CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH VÀ NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP. MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN VÀ LÝ THUYẾT CÓ LIÊN QUAN. Khái niệm cơ bản 1. Thuật ngữ “Cạnh tranh” được sử dụng rất phổ biến hiện nay trong nhiều lĩnh vực như kinh tế, thương mại, luật, chính trị, quân sự, sinh thái, thể thao,.
Theo Michael Porter, 1996. “Cạnh tranh, là việc đấu tranh hoặc giành giật từ một số đối thủ về khách hàng, thị phần hay nguồn lực của các doanh nghiệp”. Tuy nhiên, bản chất của cạnh tranh ngày nay không phải tiêu diệt đối thủ mà chính là doanh nghiệp phải tạo ra và mang lại cho khách hàng những giá trị gia tăng cao hơn hoặc mới lạ hơn đối thủ để họ có thể lựa chọn mình mà không đến với đối thủ cạnh tranh. Theo Từ điển Thuật ngữ Kinh tế học (NXB Từ điển Bách khoa, HN 2001.
Tr42): “Cạnh tranh - sự đấu tranh đối lập giữa các cá nhân, tập đoàn hay quốc gia. Cạnh tranh nảy sinh khi hai bên hay nhiều bên cố gắng giành lấy thứ mà không phải ai cũng có thể giành được”. Do vậy, cạnh tranh được hiểu như là quan hệ kinh tế mà ở đó các chủ thể kinh tế ganh đua với nhau, tìm mọi biện pháp, cả nghệ thuật lẫn thủ đoạn để đạt được mục tiêu của mình. Kết quả là sẽ loại bỏ những doanh nghiệp làm ăn kém hiệu quả, từ đó thúc đẩy nền kinh tế ngày càng phát triển hơn.2 Năng lực cạnh tranh.
Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là sự thể hiện thực lực và lợi thế của doanh nghiệp so với đối thủ cạnh tranh trong việc thỏa mãn tốt nhất các đòi hỏi của khách hàng để thu lợi nhuận ngày càng cao, bằng việc khai thác, sử dụng thực lực và lợi thế bên trong, bên ngoài nhằm tạo ra những sản phẩm, dịch vụ hấp dẫn người tiêu dùng để tồn tại và phát triển, thu được lợi nhuận ngày càng cao và cải tiến vị trí so với các đối thủ cạnh tranh trên thị trường .Năng lực canh tranh của doanh nghiệp được tạo ra từ thực lực của doanh nghiệp và là các yếu tố nội hàm của mỗi doanh nghiệp. Năng lực cạnh tranh không chỉ được tính bằng các tiêu chí về công nghệ, tài chính, nhân lực, tổ chức quản trị doanh nghiệp,… mà năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp gắn liền Luan van 8 với ưu thế của sản phẩm mà doanh nghiệp đưa ra thị trường. Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp gắn với với thị phần mà nó nắm giữ, cũng có quan điểm đồng nhất của doanh nghiệp với hiệu quả sản xuất kinh doanh… 1.3 Các cấp độ cạnh tranh. -Năng lực cạnh tranh cấp quốc gia Năng lực cạnh tranh quốc gia là yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của tất cả các sản phẩm trên thị trường nội địa và xuất khẩu.
Có thể hiểu về năng lực cạnh tranh cấp quốc gia là khả năng cạnh tranh của một nước để sản xuất các hàng hóa và dịch vụ đáp ứng được thử thách của thị trường quốc tế. Đồng thời, duy trì và mở rộng được thu nhập thực tế của công dân nước đó. Mặt khác, năng lực cạnh tranh quốc gia phản ánh khả năng của một nước để tạo ra việc sản xuất sản phẩm, phân phối sản phẩm và dịch vụ trong thương mại quốc tế, trong khi kiếm được thu nhập tăng lên từ nguồn lực của nó. -Năng lực cạnh tranh ngành Có thể hiểu năng lực cạnh tranh ngành là: Năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp được đo bằng khả năng duy trì và mở rộng thị phần, thu lợi nhuận của doanh nghiệp trong môi trường cạnh tranh trong nước và nước ngoài.
Ngoài ra, còn thông qua một số tiêu chí khác như: nguồn lực về vốn, công nghệ, con người, quản lý; chất lượng và giá cả sản phẩm; hệ thống phân phối và dịch vụ sau bán hàng của doanh nghiệp; chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp. Theo mô hình kim cương của Micheal Porter, lợi thế cạnh tranh của một doanh nghiệp, một ngành không chỉ phụ thuộc vào các yếu tố bên trong nội bộ doanh nghiệp mà còn phụ thuộc vào các yếu tố bên ngoài trong môi trường kinh doanh quốc gia bao gồm: các điều kiện về yếu tố sản xuất, sức cầu về hàng hóa, các ngành phụ trợ, môi trường cạnh tranh ngành và vai trò của Chính Phủ. -Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Năng lực cạnh tranh đồng nghĩa với duy trì và nâng cao lợi thế cạnh tranh, là khả năng tạo ra lợi thế cạnh tranh, có khả năng tạo ra năng suất và chất lượng cao hơn đối thủ cạnh tranh, chiếm lĩnh thị phần lớn, tạo ra thu nhập cao và phát triển bền vững. Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp luôn được các doanh nghiệp đầu tư tập trung phát triển như chất lượng sản phẩm dịch vụ, khả năng cung cấp và phân phối dịch vụ, đội ngũ nhân sự chuyên nghiệp có trình độ cao… Luan van 9 -Năng lực cạnh tranh của sản phẩm Năng lực cạnh tranh cấp sản phẩm được hiểu là khả năng sản phẩm có được nhằm duy trì được vị thế của nó một cách lâu dài trên thị trường cạnh tranh.
Năng lực cạnh tranh sản phẩm được nhận biết thông qua lợi thế cạnh tranh của sản phẩm đó với các sản phẩm khác cùng loại có thể được đánh giá thông qua: giá sản phẩm, sự vượt trội về chất lượng sản phẩm, mẫu mã, kiểu dáng sản phẩm, thương hiệu… so với đối thủ cạnh tranh trên cùng một phân đoạn thị trường vào cùng một thời điểm. Lý thuyết có liên quan. Lý thuyết liên quan đến việc xây dựng và phát triển năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. A) Lý thuyết xây dựng năng lực cạnh tranh dựa trên phân tích chuỗi giá trị.
Phân tích chuỗi giá trị được coi là công cụ phân tích chu kỳ chiến lươc hàng đầu của doanh nghiệp. Ta biết tới rằng doanh nghiệp cần phải có lợi thế cạnh tranh để được khách hàng chấp nhận và để cạnh tranh với đối thủ. Việc phân tích theo chuỗi sẽ giúp doanh nghiệp nhìn mỗi hoạt động và mối liên kết giữa mỗi hoạt động dưới góc độ tạo ra giá trị và tạo ra chi phí. Chuỗi giá trị bao gồm 3 thành phần: hoạt động chính, hoạt động hỗ trợ và lợi nhuận.
Hoạt động chính bao gồm các hoạt động diễn ra theo thứ tự nối tiếp nhau. Nhóm hoạt động này liên quan trực tiếp đến việc tạo ra giá trị cho sản phẩm. Các hoạt động trong nhóm này gồm: Vận chuyển đầu vào là nhận hàng, vận chuyển, lưu trữ nguyên liệu đầu vào; Chế tạo tạo ra sản phẩm; Vận chuyển đầu ra , vận chuyển thành phẩm, lưu giữ trong các kho bãi; Tiếp thị và bán hàng như giới thiệu sản phẩm, bán sản phẩm; Dịch vụ bảo hành, sửa chữa, hỗ trợ khách hàng. Hoạt động hỗ trợ Bao gồm các hoạt động song song với hoạt động chính nhằm mục đích hỗ trợ cho việc tạo ra sản phẩm.
Đây là các hoạt động gián tiếp góp phần tạo ra giá trị cho sản phẩm. Các hoạt động trong nhóm này gồm: Mua hàng là mua máy móc thiết bị và nguyên liệu đầu vào; Phát triển công nghệ bằng cách cải tiến sản phẩm, quy trình sản xuất; Quản lý nguồn nhân lực như tuyển dụng, đào tạo, phát triển, và đãi ngộ; Cơ sở hạ tầng doanh nghiệp như quản lý, tài chính, kế toán, pháp lý. Lợi nhuận: Đây là phần chênh lệch giữa doanh thu và chi phí. Doanh nghiệp sẽ được coi như là có lợi nhuận nếu như doanh thu bán hàng lớn hơn chi phí bỏ ra.
Luan van 10 Các hoạt động trong chuỗi giá trị có sự liên kết chặt chẽ với nhau, hoạt động trước là đầu vào cho hoạt động sau, chi phí của hoạt động trước tỉ lệ nghịch với chi phí của hoạt động sau. Doanh nghiệp có thể tối ưu hóa chi phí đồng thời gia tăng giá trị dựa trên 3 phương thức: tối ưu hóa từng chức năng, tối ưu hóa sự phối hợp giữa các chức năng, tối ưu hóa sự phối hợp giữa các chức năng với các nhân tố bên ngoài. B) Lý thuyết xây dựng năng lực cạnh tranh dựa trên nguồn lực và năng lực Nguồn lực: là những yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất của một tổ chức kinh doanh. Mỗi doanh nghiệp sẽ có những nguồn lực hữu hình và vô hình.Nguồn lực hữu hình được chia thành 4 nhóm.
Đó là nguồn lực tài chính ( bao gồm: vốn chủ sở hữu, vốn đi vay, khả năng tạo ra ngân nội bộ doanh nghiệp), nguồn lực con người (đào tạo, kinh nghiệm, sức phán đoán, trí thông minh, sự sáng suốt, khả năng thích nghi, sự tận tụy với công việc và long trung thành của cá nhân các nhà quản trị và nhân viên), nguồn lực vật chất (sự tinh xảo về trang thiết bị hay địa điểm nhà máy, quyền chiếm lĩnh các nguyên vật liệu thô), nguồn lực tổ chức (kết cấu báo cáo chính thức, các kế hoạch, hệ thống kiểm tra giám sát, hệ thống tổ chức bộ máy), nguồn lực mang tính kĩ năng (bằng sáng chế, nhãn hiệu, bản quyền hay bí quyết kinh doanh), nguồn lực cho đổi mới (lao động có kĩ thuật, kĩ năng), danh tiếng (danh tiếng đối với khách hàng như nhãn hiệu, sự chấp nhận về chất lượng, độ bền và độ tin cậy của sản phẩm và danh tiếng đối với nhà cung cấp). Các nguồn lực vô hình và hữu hình đã trở thành yếu tố then chốt cho sự phát triển của lợi thế cạnh tranh. Tuy nhiên giá trị chiến lược của doanh nghiệp sẽ tăng dần lên khi nó được kiên kết với nhau. Năng lực chính là khả năng liên kết các nguồn lực để phục vụ một mụ đích chung là phát triển lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp.
Nhóm năng lực của doanh nghiệp bao gồm năng lực quản trị và lãnh đạo, năng suất lao động, hiệu suất R&D, công cụ xúc tiến thương mại. Năng lực có ý nghĩa như là chất keo dính của doanh nghiệp, giúp liên kết các nguồn lực để năng cao lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp so với đối thủ cạnh tranh. Các yếu tố môi trường ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Các yếu tố môi trường vĩ mô: Môi trường vĩ mô chính là môi trường mà doanh nghiệp đang hoạt động.
Môi trường kinh doanh của doanh nghiệp bao gồm nhiều nhân tố phức tạp ảnh hưởng đến Luan van 11 sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Môi trường đó chính là tổng thể các nhân tố cơ bản : Nhân tố kinh tế, chính trị và pháp luật, xã hội , tự nhiên và công nghệ. Mỗi nhân tố này tác động và chi phối mạnh mẽ đến các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.