CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu trên thế giới 1. Các công trình nghiên cứu về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Chủ đề về năng lực cạnh tranh (NLCT) và nâng cao năng lực cạnh tranh (NCNLCT) của DN trong thời kỳ hội nhập kinh tế, được rất nhiều nhà khoa học trên thế giới nghiên cứu. Trong đó, nổi bật là các tác giả với các nghiên cứu sau: Theo Birger Wernerfelt (1984) trong tác phẩm: “A resource-based View of the Firm”, “Quan điểm dựa trên nguồn lực công ty” cho rằng yếu tố quyết định đến NLCT và hiệu quả kinh doanh của tổ chức là nguồn lực trong tổ chức [54].
Trình bày quan điểm về nguồn lực trong tổ chức thì theo Jay Barney trong tác phẩm có tiêu đề: “Firm resource and sustained competitive advantage”, “Nguồn lực công ty và lợi thế cạnh tranh bền vững” đã đưa ra định nghĩa “ nguồn lực của DN bao gồm tất cả tài sản, khả năng, quy trình tổ chức, thuộc tính công ty, thông tin, kiến thức,…kiểm soát bởi một tổ chức cho phép nó nhận thức và thực hiện chiến lược nâng cao hiệu suất và hiệu quả của nó” [70, tr. Như vậy, quan điểm của Birger Wernerfelt cho rằng yếu tố tạo nên NLCT của DN là những yếu tố bên trong tổ chức bao gồm các nguồn lực vật chất (như công nghệ, kỹ thuật, máy móc, thiết bị, vị trí địa lý và quyền sử dụng nguyên liệu thô); Nguồn lực con người (bao gồm chiến lược đào tạo, kinh nghiệm đào tạo, óc phán xét, sự thông minh, mối quan hệ, cái nhìn sâu sắc của các nhà quản lý và nhân sự trong tổ chức); Nguồn lực tổ chức (bao gồm cơ cấu tổ chức, hệ thống lập kế hoạch, kiểm soát, phối hợp chính thức và không chính thức, cũng như các mối quan hệ phi chính thức trong DN) [70, tr. Năm 1985, Porter là người đầu tiên đưa ra quan điểm về NLCT và theo ông NLCT của DN là chuỗi giá trị mà tổ chức đó sở hữu, được trình bày trong tác phẩm có tiêu đề: “Competitive Advantage: Creating and Sustaining Superior Performance”, “Lợi thế cạnh tranh: Tạo lập và duy trì hiệu suất cao”. Cũng trong 7 cuốn sách này, Porter trình bày chuỗi giá trị là tổng thể các hoạt động liên quan đến sản xuất và tiêu thụ một sản phẩm hoặc dịch vụ nào đó, nó bao gồm 9 hoạt động, trong đó có 5 hoạt động cơ bản và 4 hoạt động bổ trợ.
Theo đó, những hoạt động cơ bản của tổ chức được coi là chuỗi giá trị là những công việc từ cung cấp nguyên vật liệu đầu vào, gia công sản phẩm, phân phối sản phẩm, đến hoạt động bán hàng và các dịch vụ sau bán hàng. Trong chuỗi giá trị diễn ra quá trình tương tác giữa các yếu tố cần và đủ để tạo ra một hoặc một nhóm sản phẩm. Các hoạt động cơ bản này trực tiếp liên quan đến luồng di chuyển (vật lý) của quá trình tạo ra giá trị sử dụng của sản phẩm và đưa sản phẩm đến với người sử dụng. Hoạt động hậu cần đầu vào liên quan đến việc tiếp nhận, lưu kho và đảm bảo nguyên vật liệu cho sản xuất.
Hoạt động sản xuất liên quan đến quá trình chế biến nguyên vật liệu đầu vào thành sản phẩm cuối cùng. Hoạt động hậu cần đầu ra liên quan đến tiếp nhận, lưu kho và phân phối thành phẩm đến nơi tiêu thụ. Hoạt động marketing và bán hàng liên quan đến việc tạo ra những phương thức và khuyến khích người mua. Dịch vụ (sau bán hàng) liên quan đến các hoạt động nhằm duy trì hoặc tăng cường giá trị của sản phẩm.
Vì vậy, đây có thể coi là các hoạt động trực tiếp liên quan đến NLCT của DN, làm tốt các hoạt động cơ bản này cũng đồng nghĩa NCNLCT vượt trội so với đối thủ cạnh tranh [85]. Năm 1998, trong tác phẩm: “Human Resource Management in Enterprise Competitiveness”, “Quản lý nguồn nhân lực đối với khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp” của tác giả Sriyan De Silva [91], trình bày về các vấn đề liên quan đến quản lý nguồn nhân lực. Một trong những nội dung nổi bật và đáng chú ý của tác phẩm này là tác giả Sriyan De Silva đã khẳng định quản lý nguồn nhân lực hiệu quả là công cụ quan trọng làm tăng khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp. Kết quả nghiên cứu này là rất giá trị đối với các DN muốn nâng cao năng lực cạnh tranh dựa trên nguồn lực con người.
Năm 2007, quan điểm về nâng cao năng lực cạnh tranh cũng được trình bày trong một nghiên cứu được công bố bởi Prashant Gupta, Rajeash Kumar Jain, và Upinder Dhar với tiêu đề: “Enhancing enterprise competitiveness: (Marketing, 8 people, IT and Entrepreneurship)”, “Nâng cao năng lực cạnh tranh doanh nghiệp thông qua Marketing, nguồn lực con người, công nghệ thông tin và kinh nghiệm kinh doanh”. Trong đó, nâng cao NLCT của DN được tiếp cận thông qua việc tăng cường tổng thể các nguồn lực của tổ chức về năng lực Markeing, nguồn nhân lực, công nghệ thông tin và chiêm nghiệm các kinh nghiệm kinh doanh của doanh nghiệp. Đáng chú ý, nghiên cứu này tìm hiểu cách NCNLCT của các DN ở các nước đang phát triển thông qua định hướng nghiên cứu nhu cầu của khách hàng, thị hiếu của thị trường, phát triển nguồn lực con người và phát triển hệ thống công nghệ thông tin nhằm ứng dụng vào hoạt động kinh doanh của tổ chức [89]. Trong tác phẩm có tiêu đề: “Intellectual Capital – The Key for Sustainable Competitive Advantage for the SME's Sector”, “Nguồn vốn trí tuệ - Chìa khóa cho lợi thế cạnh tranh bền vững của các doanh nghiệp vừa và nhỏ”, tác giả Ramona Todericiu và Alexandra Stanit đưa ra vào năm 2015 đã chỉ ra, sự quản lý hiệu quả và phát triển nguồn vốn trí tuệ là tài sản vô hình có ý nghĩa quan trọng đối với a DN.
Tác giả cho rằng, trong môi trường kinh doanh đầy biến động, các DN phải cạnh tranh gay gắt với các đối thủ của mình, do vậy, DN cần đầu tư vào quản lý, phát triển nguồn vốn trí tuệ để gia tăng LTCT trong phát triển dài hạn. Các tác giả cũng đồng thời trình bày vai trò của các tài sản vô hình và nguồn vốn trí tuệ đối với NCNLCT của quốc gia và sự phát triển bền vững của nền kinh tế [90]. Năm 2016, tác giả Dhirendra Kumar trình bày quan điểm về NLCT của DN trong tác phẩm: “Building Sustainable Competitive Advantage: Through Executive Enterprise Leadership”, “Xây dựng lợi thế cạnh tranh bền vững thông qua việc lãnh đạo”, Dhirendra Kumar sử dụng định nghĩa cơ bản của Dahlgaard-Park để xây dựng và phát triển nghiên cứu của mình. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng, để DN trở nên xuất sắc thì cần tập trung vào nhu cầu của KH trong cùng một vùng, một quốc gia hoặc trên toàn cầu.
Đây là một nội dung quan trọng khi xây dựng lợi thế cạnh tranh bền vững cho tổ chức. Theo tác giả, có nhiều DN tại Mỹ đã và đang bắt đầu đạt được sự xuất sắc dưới sự lãnh đạo và điều hành hiệu quả của người đứng đầu tổ chức, từ đó, NCNLCT của tổ chức so với các DN đến từ châu Á như: Nhật Bản, 9 Trung Quốc và Hàn Quốc,. Họ cũng đang chuẩn bị nguồn lực để giải quyết được vấn đề đặt ra khi áp lực cạnh tranh ngày càng gia tăng từ Liên Minh Châu Âu. Đáng chú ý là trong cuốn sách này trình bày định nghĩa về một DN xuất sắc, trong đó, có ba yếu tố chính tạo nên LTCT của một DN xuất sắc bao gồm: (1) Làm hài lòng tối đa khách hàng; (2) Thời gian chu kỳ kinh doanh tối thiểu; Và (3) nguồn lực tiêu dùng tối thiểu.
Và để duy trì sự xuất sắc và ngày càng nâng cao LTCT của DN thì vai trò của những người đứng đầu tổ chức như BLĐ và CBQL là rất quan trọng, do đó, nghiến cứu này đã đưa ra một số giải pháp cho BLĐ và CBQL có thể điều hành tổ chức hiệu quả hơn so với đối thủ trong và ngoài ngành [62]. Nhìn chung, chủ đề NLCT được nghiên cứu bởi các tác giả trên thế giới chủ yếu là các đề tài được phân tích, đánh giá ở phạm vi các nước đang phát triển. Các nghiên cứu trên bàn luận về NLCT của DN theo các hướng tiếp cận khác nhau.Tuy nhiên, quan điểm chung của các nhà nghiên cứu đều cho rằng NLCT của DN là các yếu tố liên quan đến nguồn lực bên trong của DN, là năng lực của người lãnh đạo và khả năng của DN trong việc sử dụng các yếu tố đầu vào một cách hiệu quả, đáp ứng nhu cầu của thị trường. Bên cạnh đó, các nghiên cứu cũng chỉ ra bí quyết để NCNLCT cho DN thì cần tập trung vào quản lý đầu tư để phát triển nguồn vốn vô hình và vốn trí tuệ trong tổ chức đó.
Các công trình nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp NLCT của DN chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố bên trong và yếu tố bên ngoài của tổ chức. Trong tác phẩm: “Competitiveness of firms: Review of theory, Frameworks and Models”, “Lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp: Lý thuyết, khung phân tích và mô hình” của tác giả Ambastha và Momaya (2004) [53] đưa ra lý thuyết về NLCT ở cấp độ DN. Theo nhóm tác giả, NLCT của DN chịu ảnh hưởng bởi các yếu tố như: (1) Nguồn lực (nguồn nhân lực, cấu trúc, văn hóa, trình độ khoa học công nghệ, tài sản của DN); (2) Quy trình (chiến lược, quy trình quản lý, quy trình công nghệ, quy trình tiếp thị); (3) Hiệu suất (chi phí, giá cả, thị phần, phát triển sản phẩm mới). Tuy nhiên, nghiên cứu này chưa đánh giá được NLCT của các DN 10 khác nhau về quy mô, địa lý và lĩnh vực hoạt động, vì thế, nghiên cứu vẫn còn nhiều hạn chế nếu vận dụng cho nhiều DN ở những qui mô, địa lý và lĩnh vực hoạt động khác nhau.
Tác giả Chi Kun, Ho (2005) đã nghiên cứu mối quan hệ giữa các hoạt động quản trị và NLCT của DN, trong nghiên cứu với tiêu đề: “Corporate Governance and Corporate Competitiveness: An international analysis”, “Lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp: Lý thuyết, khung phân tích và mô hình”. Tác giả đưa ra mô hình đo lường các hoạt động quản trị trong tổ chức thông qua năm khía cạnh: (1) Cơ cấu hội đồng quản trị; (2) Cương vị quản lý; (3) Chiến lược lãnh đạo; (4) Sở hữu tập trung và các mối quan hệ vốn - thị trường; Và (5) trách nhiệm xã hội, cả năm yếu tố này có mối quan hệ tương quan với NLCT của DN.