Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 1. Văn hóa Khái niệm văn hóa được đề cập rất nhiều trong học thuật cũng như trong thực tế đời sống hiện nay. Kroeber và Kluckhohn xuất bản quyển sách Culture, a critical review of concept and definitions (Văn hóa, điểm lại bằng cái nhìn phê phán các khái niệm và định nghĩa), trong đó, tác giả đã trích lục khoảng 160 định nghĩa về văn hóa do các nhà khoa học đưa ra ở nhiều nước khác nhau. Định nghĩa văn hóa đầu tiên được chấp nhận rộng rãi là định nghĩa do nhà nhân chủng học E.Tylor năm 1871 đưa ra: “Văn hóa hay văn minh, theo nghĩa rộng về tộc người học, nói chung gồm có tri thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, tập quán và một số năng lực và thói quen khác được con người chiếm lĩnh với tư cách một thành viên của xã hội” [25, tr.Tylor, chúng ta có thể hiểu: văn hóa là toàn bộ phức hợp những ứng xử, giá trị và những thành tựu con người như một thành viên xã hội lịch sử trong các mối quan hệ với thế giới tự nhiên, quần thể cộng đồng và bản ngã tâm linh, nói một cách ngắn gọn: Văn hóa là sự phản ứng và cách cư xử chung của cộng đồng trước thiên nhiên và xã hội.
Có một định nghĩa khác tiếp cận gần hơn đến bản chất của văn hóa là định nghĩa của ông Frederico Mayyor – Tổng giám đốc UNESCO: “Văn hóa bao gồm tất cả những gì làm cho dân tộc này khác với dân tộc khác, từ những sản phẩm tinh vi, hiện đại nhất cho đến tín ngưỡng, phong tục, tập quán, lối sống và lao động” [30, tr. Ở Việt Nam, có nhiều định nghĩa về văn hóa rất khác nhau. Hồ Chí Minh cho rằng: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài 9 người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về mặt ăn, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa” [9, tr.
Với cách hiểu này, văn hóa sẽ bao gồm toàn bộ những gì do con người sáng tạo và phát minh ra. Cũng giống như định nghĩa của Tylor, văn hóa theo cách nói của Hồ Chí Minh sẽ là một “bách khoa toàn thư” về những lĩnh vực liên quan đến đời sống con người. Cố thủ tướng Phạm Văn Đồng cho rằng “Nói tới văn hóa là nói tới một lĩnh vực vô cùng phong phú và rộng lớn, bao gồm tất cả những gì không phải là thiên nhiên mà có liên quan đến con người trong suốt quá trình tồn tại, phát triển, quá trình con người làm nên lịch sử… (văn hóa) bao gồm cả hệ thống giá trị: tư tưởng và tình cảm, đạo đức với phẩm chất, trí tuệ và tài năng, sự nhạy cảm và sự tiếp thu cái mới từ bên ngoài, ý thức bảo vệ tài sản và bản lĩnh của cộng đồng dân tộc, sức đề kháng và sức chiến đấu bảo vệ mình và không ngừng lớn mạnh” [20, tr. Theo định nghĩa này thì văn hóa là những cái gì đối lập với thiên nhiên và do con người sáng tạo nên từ tư tưởng tình cảm đến ý thức tình cảm và sức đề kháng của mỗi người, mỗi dân tộc.
Theo một các tiếp cận khác của GS Phan Ngọc trong cuốn Bản sắc văn hóa Việt Nam thì “văn hóa là mối quan hệ giữa thế giới biểu tượng trong óc một cá nhân hay một tộc người với cái thế giới thực tại ít nhiều đã bị cá nhân này hay tộc người này mô hình hóa theo cái mô hình tồn tại trong biểu tượng. Điều biểu hiện rõ nhất chứng tỏ mối quan hệ này, đó là văn hóa dưới hình thức dễ thấy nhất, biểu hiện thành một kiểu lựa chọn riêng của cá nhân hay tộc người, khác các kiểu lựa chọn của cá nhân khác, tộc người khác [11, tr. 10 Tóm lại, mặc dù văn hoá có rất nhiều quan niệm, tuy nhiên, các quan niệm đều có chung nhận định: văn hóa là tất cả những giá trị tinh thần và vật chất mà con người đã sáng tạo ra trong quá trình lịch sử của mình, là cái biểu hiện trình độ của xã hội trong một giai đoạn lịch sử nhất định, là dòng chảy liên tục kết nối quá khứ, hiện tại và tương lai. Bản chất của văn hóa là quá trình chuẩn mực hóa nhu cầu con người từ những hình ảnh, biểu tượng, ngôn ngữ để xây dựng nên mối quan hệ giữa con người với nhau: cha con, vợ chồng, anh em, làng xóm, bạn bè,… thông qua sự giao tiếp và đặc biệt là ứng xử, bản chất con người được hình thành rõ nét và đây cũng chính là cơ sở, là cái nôi để hình thành nên văn hóa.2 Tổ chức Thuật ngữ “tổ chức” được nhiều ngành khoa học sử dụng với nhiều ý nghĩa khác nhau.
Ngành triết học xem “Tổ chức, nói rộng ra là cơ cấu tồn tại của sự vật. Sự vật không thể tồn tại mà không có một hình thức liên kết nhất định các yếu tố thuộc nội dung. Tổ chức vì vậy là thuộc tính của bản thân các sự vật” [8, tr. Nhân loại học khẳng định, từ khi xuất hiện loài người, tổ chức xã hội loài người cũng đồng thời xuất hiện.
Tổ chức ấy không ngừng hoàn thiện và phát triển cùng với sự phát triển của nhân loại. Theo đó, tổ chức là một tập thể của con người tập hợp nhau lại để thực hiện một nhiệm vụ chung hoặc nhằm đạt tới một mục tiêu xác định của tập thể đó. Lĩnh vực y học cho rằng trong sinh vật đơn bào, các tế bào đơn lẻ thực hiện tất cả các chức năng sống, nó hoạt động một cách độc lập. Còn sinh vật đa bào có mức độ khác nhau của tổ chức cơ thể chúng.
Các tế bào cá nhân có thể thực hiện chức năng cụ thể và cùng làm việc với nhau vì lợi ích của toàn bộ cơ thể, các tế bào trở nên phụ thuộc vào nhau. 11 Và ở những chuyên ngành khoa học có giao thoa về đối tượng, phạm vi nghiên cứu cũng có những khía cạnh khác nhau về tổ chức, cụ thể là: Trong cuốn “Sổ tay nghiệp vụ cán bộ làm công tác tổ chức nhà nước”, thì “Tổ chức là một đơn vị xã hội, được điều phối một cách có ý thức, có phạm vi tương đối rõ ràng, hoạt động nhằm đạt được một hoặc nhiều mục tiêu chung (của tổ chức) [9, tr. Theo khoa học luật dân sự thì tổ chức là các chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự. Theo quy định tại Điều 84 Bộ luật Dân sự thì một tổ chức được công nhận là pháp nhân khi có đủ các điều kiện sau: Được thành lập hợp pháp; có cơ cấu tổ chức chặt chẽ; có tài sản độc lập với cá nhân và tổ chức khác và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản đó.
Ngoài ra, trên phương diện ngôn ngữ, tùy theo ngữ cảnh, tính chất, yêu cầu, mục đích, thay thế thuật ngữ “tổ chức” là các tên gọi như: cơ quan, đơn vị, công ty, hội… Tóm lại, có rất nhiều khái niệm khác nhau về tổ chức nhưng tựu trung lại, thì: tổ chức là tập hợp của con người trong xã hội có phạm vi, chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền và cơ cấu xác định, được hình thành và hoạt động theo những nguyên tắc nhất định phù hợp với quy định của pháp luật nhằm gắn kết con người với nhau bởi những mục đích xác định và hành động để đạt đến mục đích chung.3 Văn hóa tổ chức Khái niệm “văn hóa tổ chức” (Orgnization cultural) được tích hợp từ hai khái niệm “văn hóa” và “tổ chức”. Tuy nhiên đến nay cách hiểu về cụm từ “văn hoá tổ chức” có nhiều cách hiểu khác nhau. Dưới đây là một số cách tiếp cận phổ biến: Theo Eldrige và Crombie (1974): khi nói đến văn hóa tổ chức hay văn hóa của 1 tổ chức là nói đến các tiêu chuẩn, giá trị, tín ngưỡng, cách đối 12 xử. được thể hiện qua việc các thành viên liên kết với nhau để làm việc.
Đặc trưng của một tổ chức cụ thể nào đó được thể hiện ở lịch sử của nó với những ảnh hưởng của hệ thống cũ, lãnh đạo cũ trong việc xây dựng con người. Điều đó chứng tỏ ở việc đi theo thói quen, luật lệ, hệ tư tưởng cũ và mới cũng như sự lựa chọn chiến lược cho tổ chức. Theo Louis (1980): văn hóa tổ chức là tập hợp hệ thống các quan niệm chung của các thành viên trong tổ chức. Những quan niệm này được phần lớn các thành viên ngầm định trong nhận thức, hành vi ứng xử và chỉ thíc hợp trong tổ chức riêng của họ, các quan niệm này được truyền cho các thành viên mới.
Theo Tunstall (1983): văn hóa tổ chức có thể được mô tả như một tập hợp chung các tín ngưỡng, thông lệ, hệ thống giá trị, quy chuẩn hành vi ứng xử của các thành viên trong tổ chức đó. Theo Farmar (1990): văn hóa tổ chức được hiểu là tổng của các quan niệm, niềm tin, giá trị - những yếu tố mà các thành viên của tổ chức chia sẻ, chuyển tải thông qua: "Làm cái gì? Làm như thế nào? và Ai làm?". Theo tác giả Bùi Anh Tuấn, trong giáo trình Hành vi tổ chức thì văn hóa tổ chức thể hiện qua các cấp độ sau : - Các vật thể hữu hình: cách thức bố trí và trang trí nơi làm việc, các biểu tượng vật chất, trang phục của nhân viên, điều kiện, môi trường làm việc. - Các giá trị được tuyên bố: qua phong cách giao tiếp, ứng xử của người lao động trong tổ chức, qua triết lý kinh doanh của doanh nghiệp, phong cách lãnh đạo.
Tóm lại, những định nghĩa trên tạo nên quan niệm về văn hóa tổ chức mà trong thực tế được biểu đạt gắn với từng loại hình thể chế nghề nghiệp như: sản xuất - kinh doanh, hành chính, giáo dục - đào tạo. Từ các định 13 nghĩa nêu trên có thể đưa ra quan niệm chung nhất về văn hóa tổ chức, đó là: Văn hóa tổ chức là hệ thống các giá trị và quy tắc ứng xử được xây dựng một cách chủ động phù hợp và hướng tới các mục tiêu chiến lược của tổ chức. Như vậy, văn hóa tổ chức là nhận thức chỉ tồn tại trong một tổ chức chứ không phải cho một cá nhân. Các cá nhân có những nền tảng văn hóa, lối sống, nhận thức khác nhau, ở những vị trí làm việc khác nhau, có khuynh hướng hiển thị văn hóa tổ chức đó trong cùng một cách hoặc ít nhất có một mẫu số chung.