chương I, môn Công nghệ 10 - Trung học phổ thông, khóa luận tốt nghiệp, khoa Sư phạm và Ngoại ngữ, trường Học viện Nông nghiệp Việt Nam. Các nghiên cứu trên đã góp phần đổi mới PPDH, sử dụng hiệu quả PTDH; giúp bài học trở nên sinh động, học sinh tích cực hoạt động, hiểu và khắc sâu kiến thức. Kết quả học tập nâng cao rõ rệt. Tuy nhiên đến thời điểm hiện tại chưa có đề tài nào nghiên cứu việc sử dụng mẫu vật trong dạy học chương VIII, môn CN8 ở trường THCS.
Một số khái niệm cơ bản 2. Khái niệm phương pháp PP là cách thức nhận thức, nghiên cứu hiện tượng của tự nhiên và đời sống xã hội hoặc hệ thống các cách sử dụng để tiến hành một hoạt động nào đó (Nguyễn Đức Thành, 2000). 7 PP được hiểu là con đường, cách thức đạt tới mục đích, giải quyết một nhiệm vụ xác định trong hoạt động nhận thức hay thực tiễn. Cũng theo Nguyễn Đức Thành (2000): PP là một hệ thống quy tắc, thao tác hành động nhằm đạt mục đích đề ra trong điều kiện nhất định.
Do vậy, PP có mối quan hệ chặt chẽ với mục đích và PT, đồng thời PP cũng có quan hệ chặt chẽ với nội dung học. Khái niệm phương pháp dạy học Trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng, lịch sử nghiên cứu giáo dục cho đến nay đã có rất nhiều quan điểm và định nghĩa về PPDH. Coocxunskaia (1972- Trích dẫn từ Tạ Thị Quỳnh Anh, 2015) “PPDH là cách thức truyền đạt kiến thức, đồng thời là cách lĩnh hội của trò”. Theo Trần Bá Hoành (2002) “PPDH là con đường, cách thức GV hướng dẫn, tổ chức chỉ đạo các hoạt động học tập tích cực, chủ động của HS nhằm đạt các mục tiêu DH”.
Theo Nguyễn Thị Ngọc Thúy (2004), “PPDH là tổ chức các cách thức làm việc của thầy và trò, trong đó thầy giữ vai trò chủ đạo, trò giữ vai trò tích cực chủ động nhằm thực hiện tốt các nhiệm vụ DH”. Từ các định nghĩa trên có thể thấy bản chất của PPDH bao gồm hoạt động của thầy và trò. Hai hoạt động này có sự tác động qua lại lẫn nhau, trong đó thầy có chức năng chỉ đạo, hướng dẫn, tổ chức hoạt động học tập của trò, trên cơ sở đó trò tích cực, chủ động lĩnh hội tri thức. Khái niệm tính tích cực *Tính tích cực Tính tích cực bao hàm tính chủ động, sáng tạo, tính có ý thức của chủ thể trong hoạt động.
Tính tích cực của một cá nhân là một thuộc tính của nhân cách được đặc trưng bởi sự chi phối mạnh mẽ của các hành động đang diễn ra đối với đối tượng hoạt động. Tính tích cực được thể hiện ở sự nỗ lực cố gắng của bản 8 thân, ở sự chủ động, tự giác hoạt động và cuối cùng là kết quả cao của hoạt động có mục đích của chủ thể. *Các cấp độ của tính tích cực Trích dẫn từ Nguyễn Tất Thắng (2006) đã chia tính tích cực làm 3 cấp độ: - Tính tích cực bắt chước tái hiện: Xuất hiện do yêu cầu kích thích bên ngoài (do yêu cầu của GV) nhằm chuyển đối tượng từ ngoài vào trong theo cơ chế “Hoạt động bên ngoài và bên trong có cùng cấu trúc”. Tái hiện và bắt chước là tính tích cực ở mức độ thấp.
Khi GV thay đổi một chút dữ kiện là HS vướng mắc, lúng túng nhưng nó là tiền đề cơ bản để giúp các em hiểu được bài. - Tính tích cực tìm tòi: Xuất hiện cùng với quá trình hình thành các khái niệm, giải quyết các tình huống nhận thức, tìm tòi các phương thức hành động trên cơ sở tự giác, có sự tham gia của động cơ, nhu cầu và ý chí. - Tính tích cực sáng tạo: Chủ thể nhận thức tự tìm kiến thức mới, tự tìm ra phương thức hành động riêng, đây là mức độ biểu hiện tính tích cực cao nhất. Người học có tính tích cực có thể tìm được các kiến thức mới không nhờ vào sự giúp đỡ của người khác, thực hiện tốt các yêu cầu GV đưa ra.
*Tính tích cực học tập Theo Đinh Trọng Hiếu (2018), “Tính tích cực học tập - về thực chất là tính tích cực nhận thức, đặc trưng ở khát vọng hiểu biết, cố gắng trí lực và có nghị lực cao trong quá trình chiếm lĩnh tri thức. Tính tích cực sản sinh nếp tư duy độc lập, suy nghĩ độc lập là mầm mống của sáng tạo. Tính tích cực học tập biểu hiện ở những dấu hiệu như: Hăng hái trả lời các câu hỏi của GV, bổ sung các câu trả lời của bạn, thích phát biểu ý kiến của mình trước vấn đề nêu ra, hay nêu thắc mắc, đòi hỏi giải thích cặn kẽ những vấn đề chưa đủ rõ, chủ động vận dụng kiến thức, kỹ năng đã học để nhận thức vấn đề mới, tập trung chú ý vào vấn đề đang học, kiên trì hoàn thành các bài tập, không nản trước các tình huống khó khăn,. Phương pháp dạy học tích cực Trích dẫn Đinh Trọng Hiếu (2018), cho rằng “PPDH tích cực là một thuật ngữ rút gọn được dùng ở nhiều nước để chỉ những PP giáo dục, DH theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người học.
PPDH tích cực hướng tới việc hoạt động hóa, tích cực hóa hoạt động nhận thức của người học, nghĩa là tập trung vào phát huy tính tích cực của người học chứ không phải là tập trung vào phát huy tính tích cực của người dạy, trong đó GV phải nỗ lực nhiều so với dạy theo PP thụ động. Như vậy, có thể xem PPDH tích cực là một hệ thống các PPDH theo hướng phát huy tính tích cực chủ động của người học để chiếm lĩnh kiến thức, hình thành kỹ năng và phát triển tư duy. Phương tiện dạy học 2. Khái niệm phương tiện dạy học Theo Đinh Trọng Hiếu (2018), PTDH là toàn bộ sự vật hiện tượng trong thế giới tham gia vào quá trình DH, đóng vai trò là công cụ hay điều kiện để GV và học viên sử dụng khâu trung gian tác động vào đối tượng DH, PTDH có chức năng khơi dạy, dẫn truyền và làm tăng sức mạnh tác động vào người dạy và người học đến đối tượng DH.
Theo Thái Duy Tuyên (2009), PTDH là những công cụ mà thầy giáo và học sinh sử dụng trong quá trình DH nhằm đạt được mục đích DH. Như vậy, PTDH là toàn bộ những dụng cụ được GV sử dụng trong quá trình DH nhằm khơi dạy, dẫn truyền, tác động vào người học để hình thành tri thức. Vai trò của các phương tiện dạy học Theo Tô Xuân Giáp (2001), PTDH có những vai trò như sau: - PTDH giúp làm sinh động nội dung DH, nâng cao hứng thú học tập và lòng tin của HS vào khoa học. - Làm tăng khối lượng công tác tự lực trong tiết học của HS.
- PTDH còn giúp HS phát triển năng lực nhận thức, đặc biệt là khả năng 10 quan sát, tư duy, phân tích, tổng hợp các hiện tượng rút ra những kết luận có độ tin cậy. Giúp HS hình thành cảm giác thẩm mỹ, được hấp dẫn bởi cái đẹp, cái đơn giản, tính chính xác của thông tin chứa trong PT. - Giúp GV tiết kiệm được thời gian trên lớp trong mỗi tiết học, giúp GV điều khiển được hoạt động nhận thức của HS, kiểm tra và đánh giá kết quả học tập của các em được thuận lợi và có hiệu suất cao. Phân loại các phương tiện dạy học Theo Nguyễn Minh Trung (2014), dựa vào mục đích sử dụng có thể phân loại các PTDH thành hai loại: PT dùng trực tiếp để DH và PT dùng để hỗ trợ, điều khiển quá trình DH.
- PT dùng trực tiếp để DH bao gồm: những máy móc, thiết bị và dụng cụ được GV sử dụng trong giờ dạy để trình bày kiến thức, rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo cho HS. Đó có thể là: + Máy chiếu, máy chiếu phim dương bản, máy chiếu phim, máy ghi âm, máy quay đĩa, máy thu hình, máy dạy học, máy tính điện tử, máy quay phim … + Các tài liệu in (sách giáo khoa, sách chuyên môn, các tài liệu chép tay, số tay tra cứu, sách bài tập, chương trình môn học…). + Các PT mang tin thính giác, thị giác và hỗn hợp (băng ghi âm, đĩa ghi âm, các chương trình phát thanh, tranh vẽ, biểu bằng bản đồ, đồ thị, ảnh, phim dương bản, phim cuộn,…). + Các vật mẫu vật, mô hình, tranh lắp ghép, phương tiện và vật liệu thí nghiệm, máy luyện tập, các PT sản xuất,… - PT hỗ trợ và điều khiển quá trình DH là những PT được sử dụng để tạo ra một môi trường học tập thuận có hiệu quả và liên tục.
+ PT hỗ trợ bao gồm các loại bảng viết, các gia di động hoặc cố định, thí nghiệm thiết bị điều khiển âm thanh, ánh sáng. 11 + PT điều khiến bao gồm các loại sổ sách, tài liệu ghi chép về tiến học tập, về thành tích học tập của HS. Vị trí của phương tiện dạy học trong quá trình dạy học Để đánh giá được vị trí của PTDH trong QTDH, ta cùng xem xét sơ đồ về mối quan hệ giữa các yếu tố trong QTDH: Mục tiêu, kế hoạch DH Nội dung DH PTDH PPDH Từ sơ đồ trên cho ta thấy các yếu tố cấu trúc của QTDH có mối quan hệ mật thiết với nhau trong đó PTDH không chỉ là một yếu tố trong chỉnh thể của QTDH mà còn chiếm một vị trí quan trọng trong quá trình đó. Để thực hiện được mục tiêu dạy học, GV cần phải căn cứ vào nội dung bài dạy, đối tượng HS để dự kiến PTDH cũng như PPDH phù hợp với nội dung bài học và phù hợp với PTDH đó.
PTDH vừa là nguồn tri thức, vừa là công cụ để HS lĩnh hội tri thức và rèn luyện kỹ năng môn học và điều kiện tất yếu là sự thay đổi PTDH sẽ dẫn tới sự thay đổi PPDH. Như vậy, PTDH là một yếu tố quan trọng trong QTDH, nó giúp gắn kết các yếu tố cấu trúc của QTDH thành một chỉnh thể toàn vẹn (Đinh Thị Mến, 2007). Phương tiện trực quan Khái niệm trực quan thường được sử dụng rộng rãi trong DH. Theo Thái Duy Tuyên (2009), Trực quan là khái niệm biểu thị tính chất của hoạt động nhận thức, trong đó những thông tin thu được từ các sự vật và hiện tượng của thế giới bên ngoài nhờ sự cảm nhận trực tiếp của các cơ quan cảm giác của con người.