Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ với đề tài "Nâng cao năng lực cạnh tranh cho Công ty Cổ phần Traphaco trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế" do nghiên cứu sinh Đỗ Văn Dũng thực hiện tại Học viện Khoa học Xã hội - Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam vào năm 2019, chuyên ngành Quản trị kinh doanh (mã số 9.01), dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Chu Đức Dũng và TS. Nguyễn Thiết Sơn.
Tính cấp thiết của đề tài xuất phát từ bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng, khi các cam kết thương mại mở cửa thị trường khiến các doanh nghiệp dược nội địa phải cạnh tranh trực tiếp với các tập đoàn đa quốc gia và sản phẩm nhập khẩu ngay tại thị trường nội địa. Ngành công nghiệp dược phẩm mang tính đặc thù cao về yêu cầu kỹ thuật, công nghệ sản xuất, đối tượng khách hàng và sự kiểm soát nghiêm ngặt của Nhà nước do liên quan mật thiết đến sức khỏe cộng đồng. Mặc dù Công ty Cổ phần Traphaco là doanh nghiệp uy tín hàng đầu trong ngành dược Việt Nam (theo đánh giá của Vietnam Report), sức ép cạnh tranh ngày càng gia tăng đòi hỏi công ty phải nhìn nhận, đánh giá lại năng lực nội tại để xây dựng các giải pháp phát triển bền vững. Khoảng trống nghiên cứu được xác định là sự thiếu vắng các công trình đánh giá hệ thống, cập nhật và định lượng chuyên sâu về năng lực cạnh tranh và hoạt động nâng cao năng lực cạnh tranh của một doanh nghiệp dược cụ thể như Traphaco trong giai đoạn hội nhập kinh tế thế hệ mới.
Mục đích nghiên cứu của luận án là phân tích, đánh giá thực trạng nâng cao năng lực cạnh tranh của Công ty Cổ phần Traphaco, xác định những hạn chế và nguyên nhân cốt lõi, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh cho Traphaco trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế.
Nhiệm vụ nghiên cứu được văn bản xác định cụ thể qua 5 nhiệm vụ:
- Nghiên cứu tổng quan các công trình nghiên cứu về năng lực cạnh tranh và nâng cao năng lực cạnh tranh nhằm xác định hướng nghiên cứu của đề tài.
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận cho việc nghiên cứu nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp dược nói chung và Traphaco nói riêng.
- Phân tích, đánh giá thực trạng nâng cao năng lực cạnh tranh của Traphaco trên cơ sở lý thuyết đã xây dựng.
- Chỉ rõ những hạn chế trong hoạt động nâng cao năng lực cạnh tranh của Traphaco và phân tích nguyên nhân dẫn đến những hạn chế đó.
- Đề xuất hệ thống giải pháp và kiến nghị nhằm hỗ trợ nâng cao năng lực cạnh tranh cho Traphaco trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án:
- Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động nâng cao năng lực cạnh tranh cho Công ty Cổ phần Traphaco.
- Phạm vi nội dung: Nghiên cứu các hoạt động nâng cao năng lực cạnh tranh do Traphaco tự thực hiện; đồng thời so sánh một số chỉ tiêu hoạt động của Traphaco với các đối thủ cạnh tranh cùng ngành niêm yết trên thị trường chứng khoán gồm Công ty Cổ phần Dược Hậu Giang (DHG), Công ty Cổ phần Dược phẩm Imexpharm (IMP), và Công ty Cổ phần Xuất Nhập khẩu Y tế Domesco (DMC).
- Phạm vi không gian: Công ty Cổ phần Traphaco và hệ thống phân phối quầy thuốc trên cả 3 miền Bắc, Trung, Nam.
- Phạm vi thời gian: Phân tích thực trạng giai đoạn 5 năm từ 2014 đến 2018; định hướng và giải pháp đề xuất cho giai đoạn 2020–2030.
- Đối tượng khảo sát thực tế: Nhóm 1 gồm Ban lãnh đạo và cán bộ quản lý của Traphaco; Nhóm 2 gồm khách hàng là các chủ quầy thuốc phân phối sản phẩm của Traphaco trên phạm vi toàn quốc.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án đã phân loại và tổng thuật hệ thống các công trình nghiên cứu liên quan đến năng lực cạnh tranh theo hai nhóm: nghiên cứu quốc tế và nghiên cứu trong nước.
Về nghiên cứu quốc tế:
- Các nghiên cứu về nền tảng năng lực cạnh tranh dựa trên nguồn lực và chuỗi giá trị: Birger Wernerfelt (1984) với quan điểm dựa trên nguồn lực công ty (Resource-Based View); Jay Barney với công trình xác định nguồn lực công ty là nền tảng của lợi thế cạnh tranh bền vững; Michael Porter (1985) với tác phẩm về lợi thế cạnh tranh và mô hình chuỗi giá trị gồm 5 hoạt động cơ bản và 4 hoạt động bổ trợ.
- Các nghiên cứu về từng khía cạnh nguồn lực tác động đến năng lực cạnh tranh: Sriyan De Silva (1998) nghiên cứu quản lý nguồn nhân lực trong việc gia tăng khả năng cạnh tranh; Prashant Gupta, Rajeash Kumar Jain và Upinder Dhar (2007) tiếp cận nâng cao năng lực cạnh tranh qua Marketing, con người, công nghệ thông tin và kinh nghiệm kinh doanh tại các nước đang phát triển; Ramona Todericiu và Alexandra Stanit (2015) phân tích nguồn vốn trí tuệ đối với lợi thế cạnh tranh của khối doanh nghiệp vừa và nhỏ; Dhirendra Kumar (2016) nghiên cứu xây dựng lợi thế cạnh tranh bền vững thông qua vai trò lãnh đạo điều hành dựa trên mô hình của Dahlgaard-Park.
- Các mô hình và yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh: Ambastha và Momaya (2004) đưa ra khung phân tích cấp doanh nghiệp gồm Nguồn lực, Quy trình và Hiệu suất; Chi Kun, Ho (2005) nghiên cứu mối quan hệ tương quan giữa năng lực quản trị doanh nghiệp và năng lực cạnh tranh; Thompson, Strickland và Gamble (2007) đề xuất 10 yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh; Sauka (2015) xác định 7 yếu tố cấu thành năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp tại Latvia.
Về nghiên cứu trong nước:
- Cấp độ quốc gia và ngành: Nguyễn Đình Long (1999) nghiên cứu nông sản xuất khẩu; Thân Danh Phúc (2001) nghiên cứu sức cạnh tranh của sản phẩm dệt may; Chu Văn Cấp (2003) nghiên cứu sức cạnh tranh nền kinh tế; Vũ Hùng Phương (2008) kết hợp mô hình kim cương của M. Porter và Dunning nghiên cứu ngành giấy; Bùi Đức Tuân (2010) nghiên cứu ngành chế biến thủy sản; Trần Thị Anh Thư (2012) nghiên cứu Tập đoàn Bưu chính Viễn thông trong bối cảnh gia nhập WTO; Nguyễn Hồng Chỉnh (2017) nghiên cứu ngành dệt may trong bối cảnh tham gia Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP).
- Cấp độ doanh nghiệp nói chung: Nguyễn Vĩnh Thanh (2005), Vũ Trọng Lâm (2006), Trần Sửu (2006) làm rõ lý luận cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường; Nguyễn Thế Nghĩa (2007) đề xuất 5 nhóm giải pháp nâng cao năng lực cho doanh nghiệp và văn hóa doanh nghiệp; Phạm Văn Công (2009) nghiên cứu Tổng Công ty Xăng dầu Việt Nam; Phạm Thu Hương (2017) nghiên cứu doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Hà Nội, bổ sung thang đo năng lực thiết lập quan hệ.
- Cấp độ doanh nghiệp ngành dược phẩm: Phan Thị Thanh Tâm (2012) đánh giá năng lực cạnh tranh và chiến lược kinh doanh của Dược Hậu Giang, Traphaco và Mediplantex giai đoạn 2004–2008; Tạ Thị Thanh Mai (2015) phân tích tác động vi mô, vĩ mô đến ngành dược sau khi gia nhập WTO; Bùi Văn Dũng (2016) đánh giá cơ hội và thách thức của ngành dược trước hiệp định TPP.
Khoảng trống nghiên cứu được luận án chỉ ra: Các công trình quốc tế chủ yếu tập trung vào các nước phát triển hoặc đánh giá chung mà chưa lượng hóa mức độ ảnh hưởng của từng hoạt động tới năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp dược. Trong khi đó, các nghiên cứu trong nước về ngành dược phần lớn sử dụng số liệu giai đoạn trước năm 2015, chủ yếu phân tích định tính hoặc theo ma trận SWOT đơn giản, chưa xây dựng được hệ thống chỉ tiêu và thang đo định lượng đồng bộ cho các hoạt động nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp dược trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế thế hệ mới.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và khung phân tích
Luận án tổng hợp các lý thuyết nền tảng về cạnh tranh, lợi thế cạnh tranh và hội nhập kinh tế quốc tế từ các học giả kinh tế:
- Cạnh tranh và Lợi thế cạnh tranh: Quan điểm của Michael Porter (1985, 1990, 1998, 2009) về chuỗi giá trị và sự khác biệt hóa; quan điểm của P. Nordhaus (1989) về sự kình địch giành giật thị trường; quan điểm của Tôn Thất Nguyễn Thiêm (2003) về việc tạo giá trị gia tăng mới cho khách hàng.
- Năng lực cạnh tranh doanh nghiệp: Khái niệm theo Báo cáo Aldington (1980), Bộ Thương mại và Công nghiệp Anh (1998), Chan Kim và Renee Mauborgne (2017), Đào Duy Hân (2007), Nguyễn Hữu Thắng (2009), Nguyễn Minh Tuấn (2010), Phạm Thu Hương (2017). Tác giả đưa ra định nghĩa riêng: Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng khai thác, quản lý và sử dụng hiệu quả các nguồn lực để duy trì và phát triển lợi thế cạnh tranh cao hơn đối thủ nhằm thỏa mãn tốt nhất nhu cầu khách hàng và đạt hiệu quả sản xuất kinh doanh bền vững.
- Hội nhập kinh tế quốc tế: Tiếp cận theo quan điểm của Đỗ Đức Bình và Nguyễn Thường Lạng (2008), Lê Xuân Bá (2006), Phạm Thị Hồng Yến (2011).
Khung phân tích đánh giá nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp dược được xác định qua 8 hoạt động cốt lõi:
- Nâng cao năng lực tài chính (minh bạch tài chính, khả năng thanh toán an toàn, thu hút đầu tư hiệu quả).
- Nâng cao năng lực quản lý và điều hành (trình độ chuyên môn quản lý, hiểu biết thông lệ và luật pháp, đào tạo chuyên sâu, đổi mới cơ chế quản lý, phát triển hệ thống kiểm soát).
- Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực (đào tạo, văn hóa đoàn kết - chuyên nghiệp, chính sách đãi ngộ, hoạt động sáng kiến cải tiến).
- Nâng cao năng lực Marketing (nghiên cứu nhu cầu thị trường, phát triển thương hiệu, thích ứng cạnh tranh).
- Nâng cao trình độ thiết bị và công nghệ (nắm bắt công nghệ mới, lựa chọn thiết bị phù hợp, hợp tác nghiên cứu khoa học công nghệ, phát triển quỹ khoa học công nghệ).
- Nâng cao năng lực tạo lập quan hệ (thiết lập và duy trì quan hệ với khách hàng, nhà cung ứng, tổ chức tín dụng, cơ quan quản lý).
- Nâng cao năng lực nghiên cứu và phát triển - R&D (đầu tư công nghệ mới, phát triển sản phẩm chất lượng cao, liên kết với các viện/trung tâm nghiên cứu).
- Nâng cao văn hóa doanh nghiệp (cấu trúc hữu hình, giá trị tuyên bố, niềm tin và thái độ nhân viên).
Phương pháp nghiên cứu
Luận án áp dụng phương pháp nghiên cứu kết hợp giữa định tính và định lượng:
| Phương diện |
Nội dung phương pháp thực hiện trong luận án |
| Nghiên cứu định tính |
- Tổng quan tài liệu thứ cấp về lý thuyết cạnh tranh và thực tiễn ngành dược. - Xây dựng đề cương và thực hiện phỏng vấn sâu chuyên gia trong ngành dược. - Thảo luận nhóm chuyên gia để hiệu chỉnh và hoàn thiện thang đo các tiêu chí đánh giá. - Phương pháp phân tích lịch sử, tổng hợp, so sánh dữ liệu thực tế và phân tích trường hợp điển hình kinh nghiệm quốc tế (Tập đoàn GSK - Anh, Sanofi-Aventis - Pháp, các doanh nghiệp dược Trung Quốc). |
| Nghiên cứu định lượng |
- Thiết kế phiếu điều tra khảo sát với thang đo Likert 5 mức độ. - Thu thập dữ liệu khảo sát từ 2 nhóm: Ban lãnh đạo/cán bộ quản lý Traphaco và các chủ quầy thuốc phân phối. - Kiểm định độ tin cậy của thang đo bằng hệ số Cronbach’s Alpha. - Phân tích thống kê mô tả, phân tích các chỉ số tài chính (khả năng thanh toán, vòng quay tiền, ROA, ROE, ROS) và so sánh chéo với các doanh nghiệp niêm yết trong ngành (DHG, IMP, DMC). |
| Nguồn dữ liệu |
- Báo cáo tài chính kiểm toán, báo cáo quản trị nội bộ của Traphaco (2014–2018). - Dữ liệu khảo sát sơ cấp theo phiếu điều tra do tác giả thực hiện. - Dữ liệu ngành từ Vietnam Report, BMI, số liệu truyền thông và tài liệu của Cục Quản lý Dược. |
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài
Chương 1 hệ thống hóa các tài liệu khoa học trong nước và quốc tế về năng lực cạnh tranh ở cấp độ quốc gia, cấp độ ngành và cấp độ doanh nghiệp. Tác giả phân tích các mô hình lý thuyết từ trường phái dựa trên nguồn lực, mô hình chuỗi giá trị của M. Porter đến các nghiên cứu về các nhân tố cấu thành năng lực cạnh tranh. Chương này xác định các khoảng trống tri thức: các nghiên cứu trước đây về doanh nghiệp dược Việt Nam chưa lượng hóa đồng bộ các hoạt động nâng cao năng lực cạnh tranh trong bối cảnh hội nhập sâu, dữ liệu phân tích đã cũ so với biến động thị trường sau năm 2015, và chưa có công trình nào đánh giá toàn diện trường hợp của Công ty Cổ phần Traphaco theo khung tiêu chí cụ thể.
Chương 2: Cơ sở lý luận và thực tiễn về nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp dược
Chương 2 thiết lập cơ sở lý thuyết về cạnh tranh, lợi thế cạnh tranh, năng lực cạnh tranh và hội nhập kinh tế quốc tế. Tác giả xây dựng khái niệm riêng về nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp dược, xác định 8 hoạt động cốt lõi cấu thành năng lực cạnh tranh trong ngành dược phẩm (tài chính, quản lý điều hành, nhân lực, marketing, thiết bị công nghệ, tạo lập quan hệ, R&D, văn hóa doanh nghiệp) cùng các yếu tố môi trường bên trong và bên ngoài ảnh hưởng đến các hoạt động này. Đồng thời, chương 2 phân tích bài học kinh nghiệm nâng cao năng lực cạnh tranh từ các tập đoàn dược phẩm quốc tế: Tập đoàn GlaxoSmithKline (GSK - Anh), Công ty Cổ phần Dược phẩm Sanofi-Aventis (Pháp) và một số doanh nghiệp dược tại Trung Quốc, từ đó rút ra các bài học thực tiễn cho doanh nghiệp dược Việt Nam.
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu
Chương 3 trình bày chi tiết quy trình nghiên cứu gồm hai giai đoạn định tính và định lượng. Trong nghiên cứu định tính, tác giả thực hiện phỏng vấn chuyên gia và thảo luận nhóm để xây dựng hệ thống biến quan sát cho 8 tiêu chí nâng cao năng lực cạnh tranh. Trong nghiên cứu định lượng, tác giả thiết kế mẫu, xây dựng phiếu khảo sát và tiến hành kiểm định độ tin cậy thang đo bằng hệ số Cronbach’s Alpha. Dữ liệu tài chính và phi tài chính được thu thập và xử lý qua các công cụ thống kê mô tả, phân tích tỷ số tài chính nhằm phục vụ việc đánh giá thực trạng tại Chương 4.
Chương 4: Thực trạng nâng cao năng lực cạnh tranh của Công ty Cổ phần Traphaco
Chương 4 phân tích quá trình hình thành, phát triển, cơ cấu tổ chức và đánh giá chi tiết 8 khía cạnh nâng cao năng lực cạnh tranh của Traphaco giai đoạn 2014–2018:
| Khía cạnh đánh giá |
Thực trạng và kết quả phân tích theo văn bản |
| Năng lực tài chính |
Đánh giá khả năng thanh toán giai đoạn 2014–2018; phân tích các chỉ tiêu sinh lời (ROA, ROE, ROS) và chu kỳ vòng quay tiền so với các doanh nghiệp cùng ngành niêm yết (Dược Hậu Giang - DHG, Imexpharm - IMP, Domesco - DMC). Traphaco duy trì cấu trúc tài chính ổn định nhưng còn hạn chế trong việc đa dạng hóa các kênh huy động vốn. |
| Quản lý và điều hành |
Đánh giá cơ chế phân cấp quản lý, hệ thống kiểm soát nội bộ, mức độ hoàn thiện quy chế quản trị và sự chủ động của ban lãnh đạo trong việc cập nhật luật pháp, thông lệ ngành dược. |
| Nguồn nhân lực |
Thống kê kết quả đào tạo, lương bình quân của cán bộ nhân viên Traphaco qua các năm; mức độ gắn kết và phát huy sáng kiến cải tiến trong lao động sản xuất. |
| Năng lực Marketing |
Đánh giá kết quả mở rộng hệ thống phân phối (DMS, nhà thuốc OTC, kênh ETC) giai đoạn 2014–2018, tỷ lệ thông tin mã hóa trên truyền thông (giai đoạn 11/2017 - 12/2018), mức độ nhận diện thương hiệu và thị phần các dòng sản phẩm chủ lực. |
| Thiết bị và công nghệ |
Phân tích việc đầu tư nhà máy đạt chuẩn GMP-WHO, tiến trình nâng cấp tiêu chuẩn GMP-EU, GACP, GSP, GLP, GDP, GPP và mức độ hiện đại hóa dây chuyền sản xuất. |
| Năng lực tạo lập quan hệ |
Kết quả xây dựng mối quan hệ với cơ quan quản lý, viện nghiên cứu, hệ thống nhà thuốc bán lẻ, nhà cung cấp dược liệu và các đối tác tài chính. |
| Nghiên cứu & phát triển |
Đánh giá năng lực nghiên cứu phát triển sản phẩm thuốc từ dược liệu, thuốc tân dược và tỷ lệ doanh thu từ các sản phẩm mới. |
| Văn hóa doanh nghiệp |
Kết quả khảo sát mức độ nhận diện và đánh giá văn hóa Traphaco từ hai phía: đánh giá nội bộ của doanh nghiệp và đánh giá bên ngoài của khách hàng/quầy thuốc phân phối. |
Từ phân tích thực trạng, chương 4 tổng hợp các thành tựu đạt được, đồng thời chỉ ra 5 nhóm hạn chế cơ bản: (1) Khả năng huy động tài chính; (2) Hoạt động phát huy sáng kiến, cải tiến của nguồn nhân lực; (3) Năng lực Marketing và truyền thông; (4) Xây dựng quan hệ với các nhà đầu tư; (5) Công tác nghiên cứu và phát triển; kèm theo phân tích nguyên nhân chủ quan và khách quan.
Chương 5: Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh cho Công ty Cổ phần Traphaco trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế
Chương 5 phân tích bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, các yêu cầu của ngành dược Việt Nam đến năm 2025, định hướng phát triển của ngành và mục tiêu chiến lược của Traphaco giai đoạn 2020–2030. Tác giả đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh cho Traphaco:
- Nhóm giải pháp tài chính: Đa dạng hóa nguồn vốn, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động và quản lý chu kỳ tiền mặt.
- Nhóm giải pháp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực: Đổi mới công tác đào tạo chuyên sâu, hoàn thiện cơ chế khuyến khích sáng kiến và đãi ngộ nhân sự kỹ thuật cao.
- Nhóm giải pháp trọng tâm về Marketing và thị trường: Phát triển các dòng sản phẩm mới; mở rộng và nâng cao hiệu quả kênh phân phối hiện đại; tăng cường truyền thông và định vị thương hiệu.
- Các giải pháp hỗ trợ khác: Đẩy mạnh đầu tư R&D, mở rộng hợp tác công nghệ và củng cố văn hóa doanh nghiệp.
- Kiến nghị vĩ mô: Đề xuất các kiến nghị cụ thể đối với Nhà nước và Cơ quan quản lý ngành dược (Bộ Y tế, Cục Quản lý Dược) nhằm tạo môi trường cạnh tranh minh bạch, hỗ trợ phát triển vùng nguyên liệu và chuẩn hóa quy định quản lý chất lượng.
Kết quả và những đóng góp mới
Luận án tự xác định các đóng góp mới về mặt khoa học, lý luận và thực tiễn như sau:
Đóng góp về mặt lý luận
- Hệ thống hóa và bổ sung khung lý thuyết về nâng cao năng lực cạnh tranh dành riêng cho các doanh nghiệp ngành dược phẩm trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế.
- Đưa ra định nghĩa và quan điểm riêng về năng lực cạnh tranh và nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp dược.
- Thiết lập khung đánh giá toàn diện gồm 8 hoạt động cấu thành năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp dược (Tài chính, Quản lý điều hành, Nhân lực, Thiết bị công nghệ, Marketing, Quan hệ đối tác, Nghiên cứu phát triển, Văn hóa doanh nghiệp) cùng hệ thống biến quan sát và thang đo tiêu chí được kiểm định bằng phương pháp khoa học.
Đóng góp về mặt thực tiễn
- Phân tích và cung cấp bức tranh thực nghiệm toàn diện, cập nhật về thực trạng nâng cao năng lực cạnh tranh của Công ty Cổ phần Traphaco trong giai đoạn 2014–2018 thông qua việc kết hợp dữ liệu tài chính nội bộ, dữ liệu so sánh ngành và dữ liệu điều tra xã hội học từ ban lãnh đạo và mạng lưới quầy thuốc phân phối.
- Nhận diện chính xác 5 điểm nghẽn và hạn chế cốt lõi trong hoạt động nâng cao năng lực cạnh tranh của Traphaco cùng hệ thống nguyên nhân dẫn đến các hạn chế này.
- Đúc kết bài học kinh nghiệm thực tiễn từ các tập đoàn dược phẩm quốc tế (GSK, Sanofi-Aventis, các doanh nghiệp Trung Quốc) để vận dụng cho Traphaco và các doanh nghiệp dược Việt Nam.
- Đề xuất hệ thống các nhóm giải pháp có tính khả thi, trong đó nhấn mạnh giải pháp trọng tâm là nâng cao năng lực Marketing thông qua việc phát triển sản phẩm mới, hoàn thiện kênh phân phối và tăng cường hoạt động truyền thông.
- Đưa ra các kiến nghị có cơ sở khoa học đối với Nhà nước và các cơ quan quản lý ngành dược nhằm hỗ trợ sự phát triển bền vững của ngành công nghiệp dược trong bối cảnh hội nhập quốc tế.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Theo giới hạn phạm vi và dữ liệu trình bày trong văn bản luận án:
- Phạm vi nghiên cứu thực nghiệm tập trung vào Công ty Cổ phần Traphaco, việc so sánh chỉ số tài chính chỉ thực hiện đối với một số doanh nghiệp niêm yết tiêu biểu trong ngành (DHG, IMP, DMC) mà chưa bao quát toàn bộ các phân khúc doanh nghiệp dược khác (như khối doanh nghiệp dược có vốn đầu tư nước ngoài hoặc các cơ sở sản xuất quy mô nhỏ).
- Khảo sát thực tế về góc nhìn khách hàng mới tập trung vào đối tượng trung gian là các chủ quầy thuốc phân phối sản phẩm, chưa mở rộng thu thập dữ liệu trực tiếp từ người tiêu dùng thuốc cuối cùng.
- Dữ liệu đánh giá thực trạng được giới hạn trong chuỗi thời gian 5 năm (2014–2018).
Các hướng nghiên cứu tiếp theo có thể mở rộng khảo sát hành vi và mức độ hài lòng của người tiêu dùng trực tiếp, đồng thời mở rộng mô hình phân tích cho các nhóm doanh nghiệp dược có mô hình kinh doanh và cấu trúc sở hữu khác nhau trong các giai đoạn hội nhập tiếp theo.
Giá trị tham khảo
Luận án mang lại giá trị tham khảo hữu ích cho các nhóm đối tượng:
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên chuyên ngành Quản trị kinh doanh, Quản lý kinh tế: Có thể tham khảo khung lý thuyết, quy trình thiết kế thang đo 8 hoạt động nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp dược và phương pháp kết hợp định tính - định lượng trong nghiên cứu quản trị.
- Ban lãnh đạo, cán bộ quản trị chiến lược tại Công ty Cổ phần Traphaco và các doanh nghiệp dược phẩm Việt Nam: Tham khảo các tiêu chí đánh giá thực trạng, các chỉ số đối sánh tài chính - vận hành cùng các nhóm giải pháp về quản trị nguồn lực, phát triển kênh phân phối, quản lý chuỗi cung ứng và định vị thương hiệu.
- Các nhà hoạch định chính sách tại Bộ Y tế, Cục Quản lý Dược và các cơ quan quản lý nhà nước: Tham khảo các kiến nghị liên quan đến chính sách hỗ trợ phát triển ngành công nghiệp dược, quản lý chất lượng thuốc và bảo hộ nguồn dược liệu nội địa.
Câu hỏi thường gặp
1. Khung đánh giá nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp dược trong luận án gồm những hoạt động nào?
Luận án xác định khung đánh giá gồm 8 hoạt động cốt lõi: (1) Nâng cao năng lực tài chính; (2) Nâng cao năng lực quản lý và điều hành; (3) Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực; (4) Nâng cao năng lực Marketing; (5) Nâng cao trình độ thiết bị và công nghệ; (6) Nâng cao năng lực tạo lập quan hệ; (7) Nâng cao năng lực nghiên cứu và phát triển; (8) Nâng cao văn hóa doanh nghiệp.
2. Luận án sử dụng những doanh nghiệp nào để đối sánh năng lực cạnh tranh với Traphaco?
Luận án tiến hành so sánh các chỉ tiêu hoạt động và tỷ số tài chính (khả năng thanh toán, chu kỳ vòng quay tiền, ROA, ROE, ROS) của Traphaco với 3 doanh nghiệp dược niêm yết lớn trên thị trường Việt Nam gồm: Công ty Cổ phần Dược Hậu Giang (DHG), Công ty Cổ phần Dược phẩm Imexpharm (IMP), và Công ty Cổ phần Xuất Nhập khẩu Y tế Domesco (DMC).
3. Phương pháp thu thập dữ liệu định lượng của luận án được thực hiện trên những đối tượng nào?
Luận án thu thập dữ liệu định lượng qua phiếu điều tra khảo sát trên 2 nhóm đối tượng: Nhóm 1 gồm Ban lãnh đạo và cán bộ quản lý của Công ty Cổ phần Traphaco; Nhóm 2 gồm khách hàng là các chủ quầy thuốc phân phối sản phẩm của Traphaco trên cả ba miền Bắc, Trung, Nam. Thang đo được kiểm định độ tin cậy bằng hệ số Cronbach's Alpha.
4. Luận án đã chỉ ra những hạn chế cốt lõi nào trong hoạt động nâng cao năng lực cạnh tranh của Traphaco?
Văn bản luận án tổng kết 5 hạn chế chính của Traphaco giai đoạn 2014–2018 bao gồm: (1) Khả năng huy động nguồn lực tài chính; (2) Hoạt động phát huy sáng kiến, cải tiến của nguồn nhân lực; (3) Năng lực Marketing và truyền thông; (4) Hoạt động xây dựng quan hệ với các nhà đầu tư; (5) Công tác nghiên cứu và phát triển sản phẩm mới.
5. Luận án nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế từ những quốc gia và doanh nghiệp nào?
Luận án nghiên cứu kinh nghiệm thực tiễn về nâng cao năng lực cạnh tranh từ Tập đoàn GlaxoSmithKline (GSK - Anh), Công ty Cổ phần Dược phẩm Sanofi-Aventis (Pháp), và một số doanh nghiệp dược phẩm tại Trung Quốc để rút ra bài học áp dụng cho ngành dược Việt Nam.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Đỗ Văn Dũng đã hoàn thành việc hệ thống hóa cơ sở lý luận và xây dựng khung phân tích 8 hoạt động nâng cao năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp dược phẩm trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế. Bằng việc kết hợp phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng trên chuỗi số liệu thực tế giai đoạn 2014–2018, công trình đã làm rõ thực trạng, các thành tựu, 5 hạn chế cốt lõi cùng nguyên nhân trong hoạt động nâng cao năng lực cạnh tranh tại Công ty Cổ phần Traphaco. Trên cơ sở đối sánh ngành và kinh nghiệm quốc tế, luận án đã đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ đến năm 2030, trọng tâm là phát triển năng lực Marketing, đổi mới sản phẩm và hoàn thiện kênh phân phối, đồng thời đưa ra các kiến nghị cụ thể đối với cơ quan quản lý nhà nước nhằm thúc đẩy sự phát triển bền vững của doanh nghiệp dược.