Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ GIÁO DỤC HƯỚNG NGHIỆP 1.1 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu Vấn đề GDHN và định hướng nghề nghiệp cho HS đã được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm đến. Những nghiên cứu về GDHN và định hướng nghề nghiệp cho HS trên thế giới và Việt Nam góp phần là tiền đề giúp định hướng và phát triển cơ sở lý luận cho đề tài nghiên cứu.1 Nước ngoài Tại Mỹ, theo Borow, hướng nghiệp cho người học có thể khởi đầu từ cuộc diễn thuyết của nhà tâm lý học Jesse Davis vào năm 1898 tại Trường Trung học Trung tâm Detroit, nhằm giúp sinh viên có yêu cầu trợ giúp tâm lý và định hướng nghề nghiệp. Mốc đánh dấu khác có thể là bài phát biểu vào năm 1899 của chủ tịch đầu tiên của Đại học Chicago, William Harper, thông báo về sự xuất hiện của nhiều chuyên gia cần thiết trong hướng dẫn giáo dục ở cấp đại học. Cũng theo Borow, “Chọn một nghề nghiệp” – là tạp chí đầu tiên trên thế giới dành cho chủ đề này được Eli Weaver xuất bản vào năm 1906 [40].
Năm 1909, Frank Parsons [44] với tác phẩm “Lựa chọn nghề nghiệp” (Choosing a Vocation) đã đề cập khá đầy đủ về những vấn đề liên quan đến việc hướng nghiệp như: phương pháp và nguyên tắc hướng nghiệp, vai trò của người tư vấn, giới thiệu về một số ngành nghề, cơ sở vật chất cho công tác hướng nghiệp,… Trong đó, tác giả cũng chỉ ra hướng nghiệp cho HS cần dựa trên năng lực, năng khiếu, hứng thú, sở thích của cá nhân. Đây cũng được coi là một tác phẩm tiên phong trong lĩnh vực GDHN và được nhiều tác giả tham khảo trong nhiều nghiên cứu sau này. Khu vực châu Âu, vào giữa những năm 1950, tất cả các trường đại học đều có dịch vụ hướng nghiệp, cung cấp các cuộc phỏng vấn tư vấn, thông tin về nghề 7 nghiệp, người sử dụng lao động và việc làm (UGC, 1964). Ở các trường học, giáo viên dạy nghề đã được đề cập đến từ cuối thập niên 1920, và đến những năm 1960 đã được bổ nhiệm rộng rãi: nhiệm vụ của họ bao gồm quản lý thông tin và cung cấp các cơ sở và các hỗ trợ cho nghề nghiệp của thanh thiếu niên (Daws, 1972).
Vào những năm 1960 và đầu những năm 1970, dịch vụ hướng nghiệp đã bắt đầu phát triển một cách nhanh chóng và rộng rãi hơn. Sự phát triển của các dịch vụ giáo dục và nghề nghiệp đã mở rộng phạm vi lựa chọn cho nhiều thanh thiếu niên, và nhu cầu giúp đỡ trong việc đưa ra những lựa chọn tăng lên [38]. Tại Nhật Bản, quá trình phát triển của giáo dục nghề nghiệp tới nay gồm ba giai đoạn: Giai đoạn đầu là Giáo dục dạy nghề vào năm 1915, giai đoạn hai là Hướng nghiệp nghề nghiệp vào năm 1957, và giai đoạn thứ ba là Giáo dục nghề nghiệp vào năm 1999. Ba giai đoạn này là một sự chuyển biến của nền giáo dục nghề nghiệp hiện nay.
Mỗi giai đoạn xuất hiện vào thời điểm khi có một sự thay đổi mô hình giáo dục Nhật Bản [50]. Bên cạnh đó, tác giả Yuki Mochizuki [52] cho rằng việc xây dựng hệ thống GDHN tại Nhật chủ yếu dựa trên nền tảng xã hội và đang có sự thay đổi dần theo hướng tăng cường năng lực tự hướng nghiệp cho HS. Những nghiên cứu về GDHN cho HS gần đây cho thấy cần có sự thay đổi về lý thuyết và thực tiễn trong các dịch vụ giáo dục hướng nghiệp để thích ứng với những thay đổi của kinh tế thế giới và thực tế từng quốc gia. Tony Watts [51] trong diễn đàn Dusseldorp Skills bàn về “Giáo dục hướng nghiệp trong thiên niên kỷ tới” cho rằng cần xây dựng các mối liên kết mạnh mẽ hơn với các nguồn bên ngoài trường; và xây dựng các kết nối chặt chẽ hơn với chương trình nghị sự quốc gia về nghề nghiệp.
và McMahon, Mary L. [47] trong bài viết “Quan điểm lý thuyết và thực tiễn về tương lai của giáo dục hướng nghiệp ở Úc” năm 2002 (Theoretical and practical perspectives for the future of educational and vocational guidance in Australia) nhấn mạnh mối quan hệ giữa sự phát triển của xã hội và việc giáo dục hướng nghiệp. Các hoạt động GDHN cần giúp HS tăng cường quyết định của chính cá nhân dựa trên sự hiểu biết của HS về khả năng, kỹ năng, sở thích và giá trị của mình. Manwel Debono và các cộng sự [46] trong “Chính sách và chiến 8 lược giáo dục hướng nghiệp trong giáo dục bắt buộc tại Malta” xuất bản năm 2007 (A Career Guidance Policy and Strategy for Compulsory Schooling in Malta) cũng cho rằng: Trong hệ thống giáo dục, nên xây dựng một hệ thống mới cho các chuyên gia về GDHN cụ thể: ở bậc ĐH, CĐ cần có các Điều phối viên nghề nghiệp hỗ trợ các trường học, ở các bậc phổ thông, phải có Cố vấn Hướng nghiệp để tổ chức các hoạt động GDHN.
Bên cạnh đó, cần có Trung tâm hướng dẫn nghề nghiệp quốc gia (NCGC) chịu trách nhiệm duy trì và giám sát các dịch vụ hướng dẫn nghề nghiệp và cần có Hệ thống Đánh giá Chất lượng (QAS) để đánh giá hiệu quả của các chương trình GDHN. Để đạt được mục tiêu này, cần có đủ năng lực và đội ngũ nhân viên giàu kinh nghiệm có năng lực chuyên môn. Giáo dục nghề nghiệp - Cần có một chương trình giáo dục nghề nghiệp toàn diện bắt đầu từ thời thơ ấu và tiếp tục trong suốt cuộc đời. Việc giáo dục nghề nghiệp nên được thực hiện ở tất cả các trường tiểu học và trung học.
Ở một khía cạnh khác, Sesegma Kimova, Biligma Budaeva & Soelma Dagbaeva [49] cho rằng cần chuẩn bị cho học sinh phát triển sự nghiệp và nghề nghiệp, việc đặt ra các mục đích và xác định các bước để đạt được thông qua các nguồn lực sẵn có giúp hình thành các khả năng của chính HS. Công việc GDHN ở trường trung học có tính chất truyền thống (giờ học, họp phụ huynh, vv) và cần thiết phải áp dụng thêm những công nghệ hiện đại vào. Đồng thời, trong quy hoạch nghề nghiệp, cần tập trung không chỉ vào trình độ học vấn mà còn về phạm vi áp dụng kiến thức và kỹ năng của HS. Còn Prince Dabula and Alfred Henry Makura [48] trong nghiên cứu của mình nhận thấy: những HS được tham gia vào các chương trình hướng nghiệp cảm thấy tự tin hơn khi tiếp tục học ở bậc cao hơn.
GDHN có ảnh hưởng tích cực đối với mong muốn của HS khi học đại học. Nếu có nhiều HS nhận được các hướng dẫn nghề nghiệp thích hợp trong khi ở trường trung học, các em sẽ có nhiều thông tin lựa chọn về nghề nghiệp và có ý nghĩa cho việc tham gia vào giáo dục đại học. Vấn đề GDHN cho HS là một mối quan tâm của nhiều quốc gia trong bối cảnh nhiều thay đổi hiện nay. Các nghiên cứu cho thấy, GDHN cần có sự thay đổi 9 để thích ứng với thực tế cuộc sống và tình hình quốc gia và thế giới.
GDHN cần tạo cho HS sự thích ứng với thế giới nghề nghiệp đa dạng hiện nay thông qua việc cung cấp đầy đủ kiến thức hướng nghiệp cho HS.2 Trong nước Vấn đề GDHN trong nhà trường phổ thông đã được nhà nước quan tâm từ rất sớm, Quyết định 126-CP ngày 19 tháng 3 năm 1981 về “Công tác hướng nghiệp trong nhà trường phổ thông và việc sử dụng hợp lý học sinh các cấp phổ thông cơ sở và phổ thông trung học tốt nghiệp ra trường” của Hội đồng Chính phủ đã được ban hành. Trong đó nêu rõ vai trò, vị trí, nhiệm vụ công tác hướng nghiệp ở trường phổ thông và phân công cụ thể chính quyền các cấp, các ngành kinh tế, văn hoá từ trung ương đến địa phương có nhiệm vụ tạo mọi điều kiện thuận lợi trực tiếp giúp đỡ các trường phổ thông trong việc đào tạo, sử dụng hợp lý và tiếp tục bồi dưỡng học sinh phổ thông sau khi ra trường. Từ đó đến nay, nhiều công trình nghiên cứu, bài báo của các tác giả về công tác GDHN cũng đã được thực hiện nhằm nêu lên thực trạng công tác GDHN và đề xuất những giả pháp giúp nâng cao hiệu quả công tác GDHN ở nước ta trong thời gian qua: Về chiến lược tổ chức hoạt động GDHN, tác giả Phạm Tất Dong [9] trong nghiên cứu “Đề xuất một số giải pháp cụ thể về công tác hướng nghiệp trong giai đoạn 2005-2010” (2006) đã đưa ra một số đề xuất: cần có chương trình hướng nghiệp cho các bậc học từ tiểu học đến THPT; cần tập huấn cho GV dạy môn Công nghệ về công tác HN, đưa nội dung hướng nghiệp vào chương trình đào tạo GV dạy môn Công nghệ; đổi mới phương pháp HN trong các giờ sinh hoạt HN; hướng dẫn phụ huynh giúp con cái chọn nghề; đưa xã hội hoá vào công tác hướng nghiệp. Bên cạnh đó, tác giả Đặng Danh Ánh [1] cho rằng cần đặt đúng vị trí của tư vấn hướng học và tư vấn hướng nghiệp trong trường phổ thông.
Tác giả Nguyễn Toàn [33] trong “Nghiên cứu một số giải pháp khả thi trong việc ứng dụng triển khai công tác tư vấn hướng nghiệp cho học sinh phổ thông cấp 2, 3 ở thành phố Hồ Chí Minh - Tư vấn hướng nghiệp. Thực trạng và giải pháp” (1998) đưa ra kiến nghị: ngành giáo dục cần phải định hướng các em thông qua công tác tư vấn hướng nghiệp, dựa vào 10 cơ sở khoa học của việc xác định các yêu cầu nghề nghiệp và các trắc nghiệm tư vấn hướng nghiệp. Đồng thời, các tác giả cũng đưa ra những biện pháp mang tính thực tiễn nhằm giải quyết tốt việc hướng nghiệp chọn nghề cho học sinh hiện nay. Về thực trạng công tác GDHN hiện nay, nhiều nghiên cứu đã được tiến hành.
Tác giả Phùng Đình Dụng [10] trong nghiên cứu “Thực trạng GDHN cho HS lớp 9 vùng đồng bằng sông Cửu Long” (2014) cho thấy đa số HS cho rằng hình thức GDHN qua hoạt động dạy nghề chưa mang lại hiệu quả, việc lồng ghép thông tin nghề trong việc giảng dạy bộ môn còn ít và chưa phong phú. Các nghiên cứu của tác giả Huỳnh Văn Sơn [26], [27] về GDHN cho HS trung học tại tỉnh Bình Dương cũng cho thấy công tác GDHN hiện nay còn tồn tại nhiều hạn chế: phần lớn học sinh trung học cơ sở (THCS) và THPT sẽ tiếp tục học để thi tuyển vào các trường đại học, cao đẳng hoặc trung học chuyên nghiệp; Việc học nghề đối với HS còn mơ hồ, chưa cụ thể. Học sinh cuối cấp THCS và học sinh THPT ít khi được tham gia công tác hướng nghiệp tại nhà trường, hiệu quả của các hoạt động hướng nghiệp chỉ đạt mức trung bình và chưa đáp ứng nguyện vọng của HS.