Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ "Mạng lưới trường học phổ thông ở Thành phố Hồ Chí Minh" do nghiên cứu sinh Đinh Thị Thùy Dung thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của GS. Nguyễn Viết Thịnh, chuyên ngành Địa lí học (mã số: 62 31 05 01) tại Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh, hoàn thành năm 2020.
Về tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu, văn bản luận án nêu rõ Thành phố Hồ Chí Minh là trung tâm kinh tế, văn hóa và giáo dục quan trọng của Việt Nam. Trong nhiều năm qua, thành phố có tốc độ gia tăng dân số nhanh chóng trong khi quỹ đất không tăng, dẫn đến tình trạng học sinh đúng tuyến thiếu chỗ học. Quá trình thực hiện quy hoạch mạng lưới trường học diễn ra chậm, số lượng trường học không tăng kịp với quy mô dân số, gây áp lực lớn cho công tác tuyển sinh và quản lý. Thực trạng tổ chức mạng lưới trường học phổ thông tại thành phố bộc lộ nhiều điểm bất cập: có nơi thiếu trường, có nơi tập trung quá nhiều trường; có nơi trường thừa chỉ tiêu nhưng cũng có nơi trường thiếu học sinh. Tình trạng này khiến phụ huynh học sinh tìm cách xin học trái tuyến, chạy trường, chạy lớp để vào các trường điểm, bất chấp khoảng cách địa lý di chuyển. Bên cạnh đó, áp lực từ các luồng di cư cơ học tại các địa bàn đô thị hóa nhanh làm nảy sinh các "điểm nóng" về thiếu hụt phòng học. Xuất phát từ thực tế đó, luận án lựa chọn nghiên cứu việc tổ chức mạng lưới trường học phổ thông dưới lăng kính địa lí dịch vụ và địa lí kinh tế - xã hội.
Mục tiêu nghiên cứu của luận án là phân tích thực trạng mạng lưới các trường phổ thông ở Thành phố Hồ Chí Minh từ góc độ địa lí dịch vụ, coi giáo dục là một ngành dịch vụ đặc biệt. Trên cơ sở đó, luận án đưa ra các giải pháp góp phần hoàn thiện mạng lưới trường phổ thông của thành phố trong những thập kỷ tới.
Để đạt được mục tiêu trên, luận án xác định 3 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
- Tổng quan có chọn lọc cơ sở lý luận và thực tiễn về địa lí dịch vụ áp dụng cho dịch vụ giáo dục và mạng lưới trường học phổ thông.
- Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển giáo dục và mạng lưới trường học; đồng thời làm rõ thực trạng phát triển giáo dục phổ thông và thực trạng mạng lưới trường học phổ thông ở Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đề xuất những giải pháp để góp phần hoàn thiện mạng lưới trường học phổ thông ở Thành phố Hồ Chí Minh.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Mạng lưới trường học phổ thông (bao gồm cấp tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông và các trường liên cấp) trên địa bàn thành phố.
- Phạm vi không gian: Toàn bộ 24 quận, huyện thuộc Thành phố Hồ Chí Minh (theo tổ chức lãnh thổ hành chính tại thời điểm nghiên cứu).
- Phạm vi thời gian: Tập trung chủ yếu vào giai đoạn 5 năm từ năm học 2013 - 2014 đến năm học 2017 - 2018; đồng thời có sử dụng chuỗi số liệu từ các cuộc Tổng điều tra dân số và nhà ở các năm 1999 và 2009 cùng các mốc thời gian khác để phân tích biến động dân cư và mạng lưới.
- Phạm vi nội dung: Nghiên cứu thực trạng phân bố các trường học phổ thông trong mối quan hệ với yêu cầu đáp ứng nhu cầu học tập cả về quy mô và chất lượng; phân tích các nhân tố kinh tế - xã hội tác động; đề xuất các giải pháp ở tầm vĩ mô nhằm tổ chức hợp lý mạng lưới trường học phổ thông.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Trong phần tổng quan tài liệu, tác giả đã điểm lại các công trình nghiên cứu trong nước và quốc tế theo các nhóm nội dung chính:
Về các nghiên cứu quốc tế:
- Nhóm nghiên cứu về triết lý giáo dục và giáo dục học so sánh: Luận án dẫn tác phẩm "Dân chủ và giáo dục" của John Dewey (1916) nhấn mạnh việc học tập thông qua trải nghiệm và hoạt động xã hội; nghiên cứu của Briseid O. và Caillods F. (2004) về xu hướng giáo dục trung học ở các nước OECD và bài học kinh nghiệm cho các nước châu Phi; công trình của Phillip Hughes chủ biên (2006) về giáo dục trung học tại khu vực châu Á - Thái Bình Dương, trong đó dẫn kết luận của Robert Putnam (2000) về vai trò của vốn xã hội và niềm tin xã hội đối với thành công giáo dục.
- Nhóm nghiên cứu về giáo dục và phát triển kinh tế: Luận án phân tích các nghiên cứu của Ngân hàng Thế giới, tiêu biểu là Jamison D.T. và cộng sự (1982, 1991) ứng dụng hàm sản xuất gộp để lượng hóa tác động của giáo dục nông thôn tại Thái Lan, Malaysia, Hàn Quốc và năng suất lao động tại 58 quốc gia đang phát triển; nghiên cứu của Wadi D. Haddad, Martin Carnoy, R. Rinaldi và Omporn Regel (1990); công trình của Psacharopoulos G. (2004) cập nhật tỷ suất lợi nhuận đầu tư giáo dục, chỉ ra tỷ suất lợi nhuận riêng đạt mức cao nhất ở bậc tiểu học (35% đối với nhóm nước có thu nhập trung bình 4.852 USD/người).
- Nhóm nghiên cứu về địa lí giáo dục, phân tích không gian và mạng lưới trường học: Colin Brocks (2013) nghiên cứu mối quan hệ giữa giáo dục học so sánh và nhân tố địa lí, nhấn mạnh sự bất bình đẳng không gian trong cung ứng dịch vụ giáo dục; Ivor F. Goodson chủ biên (2004) với tác phẩm "Social Geographies of Educational Change" tiếp cận mạng lưới trường học như một dạng mạng lưới xã hội; Donna Adair Breault và Louise Anderson Allen (2008), Richard C. Hunter và Frank Brown chủ biên (2003) phân tích sức ép của đô thị hóa và di cư đối với hệ thống giáo dục đô thị tại Hoa Kỳ; Rosalyn Black (2008) tại Australia, Mal Lee và Glenn Finger (2010), Priscilla Wohlstetter và Courtney L. Malloy (2003) nghiên cứu về phát triển cộng đồng trường học kết nối.
- Nhóm nghiên cứu về giáo dục như loại hình dịch vụ và hành vi chọn trường: Frederick P. Stutz và Barney Warf (2012) phân tích các nhân tố chi phối tăng trưởng dịch vụ; Caroline M. Hoxby (2003), Herbert J. Walberg (2007), Philip Woods, Carl Bagley và Ron Glatter (1998) nghiên cứu các cơ chế thị trường, tính cạnh tranh và quyết định chọn trường của phụ huynh; tài liệu về marketing dịch vụ của K. Douglas Hoffman và John E.G. Bateson.
Về các nghiên cứu tại Việt Nam:
- Hướng nghiên cứu chiến lược phát triển giáo dục: Công trình của Phạm Minh Hạc (1999) về giáo dục Việt Nam trước thế kỷ XXI và quan điểm đổi mới giáo dục theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa; công trình của Vũ Ngọc Hải, Đặng Bá Lãm, Trần Khánh Đức; các nghiên cứu về quy hoạch và tài chính giáo dục của Đỗ Văn Chấn (1999), Nguyễn Đông Hanh, Nguyễn Công Giáp.
- Hướng nghiên cứu lịch sử và giáo dục học so sánh: Công trình của Nguyễn Hải Kế và cộng sự về giáo dục Thăng Long - Hà Nội; các nghiên cứu chuyên đề của nhóm tác giả Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam (Nguyễn Lộc, Đào Thái Lai, Nguyễn Anh Dũng, Nguyễn Thị Hồng Vân, Bùi Đức Thiệp); nghiên cứu về giáo dục tiểu học của Nguyễn Thị Hạnh; khảo cứu của Jonathan D. London (2011).
- Hướng nghiên cứu tiếp cận dịch vụ và hiệu quả giáo dục: Các báo cáo Khảo sát mức sống dân cư (VHLSS) từ năm 2006 đến 2016 của Tổng cục Thống kê; Báo cáo Phát triển con người Việt Nam các năm 2001, 2011, 2015; nghiên cứu về học sinh bỏ học của Lê Thúc Đức và Trần Ngô Minh Tâm; nghiên cứu của Nguyễn Đức Thành (2004) và báo cáo của Harry Anthony Patrinos, Phạm Vũ Thắng, Nguyễn Đức Thành (2018) cho Ngân hàng Thế giới tính toán tỷ suất lợi nhuận giáo dục tại Việt Nam năm 2010 (tiểu học đạt 6,1%, trung học đạt 2,0%, đại học đạt 17,8%).
- Hướng nghiên cứu gắn với địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh: Nguyễn Kim Hồng (1995) phân tích mối quan hệ tương hỗ giữa phát triển dân số và phát triển giáo dục; Dương Kiều Linh (2007) khảo sát thực trạng hệ thống giáo dục ngoài công lập.
Khoảng trống nghiên cứu được luận án xác định: Mặc dù đã có nhiều công trình về giáo dục học, xã hội học giáo dục hoặc quy hoạch đô thị nói chung, song chưa có công trình nào nghiên cứu một cách toàn diện và có hệ thống mạng lưới trường học phổ thông tại Thành phố Hồ Chí Minh dưới góc độ địa lí dịch vụ, kết hợp công cụ hệ thông tin địa lí (GIS) để định vị từng trường học, phân tích sự tương tác không gian giữa cung - cầu giáo dục và khoảng cách di chuyển thực tế của học sinh.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Về cơ sở lý thuyết, luận án dựa trên các khái niệm và khung lý thuyết sau:
- Khái niệm về khu vực dịch vụ và dịch vụ giáo dục: Xác định việc chuyển đổi phương pháp hạch toán kinh tế tại Việt Nam từ Hệ thống sản phẩm vật chất (MPS) sang Hệ thống tài khoản quốc gia (SNA) từ năm 1993, theo đó giáo dục được thừa nhận là ngành tạo ra giá trị gia tăng trong cơ cấu GDP. Luận án vận dụng phân loại của Hiệp định chung về Thương mại Dịch vụ (GATS/WTO) với 4 phương thức cung ứng (xuyên quốc gia, tiêu dùng ngoài lãnh thổ, hiện diện thương mại, hiện diện thể nhân) và 5 phân ngành giáo dục. Luận án phân biệt dịch vụ công cộng thuần túy (giáo dục bắt buộc, phổ cập do Nhà nước bao cấp hoàn toàn, không có tính loại trừ và cạnh tranh) và dịch vụ công cộng không hoàn hảo (các cấp học cao hơn hoặc cơ sở ngoài công lập).
- Đặc điểm của dịch vụ giáo dục và hành vi người tiêu dùng: Phân tích 5 đặc tính cơ bản của dịch vụ giáo dục gồm tính phi vật thể, tính không thể phân chia (sản xuất và tiêu dùng đồng thời), tính đa tạp trong cảm nhận, sự khó khăn trong định giá và tính không tàng trữ được. Vận dụng mô hình 3 giai đoạn ra quyết định của người sử dụng dịch vụ (trước khi mua, tiêu dùng dịch vụ, đánh giá sau khi mua) và khái niệm thị trường giáo dục theo Nguyễn Khánh Trung (2011).
- Khung pháp lý và quy hoạch mạng lưới: Khảo cứu các quy định trong Luật Giáo dục năm 2005, Luật sửa đổi năm 2009, Luật Giáo dục năm 2019 (về mục tiêu phẩm chất, năng lực, tính liên thông mở, cơ chế trường chất lượng cao và trường tư thục không vì lợi nhuận); Nghị định số 75/2006/NĐ-CP (quy định nội dung quy hoạch mạng lưới gồm cơ cấu hệ thống, phân bố lãnh thổ, đội ngũ nhà giáo và cơ sở vật chất); Nghị quyết số 29-NQ/TW và Thông tư số 32/2018/TT-BGDĐT.
- Các quan điểm nghiên cứu địa lí: 5 quan điểm nền tảng gồm quan điểm tổng hợp; quan điểm lịch sử, viễn cảnh; quan điểm lãnh thổ; quan điểm hệ thống; quan điểm sinh thái và phát triển bền vững.
Về phương pháp nghiên cứu, tác giả kết hợp cả phương pháp định tính và định lượng:
- Phương pháp tổng quan (hồi cứu) tài liệu: Phân tích, tổng hợp các văn bản quy phạm pháp luật, báo cáo thống kê và các công trình khoa học liên quan.
- Phương pháp thống kê: Thu thập số liệu thứ cấp từ Tổng cục Thống kê, Cục Thống kê Thành phố Hồ Chí Minh, số liệu các cuộc Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 1999 và 2009. Dữ liệu khảo sát xã hội học được mã hóa, làm sạch và xử lý thống kê mô tả bằng phần mềm IBM SPSS phiên bản 20.
- Phương pháp bản đồ và hệ thông tin địa lí (GIS): Sử dụng Google Earth và Wikimapia để xác định tọa độ địa lý, kết hợp kiểm chứng thực địa để xây dựng bộ cơ sở dữ liệu địa lí gồm 1.021 đơn vị trường học phổ thông trên toàn thành phố. Cơ sở dữ liệu bao gồm các trường thông tin: Quận/huyện, Phường/xã, Tên trường, Loại hình (Tiểu học, THCS, THPT, liên cấp THCS-THPT, liên cấp TH-THCS-THPT), Kinh độ (Longitude_X), Vĩ độ (Latitude_Y), Ghi chú (Công lập, Ngoài công lập). Sử dụng phần mềm MapInfo phiên bản 10.5, MapInfo 15 và ArcGIS phiên bản 10.1 để thành lập các bản đồ chuyên đề về mạng lưới trường học, bản đồ di cư, bản đồ mật độ dân số và phân tích không gian dịch vụ (location analysis, network analysis, distance function, gravity model).
- Phương pháp thực địa và điều tra xã hội học: Khảo sát thực tế cơ sở trường lớp tại các quận, huyện. Thực hiện điều tra bằng phiếu hỏi bán cấu trúc (kết hợp trực tiếp và khảo sát trực tuyến) trong tháng 4 và tháng 5 năm 2019. Mẫu điều tra khảo sát phụ huynh học sinh (về tiêu chí chọn trường, mức độ hài lòng về chất lượng) và học sinh (về thời gian, cự ly đi học, hoạt động trải nghiệm). Địa bàn điều tra được lựa chọn đại diện cho các vùng quy hoạch mạng lưới trường học theo Quyết định số 02/2003/QĐ-UB của Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
- Phương pháp tham vấn chuyên gia: Phỏng vấn sâu trực tiếp với câu hỏi mở đối với các chuyên gia giáo dục, nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục địa phương về quy hoạch mạng lưới, áp lực học sinh nhập cư và cơ chế tuyển sinh.
- Phương pháp dự báo: Áp dụng mô hình ngoại suy theo hàm xu thế để dự báo nhu cầu học tập và nhu cầu phát triển trường lớp trong giai đoạn 5 - 10 năm tiếp theo dựa trên các giả định về tốc độ đô thị hóa, gia tăng dân số và quy mô lớp học.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1. Cơ sở lý luận và thực tiễn về mạng lưới trường học phổ thông
Chương 1 tập trung làm rõ các vấn đề lý luận về giáo dục phổ thông, bản chất của dịch vụ giáo dục và quy hoạch mạng lưới trường học trong nền kinh tế thị trường. Luận án phân tích sự thay đổi cơ chế quản lý từ nền kinh tế kế hoạch hóa sang cơ chế thị trường, phân định rõ vai trò chủ đạo của Nhà nước trong dịch vụ giáo dục công lập và vai trò bổ trợ của các cơ sở ngoài công lập.
Văn bản luận án cung cấp số liệu thống kê chứng minh vị trí và tỷ trọng của ngành giáo dục - đào tạo trong nền kinh tế quốc dân giai đoạn 2005 - 2017:
| Chỉ tiêu thống kê |
2005 |
2010 |
2015 |
2017 (Sơ bộ) |
| Tỷ trọng dịch vụ trong cơ cấu GDP (%) |
42,56 |
36,96 |
39,74 |
41,26 |
| Tỷ trọng của GD-ĐT trong cơ cấu GDP (%) |
2,95 |
2,33 |
3,26 |
3,55 |
| Tỷ trọng của GD-ĐT trong cơ cấu dịch vụ (%) |
6,93 |
6,30 |
8,20 |
8,60 |
| Tỷ trọng lao động dịch vụ trong toàn bộ lực lượng lao động (%) |
27,1 |
29,5 |
33,1 |
34,1 |
| Tỷ trọng lao động GD-ĐT trong toàn bộ lực lượng lao động (%) |
2,9 |
3,4 |
3,6 |
3,8 |
| Tỷ trọng lao động GD-ĐT trong khu vực dịch vụ (%) |
10,70 |
11,53 |
10,88 |
11,14 |
Theo số liệu trích dẫn từ Khảo sát mức sống dân cư năm 2016, hệ thống trường công lập vẫn chiếm 95,9% tổng số người theo học trên toàn quốc, trong khi trường ngoài công lập ở khu vực thành thị chiếm 8,4%. Chương này cũng chuẩn hóa các chỉ tiêu thống kê đánh giá tiếp cận dịch vụ, kết quả giáo dục, quy mô và chất lượng trường lớp áp dụng cho cấp tỉnh/thành phố.
Chương 2. Các nhân tố ảnh hưởng và thực trạng mạng lưới trường học phổ thông ở Thành phố Hồ Chí Minh
Chương 2 trình bày kết quả phân tích các nhân tố tự nhiên, kinh tế, xã hội và thực trạng hệ thống giáo dục phổ thông trên địa bàn thành phố:
- Tác động của đô thị hóa và di cư: Thành phố Hồ Chí Minh có sự phân hóa không gian dân cư rõ rệt. Dữ liệu từ các cuộc điều tra dân số năm 1999 và 2009 cho thấy luồng nhập cư tạo ra những "điểm nóng" chịu áp lực lớn về trường lớp. Luận án xác định các phường/xã có tỷ lệ trẻ em nhập cư chiếm trên 30% tổng số trẻ trong độ tuổi đi học ở tất cả các cấp học. Sự gia tăng dân số cơ học tập trung cao tại các quận ven và huyện ngoại thành đang đô thị hóa mạnh mẽ (như quận Bình Tân, Quận 12, huyện Bình Chánh), gây quá tải trầm trọng cho hệ thống trường công lập.
- Thực trạng phát triển giáo dục phổ thông: Luận án phân tích số liệu về tỷ lệ đi học đúng tuổi phân theo cấp học, tình trạng di cư và giới tính; tỷ lệ lưu ban, bỏ học; học phí và khả năng chi trả của người dân. Chỉ tiêu sĩ số học sinh bình quân trên một lớp học và số học sinh bình quân trên một giáo viên phản ánh áp lực lớn. Sĩ số học sinh/lớp tại nhiều quận huyện vượt quá quy định điều lệ trường học (đặc biệt ở cấp tiểu học), làm giảm tỷ lệ học sinh được học 2 buổi/ngày.
- Phân tích không gian mạng lưới 1.021 trường phổ thông: Trên cơ sở cơ sở dữ liệu GIS, tác giả thành lập bản đồ mạng lưới trường tiểu học, trung học cơ sở và trung học phổ thông. Kết quả chỉ ra sự phân bố mất cân đối giữa khu vực nội thành cũ và các khu vực đô thị hóa mới. Tại các quận trung tâm, mật độ trường học dày đặc nhưng diện tích sân chơi, bãi tập hạn chế; ngược lại, tại các quận vùng ven, bán kính phục vụ của trường học bị kéo giãn, quỹ đất giáo dục chưa được giải phóng mặt bằng theo đúng quy hoạch được duyệt (theo Quyết định số 02/2003/QĐ-UB của Ủy ban nhân dân thành phố).
- Khảo sát di chuyển và ý kiến phụ huynh: Dữ liệu thực tế phân tích thời gian trung bình đi học và đoạn đường trung bình học sinh tiểu học di chuyển từ nhà đến trường tại các quận, huyện trong năm học 2017 - 2018 (với trường hợp khảo sát cụ thể tại quận Phú Nhuận). Kết quả điều tra xã hội học cung cấp số liệu mô tả thái độ của phụ huynh đối với điều kiện cơ sở vật chất, mức độ hài lòng về chất lượng dịch vụ giáo dục và tâm lý chọn trường.
Chương 3. Đề xuất giải pháp tổ chức hợp lý mạng lưới trường học phổ thông ở Thành phố Hồ Chí Minh
Chương 3 xây dựng các giải pháp dựa trên khung pháp quy (Nghị quyết 29-NQ/TW, Luật Giáo dục 2019, Công văn số 2449/BGDĐT-GDTH), định hướng phát triển giáo dục thành phố đến năm 2030 (theo văn bản chỉ đạo của lãnh đạo thành phố ngày 7/8/2018), cơ chế đặc thù và định hướng phân luồng nghề nghiệp sau trung học cơ sở.
Tác giả đề xuất 6 nhóm giải pháp:
- Nhóm giải pháp liên quan đến vấn đề dân số: Kiểm soát biến động dân cư cơ học, dự báo chính xác số trẻ trong độ tuổi đến trường ở từng phường, xã để chủ động kế hoạch tuyển sinh.
- Nhóm giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục phổ thông: Chuẩn hóa cơ sở vật chất trường học, xây dựng phòng học thông minh, nhà thể chất, bảo đảm các điều kiện dạy học 2 buổi/ngày theo chương trình giáo dục phổ thông mới.
- Nhóm giải pháp phát huy nguồn "vốn xã hội" trong giáo dục: Tăng cường liên kết giữa nhà trường, gia đình và cộng đồng xung quanh trường học; huy động nguồn lực xã hội hóa minh bạch để đầu tư hạ tầng giáo dục.
- Nhóm giải pháp tổ chức hợp lý mạng lưới trường học gắn với chính sách quy hoạch vùng: Dành quỹ đất sạch cho giáo dục tại các khu đô thị mới, khu chế xuất, khu công nghiệp; điều chỉnh chỉ giới quy hoạch trường học phù hợp với mật độ dân cư thực tế.
- Nhóm giải pháp tổ chức mạng lưới trường học về mặt xã hội: Điều chỉnh địa bàn tuyển sinh linh hoạt để giảm tải cho các trường điểm, bảo đảm công bằng trong tiếp cận dịch vụ giáo dục cơ bản cho con em người nhập cư.
- Nhóm giải pháp khi học sinh phân hóa cao theo hướng học nghề: Tổ chức sắp xếp lại các trường trung học phổ thông kết hợp với các cơ sở giáo dục nghề nghiệp, đa dạng hóa loại hình trường liên cấp để thực hiện hiệu quả phân luồng học sinh sau lớp 9.
Kết quả và những đóng góp mới
Các đóng góp mới về mặt khoa học và thực tiễn của luận án gồm:
- Về lý luận: Luận án vận dụng quan điểm địa lí dịch vụ, kinh tế học giáo dục và lý thuyết mạng lưới xã hội vào nghiên cứu trường học phổ thông tại một đô thị đặc biệt; xác lập hệ thống các chỉ tiêu thống kê và tiêu chí không gian để đánh giá sự phân bố hợp lý và khả năng thích ứng của mạng lưới trường học cấp tỉnh, thành phố.
- Về thực tiễn:
- Xây dựng hoàn chỉnh bộ cơ sở dữ liệu địa lí thuộc tính và không gian của 1.021 đơn vị trường học phổ thông trên địa bàn 24 quận, huyện Thành phố Hồ Chí Minh, được định vị tọa độ địa lý cụ thể.
- Thành lập hệ thống bản đồ chuyên đề chi tiết phản ánh phân bố không gian trường lớp theo từng cấp học, các bản đồ mật độ dân số, biến động di cư và xác định các "điểm nóng" chịu sức ép lớn của trẻ nhập cư trong độ tuổi đi học.
- Phân tích thực nghiệm về cự ly di chuyển từ nhà đến trường của học sinh tiểu học và mức độ hài lòng của phụ huynh, chỉ ra những bất hợp lý trong phân tuyến tuyển sinh và quy hoạch sử dụng đất dành cho giáo dục.
- Đưa ra dự báo khoa học và hệ thống giải pháp tổ chức lại mạng lưới trường học thích ứng với các biến đổi dân số, cơ chế đặc thù và yêu cầu đổi mới chương trình giáo dục phổ thông.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Về hạn chế: Văn bản luận án chỉ rõ nghiên cứu điều tra xã hội học không nhằm mục đích suy rộng cho toàn bộ tổng thể mà tập trung vào các địa bàn mang tính đại diện theo phân vùng quy hoạch. Mặt khác, nguồn dữ liệu di cư chi tiết đến cấp xã/phường có sự phụ thuộc vào chu kỳ của các cuộc Tổng điều tra dân số và nhà ở quốc gia (1999, 2009), do các nguồn số liệu thống kê thường niên ở cấp cơ sở chưa cập nhật đầy đủ các biến động vi mô. Mô hình dự báo nhu cầu trường lớp được xây dựng dựa trên một số giả định ngoại suy theo xu thế phát triển ổn định mà chưa tính hết các biến động bất thường về kinh tế - xã hội.
Về hướng nghiên cứu tiếp: Tiếp tục cập nhật cơ sở dữ liệu mạng lưới trường học với số liệu của cuộc Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2019; ứng dụng các mô hình không gian nâng cao trong GIS để mô phỏng sự tương tác giữa giao thông đô thị và việc phân luồng tuyển sinh; nghiên cứu sâu hơn về mạng lưới các trường tư thục, trường liên cấp và tác động của phương thức dạy học trực tuyến đối với cấu trúc không gian trường học.
Giá trị tham khảo
Luận án có giá trị tham khảo thiết thực cho nhiều nhóm đối tượng:
- Cơ quan quản lý nhà nước về giáo dục: Sở Giáo dục và Đào tạo Thành phố Hồ Chí Minh và Phòng Giáo dục và Đào tạo các quận, huyện có thể sử dụng cơ sở dữ liệu 1.021 trường học và phương pháp phân tích khoảng cách di chuyển để điều chỉnh ranh giới tuyển sinh, phân bổ chỉ tiêu lớp học và đầu tư cơ sở vật chất.
- Cơ quan quy hoạch và quản lý đô thị: Sở Quy hoạch - Kiến trúc, Viện Nghiên cứu phát triển và Ủy ban nhân dân các quận, huyện có thể tham khảo phương pháp luận và các kết quả phân tích về quỹ đất giáo dục, tương quan giữa gia tăng cơ học dân số và hạ tầng dịch vụ công để xây dựng, điều chỉnh quy hoạch đô thị.
- Giới nghiên cứu và đào tạo: Nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên chuyên ngành Địa lí kinh tế - xã hội, Quản lý giáo dục, Quy hoạch đô thị có thể tham khảo khung phân tích kết hợp giữa lý thuyết dịch vụ, kỹ thuật phân tích không gian GIS và phương pháp điều tra xã hội học.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án xây dựng cơ sở dữ liệu địa lí cho bao nhiêu trường học và gồm các thông tin thuộc tính nào?
Luận án đã thu thập, định vị tọa độ và xây dựng cơ sở dữ liệu địa lí cho 1.021 đơn vị trường học phổ thông trên toàn địa bàn 24 quận, huyện Thành phố Hồ Chí Minh. Các trường dữ liệu bao gồm: Quận/huyện; Phường/xã; Tên trường; Loại hình (Tiểu học, THCS, THPT, liên cấp THCS-THPT, liên cấp TH-THCS-THPT); Tọa độ địa lý (Kinh độ Longitude_X, Vĩ độ Latitude_Y); và Ghi chú phân loại (Công lập, Ngoài công lập).
2. Tỷ trọng của ngành giáo dục - đào tạo trong cơ cấu kinh tế Việt Nam giai đoạn 2005 - 2017 được luận án trình bày như thế nào?
Theo bảng số liệu tổng hợp trong Chương 1 của luận án (tính toán từ cơ sở dữ liệu của Tổng cục Thống kê), tỷ trọng ngành giáo dục - đào tạo trong cơ cấu GDP tăng từ 2,95% năm 2005 lên 3,55% năm 2017 (tương ứng chiếm từ 6,93% lên 8,60% giá trị tăng thêm của khu vực dịch vụ). Lao động ngành giáo dục - đào tạo chiếm 3,8% tổng lực lượng lao động cả nước và chiếm 11,14% lao động của toàn khu vực dịch vụ vào năm 2017.
3. Sức ép của dòng người nhập cư lên mạng lưới trường học được nhận diện qua tiêu chí nào?
Luận án sử dụng dữ liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 1999 và 2009 để xác lập tiêu chí các "điểm nóng": đó là các phường/xã có tỷ lệ trẻ em nhập cư chiếm trên 30% tổng số trẻ trong độ tuổi đi học ở tất cả các cấp học. Các khu vực này chịu áp lực quá tải cục bộ về phòng học và sĩ số lớp học, tập trung chủ yếu tại các địa bàn ven nội thành và các huyện đang đô thị hóa nhanh.
4. Luận án đã sử dụng những phần mềm chuyên dụng nào để xử lý số liệu và thành lập bản đồ?
Để phục vụ phân tích đa chiều, tác giả đã sử dụng phần mềm IBM SPSS phiên bản 20 để làm sạch và xử lý các số liệu thống kê xã hội học từ phiếu điều tra phụ huynh, học sinh. Về phân tích không gian và bản đồ, tác giả sử dụng phần mềm MapInfo phiên bản 10.5 và phiên bản 15 kết hợp với ArcGIS phiên bản 10.1 để thành lập hệ thống bản đồ chuyên đề từ cơ sở dữ liệu tọa độ xác định qua Google Earth và Wikimapia.
5. Mục tiêu phát triển giáo dục Thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2030 được tác giả dẫn chứng từ văn bản nào?
Tác giả dẫn lời phát biểu của Phó Chủ tịch Thường trực Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh Lê Thanh Liêm tại buổi làm việc ngày 7/8/2018 với Đoàn công tác Trung ương: Thành phố xác định giáo dục và đào tạo là động lực quan trọng để phát triển bền vững; phấn đấu đến năm 2030, hệ thống giáo dục thành phố được chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, hội nhập quốc tế, đưa thành phố trở thành trung tâm giáo dục và đào tạo chất lượng cao của cả nước và khu vực Đông Nam Á.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của Đinh Thị Thùy Dung là công trình nghiên cứu chuyên sâu về mạng lưới trường học phổ thông tại Thành phố Hồ Chí Minh dưới giác độ địa lí học kinh tế - xã hội và địa lí dịch vụ. Bằng việc kết hợp chặt chẽ giữa phân tích thống kê kinh tế, điều tra xã hội học và công nghệ hệ thông tin địa lí (GIS) trên bộ dữ liệu 1.021 trường học, tác giả đã làm rõ thực trạng phân bố không gian cũng như những bất cập về sĩ số, cự ly đi học dưới sức ép của đô thị hóa và di cư. Kết quả nghiên cứu cung cấp hệ thống luận cứ khoa học thực tiễn vững chắc, trực tiếp phục vụ công tác quy hoạch, sắp xếp mạng lưới trường học của thành phố trong giai đoạn phát triển mới.