi cho bên mời thầu một đề nghị tham dự thông qua thông điệp REQUEST_ID (khối 202). Thông điệp này gồm có ngày tháng và chữ ký kỹ thuật số của nhà cung cấp.
Sau khi nhận được thông điệp REQUEST_ID từ nhà cung cấp, bên mời thầu sẽ xác minh chữ ký số của nhà cung cấp và thông tin thời gian (khối 204). Nếu kết quả không đúng, một thông báo lỗi sẽ được trả về cho nhà cung cấp (khối 206). Nếu thông tin chữ ký và thời gian được xác thực, bên mời thầu sẽ tạo ra một nhận dạng hồ sơ đề xuất - ID (khối 208) và gởi cho bên thứ ba yêu cầu một khóa phiên (khối 210), khóa phiên này sẽ được sử dụng để mã hóa đề nghị thầu của nhà cung cấp. Khóa phiên của nhà cung cấp là một khóa bí mật được chia sẻ giữa các nhà cung cấp và bên thứ ba và có hiệu lực cho đến khi hết hạn nộp thầu tại thời điểm đóng thâu.
Khi nhận được yêu cầu khóa phiên cho nhà cung cấp, bên thứ ba đầu tiên xác minh chữ ký số của bên mời thầu và thông tin về thời gian (khối 212, nếu thông tin được xác thực không đúng bên thứ ba sẽ trả một thông báo lỗi 214 cho bên mời thầu).