Chương I : Cỡ sở lý luận và thực tiễn của đề tai nghiên cứu I. Lịch sử vấn đề nghiên cứu Ra đời năm 1905 tại Pháp. đầu tiên trắc nghiệm được dùng để đo trí thông minh hay xác định chi số thông minh IQ ở lứa tuổi học trò, phương pháp này được chỉnh li và công bố ở Mĩ năm 1911. Ở châu Âu và đặc biệt là ở Mỹ.
lĩnh vực khoa học đo lường trong giáo dục phát triển mạnh vào thời kỳ từ trước và sau thé chiến thứ hai với vài dấu mốc quan trọng như Trắc nghiệm trí tuệ Stanford-Binet xuất bản năm 1916, việc đưa vào chấm trắc nghiệm bằng may của IBM năm 1935. Với việc thành lập NCME (viết tắt của National Council on Measurement in Education) vào thập niên 1950 và ra đời ETS (viết tắt của Educational Testing Service) năm 1947 và ACT (viết tắt của American Testing Service) sau đó, một ngành công nghiệp trắc nghiệm đã hình thành ở Mỹ. Từ đó đến nay, khoa học về đo lường trong tâm lý và gido dục đã phát triển liên tục. ở Mỹ, ước tính mỗi năm số lượt trắc nghiệm tiêu chuẩn hoá cỡ 1⁄4 tỷ và trắc nghiệm đo giáo viên soạn lên đến con số 5 tỷ.
Cùng với sự phát triển của công nghệ tính toán, lý thuyết về đo lường trong tâm lý giáo dục cũng phát triển rất nhanh, và Lý thuyết Ung đáp Câu hỏi (Item Respond Theory - IRT) ra đời, đạt những thành tựu quan trọng nâng cao độ chính xác của trắc nghiệm. Tại Việt Nam trước năm 1975, ở miền Bắc, chỉ có một số nghiên cứu về đo lường trong tâm lý, trong khi ở miền Nam có một vải chuyên gia được đào tạo ở Mỹ về lĩnh vực này và kỳ thi tú tài năm 1974 đã triển khai bằng phương pháp trắc nghiệm khách quan (TNKQ). Sau năm 1975, một số trường vẫn áp dụng TNKQ song có nhiều tranh luận nên không áp dụng TNKQ trong thi cử. Từ năm 1993, hình thức thi TNKQ đã bắt đầu được áp dụng trở lại.
Bộ GD ~ ĐT đã tô chức nhiều hội thảo nhằm mục đích nghiên cứu, tim hiểu về phương pháp thi trắc nghiệm. Nhưng sự phát triển khoa học vẻ đo lường trong giáo dục ở Việt Nam vẫn rất yếu. Dé khắc phục tinh hình trên, Vụ Dai học, Bộ Giáo dục và Dao tạo đã mời một số chuyên gia tử nước ngoài sang tô chức hội thảo. xuất bản sách.
mặt khác cứ một số giáo chức đại học đi học ở nước ngoải về khoa học này. các tác giả của các báo, các tài liệu nghiên cứu đã bản luận vẻ phương pháp trắc nghiệm khách quan ngày cảng nhiễu hơn và phương pháp này đã được nghiên cứu sâu hơn. Điển hình là các tác giả như : Vũ Trường ————— => —— GVHD : GVC Th.S Hồ Xuân Đậu Trang 7 Luận văn tốt nghiệp SVTH : Nguyễn Thị Ngân Giang Giang bản về xây dựng và sử dụng câu hỏi trắc nghiệm chuân hóa do kết quả học tập của học sinh; Lê Thị Mỹ Hà đã bỏi sung, làm những khái niệm về kiểm tra đánh giá; Vũ Thị Hué bản vẻ sử dụng câu hỏi trắc nghiệm giáo dục: Nguyễn Vũ Bích Hiền dé xuất về phương pháp đánh giá kết qua học tập của học sinh bằng trắc nghiệm khách quan. Cũng từ đó một số trưởng Đại học có tổ chức các nhóm nghiên cửu áp dụng các phương pháp đo lường trong giáo dục đẻ thiết kể các công cụ đánh giá, soạn thảo các phần mềm hỗ trợ, mua máy quét quang học chuyên dụng (OMR) dé cham thi.
Một điểm mốc đáng ghi nhận lả vao tháng 7 năm 1996, ky thi tuyển đại học thí điểm bằng phương pháp TNKQ đã được tổ chức tại trường Đại học Đà Lạt. Tiếp đó năm 1998 là trường Đại học Tây Nguyên, Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chi Minh cũng thi hình thức này cho khối B từ năm 1999 và tháng 10 năm 2004, Dai học Cần Thơ tô chức thi tuyển sinh ngành đại học không chinh quy bằng hình thức thi TNKQ. Hiện nay, nhiều nước như Hoa Kỷ, Nhật Bản, Trung Quốc, Han Quốc. Thái Lan đã tổ chức tuyển sinh Dai học bằng phương pháp trắc nghiệm Ở Việt Nam, tháng 7 năm 2006, môn ngoại ngữ đã được thi theo hình thức trắc nghiệm trong kì thi tuyển sinh Đại học.
Đến năm 2007, Bộ giáo dục và Đào tạo chủ trương sẽ tuyển sinh Đại học bằng phương pháp trắc nghiệm khách quan một số môn nữa như : Môn hóa học, vật lí, sinh học. Và trong tương lai, TNKQ sẽ là phương thức chủ yếu được áp dụng trong các kì thi và kiểm tra đánh giá kiến thức của học sinh và sinh viên. Trắc nghiệm khách quan trong kiểm tra - đánh giá kết quả học tập 1.Các phương pháp kiểm tra — đánh giá trong giáo dục Hiện nay, đa số các nhà khoa học giáo dục phân chia các phương pháp kiểm tra - đánh giá làm 3 nhóm : quan sat, kiểm tra viết và vấn đáp. GVHD : GVC Th.S Ho Xuân Đậu Trang 8 Luận văn tốt nghiệp SVTH : Nguyễn Thị Ngân Giang Các phương pháp kiểm tra - đánh giá aon 1.
Quan sat Giúp người giáo viên xác định những thai độ, những khó khăn những phản ứng vô thức, những kỹ năng thực hành và một số kỹ năng khác về nhận thức, chẳng hạn cách giải quyết vấn đề trong một tình huống đang được nghiên cứu. Đối với hoá học - môn khoa học thực nghiệm, phương pháp quan sát có ý nghĩa rat quan trọng. Qua việc quan sát các thao tác va kỹ năng thí nghiệm của học sinh, người giáo viên có thể đánh giá được hứng thú, nhiệt tình, thái độ học tập và một phần nào kết quả học tập của học sinh. Hoặc qua việc quan sát thái độ của học sinh khi đi thực tế, tham quan các nhà máy, các cơ sở sản xuất, hoặc các hoạt động ngoại khóa hóa hoc, người giáo viên có thé đánh giá được một số mặt ở học sinh.
Vấn đáp Van đáp có tác dụng tốt dé đánh giá khả năng ứng đáp các câu hỏi được nêu một cách tự phát trong một tình huống cần kiểm tra. cũng thường được sử dụng khi tương tác giữa người hoi và người đối thoại là quan trọng. chăng hạn để xác định thái độ người đôi thoại. Kiểm tra vẫn đáp có thể kiểm tra được khối lượng kiến thức "rộng" hơn so với kiểm tra viết.
GVHD : GVC Th.S Hé Xuân Đậu Trang 9 Luận văn tốt nghiệp SVTH : Nguyễn Thị Ngân Giang Kiểm tra van đáp ít tác dụng trong việc phát triển cho học sinh năng lực trình bày, hệ thông hóa kiến thức, năng lực dién đạt kiến thức bằng van viết. Nếu các bai thi học kỷ. thi cuối năm sử dụng hình thức kiểm tra van đáp sẽ mắt nhiều thời gian, hoặc trên lớp với thời gian hạn chế người giáo viên chi có thé sử dụng một số ít câu hỏi với một số học sinh hạn chế. Đôi khi việc kiểm tra van đáp có thé kéo dai vi một số học sinh chudn bị bai hôm đó không tốt.
giáo viên lại không muốn đánh giá không đúng vé học sinh này nên kiểm tra chi tiết hơn, như vậy ảnh hưởng đến thời gian giảng bài mới. Viết Viết thưởng được sử dụng nhiều nhất, vì nó có các ưu điểm sau : + Cho phép kiểm tra nhiều thí sinh cùng một lúc. + Cho phép thí sinh cân nhắc nhiều hơn khi trả lời. + Có thể đánh giá một số loại tư duy ở mức độ cao.
+ Cung cấp các bản ghi trả lời của thi sinh để nghiên cứu kỹ khi chấm điểm. + Dé quản lý vi người chấm không tham gia trực tiếp vào bôi cành kiểm tra. - Viết được chia thành hai nhóm chính : + Nhóm các câu hỏi tự luận (TL - essay test) : Các câu hỏi buộc phải trả lời theo dạng mở, thí sinh phải tự mình trình bày ý kiến trong một bài viết để trả lời câu hỏi nêu ra. + Nhóm các câu hỏi trắc nghiệm khách quan (TNKQ - objective test) : Đề thi thường bao gồm rất nhiều câu hỏi, mỗi câu nêu lên van dé và những thông tin cẩn thiết để thí sinh có thé trả lời một cách ngắn gọn.Trắc nghiệm tự luận và trắc nghiệm khách quan 2.
Trắc nghiệm tự luận 2. Khái niệm Trắc nghiệm tự luận là phương pháp đánh giá kết quả học tập bằng việc sử dụng công cụ đo lường là câu hỏi. Học sinh làm những bài kiểm tra viết trong những khoảng thời gian khác nhau tủy theo yêu cầu của dé thi (15 phút đến 180 phút). Học sinh phải tự trả lời và diễn đạt nó bằng ngôn ngữ của chính minh.
Một bai kiểm tra tự luận gồm một số câu hỏi tương đối ít và có tinh tổng quát. đòi hỏi học sinh phải trả lời theo cách hiểu của minh. Vi vậy, kiểm tra tự luận doi hỏi có nhiều thời gian để suy nghĩ vả viết. Ưu điểm và nhược điểm của trắc nghiệm tự luận a) Ưu điểm + Dễ ra để ở mọi nhu câu nhận thức.
+ Soạn đẻ nhanh, ít tốn công sức. + Kiểm tra sâu về một vấn đề (hiểu vả vận dụng kiến thức). GVHD : GVC Th.S Hỗ Xuân Đậu Trang 10 Luận văn tốt nghiệp SVTH : Nguyễn Thị Ngân Giang + Rèn luyện cho học sinh khả năng trình bày bang ngôn ngữ viết. + Kiểm tra quá trình suy nghĩ của học sinh đối với nội dung kiểm tra.
Dinh giá được khả nang tư duy lý luận, giải quyết vấn dé, tính sáng tạo. + Không thể đoán mò nội dung câu trả lời. Nội dung trả lời do người học lựa chọn. cho nên có thẻ biết được những đặt điểm.
hạn chế của người học. + Dễ biết được hiện tượng trao đổi bai. b) Nhược điểm + Không kiểm tra được bẻ rộng của kiến thức. Dễ dẫn đến hiện tượng học tủ.
+ Không rèn luyện được khả năng trình bày bảng ngôn ngữ nói cho học sinh. + Kết quả bài kiểm tra phụ thuộc rất nhiều vao cách cham điểm của gido viên. Khó chấm chính xác, độ tin cậy thường thấp. + Mắt nhiều thời gian cham bai.
+ Khó ra nhiều dé có độ khó tương đương. Trắc nghiệm khách quan 2. Khái niệm Trắc nghiệm khách quan là phương pháp kiểm tra - đánh giá kết quả học tập của học sinh bằng hệ thống câu hỏi trắc nghiệm khách quan. Trắc nghiệm được gọi là khách quan vì cách cho điểm là khách quan chứ không chủ quan như trắc nghiệm tự luận.
Trắc nghiệm khách quan là những bải tập nhỏ hoặc câu hỏi có sẵn các phương án trả lời, yêu cầu học sinh suy nghĩ và chọn phương án trả lời đúng nhất bằng một ký hiệu nhất định.