Tổng quan nghiên cứu
Quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất là quy luật kinh tế - xã hội phổ biến, chi phối tiến trình vận động của mọi hình thái kinh tế trong lịch sử nhân loại. Tại Việt Nam, quá trình xây dựng nền kinh tế từ năm 1955 đến năm 1986 đã trải qua nhiều giai đoạn thử thách gay gắt do việc nhận thức và vận dụng quy luật này còn mang tính chủ quan duy ý chí. Bước ngoặt lịch sử diễn ra từ Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng vào tháng 12 năm 1986 đã thẳng thắn nhìn nhận những sai lầm trong việc duy trì mô hình kinh tế tập trung quan liêu bao cấp và xác lập đường lối đổi mới toàn diện đất nước.
Luận văn tập trung nghiên cứu bản chất, ý nghĩa phương pháp luận và cơ chế tác động biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất trong bối cảnh đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Mục tiêu cụ thể của đề tài là làm sáng tỏ vai trò định hướng của quan hệ sản xuất đối với sự phát triển sức sản xuất, phân tích các bài học kinh nghiệm qua hơn 13 năm đổi mới và đề xuất các giải pháp khả thi nhằm hoàn thiện thể chế kinh tế. Phạm vi nghiên cứu bao quát tiến trình lịch sử từ năm 1955 đến năm 2000 trên quy mô nền kinh tế quốc dân, tập trung sâu vào giai đoạn đổi mới kinh tế nhiều thành phần. Ý nghĩa thực tiễn của công trình được chứng minh qua những bước tiến kinh tế vượt bậc: tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm trong nước (GDP) bình quân hàng năm giai đoạn 1991 - 1995 đạt 8,2%, tỷ lệ lạm phát phi mã trên 700% được đẩy lùi về mức một con số, tỷ lệ huy động vốn đầu tư toàn xã hội tăng từ 15,8% GDP năm 1990 lên 37,4% GDP năm 1995, đồng thời Việt Nam chuyển mình thành công từ một quốc gia thiếu đói trở thành nước xuất khẩu hơn 2 triệu tấn gạo mỗi năm.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết áp dụng
Nền tảng lý luận xuyên suốt của luận văn dựa trên học thuyết hình thái kinh tế - xã hội của Chủ nghĩa duy vật lịch sử do C.Mác và Ph.Ăng-ghen khởi xướng, kết hợp với các luận điểm của V.I.Lênin về chủ nghĩa tư bản nhà nước và mô hình kinh tế hợp tác xã trong thời kỳ quá độ. Luận văn làm rõ 3 khái niệm cấu thành then chốt của phương thức sản xuất:
- Lực lượng sản xuất: Là sự kết hợp hữu cơ giữa người lao động có kỹ năng, tri thức với tư liệu sản xuất, trong đó công cụ lao động là yếu tố động nhất, cách mạng nhất và khoa học kỹ thuật ngày càng đóng vai trò là lực lượng sản xuất trực tiếp.
- Quan hệ sản xuất: Hệ thống các quan hệ kinh tế - xã hội giữa người với người trong quá trình sản xuất vật chất, cấu thành từ 3 mặt thống nhất hữu cơ gồm quan hệ sở hữu tư liệu sản xuất, quan hệ tổ chức quản lý điều hành sản xuất và quan hệ phân phối sản phẩm xã hội. Trong đó, quan hệ sở hữu giữ vai trò quyết định, còn quan hệ quản lý và phân phối có tính độc lập tương đối và tác động ngược trở lại quan hệ sở hữu.
- Quy luật phù hợp biện chứng: Lực lượng sản xuất quyết định sự biến đổi của quan hệ sản xuất, trong khi quan hệ sản xuất tiến bộ sẽ tạo địa bàn mở đường thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển; ngược lại, nếu quan hệ sản xuất lạc hậu hoặc vượt trước trình độ thực tế của lực lượng sản xuất thì sẽ kìm hãm nền sản xuất xã hội.
Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, kết hợp chặt chẽ giữa phương pháp nghiên cứu lịch sử và logic nhằm tái hiện quá trình phát triển của nền kinh tế Việt Nam qua từng giai đoạn chính trị. Nguồn dữ liệu sơ cấp và thứ cấp được trích xuất từ các văn kiện chính thức của Đảng Cộng sản Việt Nam từ Đại hội III đến Đại hội VIII, các nghị quyết chuyên đề của Ban Chấp hành Trung ương, cùng các công trình nghiên cứu kinh tế - triết học tiêu biểu của Viện Khoa học Xã hội và Ủy ban Khoa học - Công nghệ và Môi trường của Quốc hội.
Cỡ mẫu phân tích thực tiễn bao quát toàn bộ 4.154 hợp tác xã nông nghiệp quy mô toàn xã tại miền Bắc năm 1979, 1.518 hợp tác xã và 9.350 tập đoàn sản xuất tại miền Nam giai đoạn 1978 - 1980, cùng hệ thống 6.000 doanh nghiệp nhà nước được phân loại rà soát vào cuối năm 1996. Phương pháp chọn mẫu điển cứu tập trung vào các mắt xích kinh tế then chốt gồm doanh nghiệp nhà nước, kinh tế hộ nông nghiệp và các cơ sở tư doanh chuyển đổi. Lý do lựa chọn phương pháp phân tích thực chứng kết hợp tổng kết thực tiễn là nhằm đảm bảo tính khách quan khoa học, giúp kiểm chứng trực tiếp các luận điểm lý thuyết triết học trên chuỗi dữ liệu thực tế kéo dài suốt 45 năm (1955 - 2000).
Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Những phát hiện chính
Quá trình khảo sát và phân tích dữ liệu lịch sử kinh tế Việt Nam đã làm sáng tỏ 3 phát hiện khoa học quan trọng:
Thứ nhất, việc áp đặt quan hệ sản xuất vượt trước tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất trong thời kỳ 1976 - 1980 đã làm triệt tiêu động lực lao động. Điển hình là việc cải tạo 3.560 cơ sở công nghiệp tư bản tư doanh với gần 25 vạn công nhân thành 1.354 xí nghiệp quốc doanh (13 vạn công nhân), 498 xí nghiệp công tư hợp doanh (13 ngàn công nhân) và 1.600 xí nghiệp hợp tác xã gia công (hơn 7 vạn công nhân), chỉ để lại khoảng 6% cơ sở và 5% công nhân tư nhân. Tại nông thôn miền Nam, việc thành lập nhanh chóng 1.518 hợp tác xã và 9.350 tập đoàn sản xuất thu hút 35,6% hộ nông dân vào làm ăn tập thể theo lối hành chính mệnh lệnh đã dẫn đến sự đình trệ nghiêm trọng, buộc người lao động phải tự "xé rào" tìm kiếm các phương thức sản xuất linh hoạt ngoài kế hoạch.
Thứ hai, việc điều chỉnh quan hệ sản xuất tiệm cận đúng trình độ lực lượng sản xuất đã giải phóng năng lực xã hội to lớn. Sự ra đời của Chỉ thị 100 năm 1981 và Nghị quyết 10 năm 1988 giao quyền tự chủ cho kinh tế hộ nông dân, kết hợp với Quyết định 25-CP năm 1981 cho phép doanh nghiệp quốc doanh chủ động 3 phần kế hoạch, đã tạo động lực tăng trưởng thực chất. Nền kinh tế giai đoạn 1991 - 1995 ghi nhận tốc độ tăng trưởng GDP bình quân đạt 8,2%/năm, xuất khẩu lương thực đạt khoảng 2 triệu tấn gạo/năm, khẳng định hiệu quả của việc phân phối theo kết quả lao động và giá trị đóng góp thực tế.
Thứ ba, công nghiệp hóa, hiện đại hóa không thể tách rời việc phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần gắn với định hướng xã hội chủ nghĩa. Cuối năm 1996, việc tái cấu trúc và phân loại 6.000 doanh nghiệp nhà nước thành nhóm kinh doanh vì lợi nhuận và nhóm dịch vụ công ích đã khẳng định kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, trong khi các thành phần kinh tế tư nhân, cá thể, tiểu chủ và tư bản nhà nước đóng vai trò động lực thúc đẩy tổng vốn đầu tư xã hội đạt mức 37,4% GDP.
Thảo luận kết quả
Khi đối chiếu giữa lý luận Mác - Lênin và thực tiễn kinh tế Việt Nam, nguyên nhân sâu xa của tình trạng khủng hoảng kinh tế trước năm 1986 xuất phát từ nhận thức siêu hình, tuyệt đối hóa chế độ công hữu và phân phối bình quân, trong khi lực lượng sản xuất chủ yếu vẫn là thủ công thô sơ. Dữ liệu thực nghiệm qua các giai đoạn có thể được tổng hợp trực quan qua bảng đối chiếu các chỉ số kinh tế then chốt:
| Tiêu chí phân tích |
Giai đoạn trước Đổi mới (1976 - 1980) |
Giai đoạn sau Đổi mới (1991 - 1995) |
| Mô hình quan hệ sản xuất |
Thuần nhất công hữu, bao cấp |
Đa dạng hóa sở hữu, nhiều thành phần |
| Cơ chế phân phối |
Tem phiếu, bình quân ngày công |
Phân phối theo lao động và vốn góp |
| Tăng trưởng GDP bình quân |
Trì trệ, suy thoái sâu |
Đạt 8,2%/năm |
| Tỷ lệ đầu tư toàn xã hội/GDP |
Thấp, dựa vào viện trợ bên ngoài |
Đạt 37,4% năm 1995 |
| Tình trạng an ninh lương thực |
Thiếu hụt nghiêm trọng, nhập khẩu |
Đủ tiêu dùng và xuất khẩu 2 triệu tấn gạo/năm |
Sự khác biệt rõ nét này chứng minh rằng việc đa dạng hóa các hình thức sở hữu không làm suy yếu tính chất xã hội chủ nghĩa, mà trái lại tạo cơ sở vật chất vững chắc để củng cố chế độ chính trị. So với các nền kinh tế tư bản phát triển vốn nâng cao năng suất nhờ tự động hóa nhưng làm sâu sắc thêm hố ngăn cách giàu nghèo, mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam gắn tăng trưởng kinh tế với tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước phát triển.
Đề xuất và khuyến nghị
Dựa trên kết quả nghiên cứu quy luật quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp chiến lược:
- Tái cơ cấu và nâng cao hiệu quả quản trị hệ thống doanh nghiệp nhà nước:
- Chủ thể thực hiện: Chính phủ, các bộ ngành chủ quản và Ban Chỉ đạo Đổi mới Doanh nghiệp.
- Hành động cụ thể: Đẩy mạnh sắp xếp, cổ phần hóa và phân loại rõ ràng hơn 6.000 doanh nghiệp nhà nước; tập trung nguồn vốn nhà nước vào các lĩnh vực kết cấu hạ tầng then chốt, tài chính - ngân hàng và an ninh quốc phòng.
- Mục tiêu và lộ trình: Hoàn thành cổ phần hóa các doanh nghiệp thương mại dịch vụ trong lộ trình 3 năm, nâng cao tỷ suất sinh lời trên vốn nhà nước đạt tối thiểu 12 - 15%/năm.
- Đổi mới mô hình kinh tế hợp tác xã và giải phóng kinh tế nông hộ:
- Chủ thể thực hiện: Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Liên minh Hợp tác xã Việt Nam và chính quyền địa phương.
- Hành động cụ thể: Chuyển đổi các hợp tác xã nông nghiệp kiểu cũ sang mô hình hợp tác xã kiểu mới theo Luật Hợp tác xã; tổ chức dịch vụ đầu vào, chế biến và tiêu thụ sản phẩm cho kinh tế hộ gia đình; tạo điều kiện để nông dân thực hiện đầy đủ các quyền chuyển nhượng, thừa kế và thế chấp quyền sử dụng đất.
- Mục tiêu và lộ trình: Phấn đấu trong 5 năm nâng năng suất lao động nông nghiệp tăng 15 - 20%, mở rộng quy mô kinh tế trang trại và liên kết chuỗi giá trị.
- Hoàn thiện đồng bộ các yếu tố thị trường và cơ chế phân phối:
- Chủ thể thực hiện: Bộ Tài chính, Ngân hàng Nhà nước và Bộ Kế hoạch và Đầu tư.
- Hành động cụ thể: Xây dựng hệ thống thị trường vốn, thị trường lao động, công nghệ và bất động sản minh bạch; kết hợp hài hòa nguyên tắc phân phối theo kết quả lao động với phân phối theo vốn đóng góp và hệ thống phúc lợi xã hội.
- Mục tiêu và lộ trình: Duy trì tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội ổn định ở mức trên 35% GDP, kiểm soát chênh lệch thu nhập xã hội thông qua chính sách thuế điều tiết hợp lý.
- Hiện đại hóa nguồn nhân lực và ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ:
- Chủ thể thực hiện: Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Giáo dục và Đào tạo cùng các cơ sở đào tạo đại học.
- Hành động cụ thể: Đầu tư cơ sở vật chất kỹ thuật, xác định công nghệ là lực lượng sản xuất trực tiếp; đẩy mạnh đào tạo đội ngũ chuyên gia quản lý kinh tế, kỹ sư công nghệ và công nhân lành nghề am hiểu cơ chế thị trường.
- Mục tiêu và lộ trình: Nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo kỹ thuật chuyên môn đạt trên 25% trong giai đoạn 5 năm tiếp theo, đáp ứng yêu cầu chuyển dịch cơ cấu công nghiệp hóa.
Đối tượng nên tham khảo luận văn
Nội dung và hệ thống giải pháp của luận văn mang giá trị ứng dụng thiết thực cho 4 nhóm đối tượng trọng tâm:
- Cơ quan quản lý nhà nước và cán bộ hoạch định chính sách kinh tế vĩ mô: Cung cấp cơ sở lý luận triết học vững chắc để xây dựng các chính sách phát triển kinh tế nhiều thành phần, hoàn thiện thể chế quản lý nhà nước đối với hơn 6.000 doanh nghiệp quốc doanh và điều tiết thị trường trong thời kỳ quá độ.
- Giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên khối ngành Lý luận Chính trị - Triết học: Tài liệu tham khảo có giá trị cao trong công tác giảng dạy các chuyên đề về Chủ nghĩa duy vật lịch sử, Kinh tế chính trị Mác - Lênin tại các trường đại học, cao đẳng và học viện chính trị trên toàn quốc.
- Ban lãnh đạo doanh nghiệp nhà nước và hội đồng quản trị các hợp tác xã: Giúp các nhà quản trị nhận diện rõ mối quan hệ giữa chế độ sở hữu, phương thức quản lý và cơ chế phân phối, từ đó tối ưu hóa mô hình tổ chức nhằm kích thích năng suất lao động và bảo toàn vốn sản xuất.
- Chuyên gia tư vấn tái cấu trúc kinh tế và sinh viên ngành khoa học xã hội: Tài liệu cung cấp góc nhìn đa chiều về các bài học cải tạo kinh tế giai đoạn 1955 - 1986 và những thành tựu đổi mới, phục vụ trực tiếp cho các đề tài nghiên cứu về lịch sử kinh tế và thể chế phát triển.
Câu hỏi thường gặp
Tại sao việc áp đặt quan hệ sản xuất tiến bộ vượt trước lại làm kìm hãm lực lượng sản xuất trong giai đoạn 1976 - 1980?
Bởi vì quy luật kinh tế mang tính khách quan, không thể phụ thuộc vào ý chí chủ quan. Khi lực lượng sản xuất còn ở trình độ thủ công thô sơ, việc xóa bỏ 3.560 cơ sở tư doanh và gom 4.154 hợp tác xã lên quy mô toàn xã bằng mệnh lệnh hành chính đã triệt tiêu động lực cá nhân, làm phát sinh hiện tượng tài sản vô chủ và thất thoát công quỹ.
Kinh tế nhiều thành phần có làm chệch hướng xã hội chủ nghĩa của nền kinh tế Việt Nam không?
Hoàn toàn không. Kinh tế nhiều thành phần là phương tiện khai thác tối đa nguồn lực xã hội để phát triển lực lượng sản xuất. Định hướng xã hội chủ nghĩa được đảm bảo vững chắc khi kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo nắm giữ các huyết mạch kinh tế, đồng thời Nhà nước sử dụng công cụ pháp luật và hệ thống điều tiết để duy trì vốn đầu tư trên 35% GDP và thực hiện công bằng xã hội.
Yếu tố nào trong lực lượng sản xuất giữ vai trò quyết định năng suất lao động trong thời kỳ công nghiệp hóa?
Con người lao động là chủ thể trung tâm giữ vai trò quyết định nhất nhờ khả năng sáng tạo và làm chủ công nghệ. Tuy nhiên, công cụ lao động và khoa học kỹ thuật là bộ phận biến đổi nhanh nhất, đóng vai trò đòn bẩy trực tiếp quyết định năng suất lao động xã hội, như minh chứng qua việc tăng trưởng GDP 8,2%/năm khi người lao động được tiếp cận công nghệ mới.
Tại sao chế độ phân phối theo kết quả lao động phải đi đôi với phân phối theo vốn đóng góp?
Trong nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, việc thừa nhận phân phối theo vốn góp là điều kiện tất yếu để thu hút các nguồn lực tài chính tiềm năng trong dân cư và tư bản nước ngoài. Kết hợp phân phối theo lao động với phân phối theo vốn và quỹ phúc lợi xã hội giúp vừa khuyến khích tích tụ vốn cho công nghiệp hóa, vừa bảo vệ quyền lợi chính đáng của người lao động.
Đóng góp học thuật mới nhất mà luận văn mang lại cho nghiên cứu lý luận là gì?
Luận văn làm rõ luận điểm sự phù hợp của quan hệ sản xuất với lực lượng sản xuất trong thời đại mới được đo lường cụ thể bằng chỉ tiêu năng suất lao động xã hội. Đồng thời, nghiên cứu chứng minh việc phát triển kinh tế nhiều thành phần chính là phương thức xây dựng hệ thống quan hệ sản xuất phù hợp, phục vụ trực tiếp quá trình cơ cấu lại 6.000 doanh nghiệp nhà nước và phát triển hợp tác xã nông nghiệp.
Kết luận
- Luận văn đã hệ thống hóa và khẳng định giá trị phương pháp luận trường tồn của quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất trong công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
- Tổng kết thực tiễn 13 năm đổi mới (1986 - 1999) chứng minh đường lối phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước là hoàn toàn đúng quy luật khách quan, đưa tốc độ tăng trưởng GDP đạt 8,2%/năm.
- Luận giải sâu sắc tính thống nhất hữu cơ giữa 3 mặt quan hệ sản xuất gồm sở hữu, quản lý và phân phối; chỉ rõ sự bất cập của việc tuyệt đối hóa chế độ công hữu khi lực lượng sản xuất chưa đạt trình độ tương ứng.
- Đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ về sắp xếp doanh nghiệp nhà nước, đổi mới hợp tác xã nông nghiệp và hoàn thiện thể chế thị trường nhằm duy trì nguồn vốn đầu tư phát triển toàn xã hội trên 35% GDP trong giai đoạn tiếp theo.
- Kêu gọi các nhà hoạch định chính sách, giới nghiên cứu lý luận và các nhà quản lý doanh nghiệp tiếp tục vận dụng sáng tạo chủ nghĩa duy vật lịch sử, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, thúc đẩy nền kinh tế Việt Nam hội nhập vững chắc vào thế kỷ XXI.