Chương Il CƠ SỞ LÝ LUẬN I- Đặc tính của hệ thống câu hỏi trắc nghiệm nhiều lựa chọn Câu hỏi nhiéu lựa chọn bao gdm một vấn để và một danh sách các giải pháp để nghị. Vấn để được trình bày đưới dang câu hỏi trực tiếp hoặc câu bỏ lửng và được gọi là phân gốc của câu hỏi. Danh sách các giải pháp để nghị có thể gồm từ ngữ, số liệu, kí hiệu hoặc cụm từ và được gọi là phần lựa chọn. Đặc trưng của câu dạng này là học sinh phải đọc phần gốc và phần lựa chọn, sau đó chọn câu trả lời đúng hoặc đúng nhất.
Chỉ có một câu trả lời đúng cho mỗi câu hỏi và nó được gọi là đáp án, những câu còn lại gọi là mdi nhỉ. Những lựa chọn không đúng ấy xuất phát từ chức năng đã định sẵn của nó - đánh lừa những học sinh nào nghi ngờ đó là câu trả lời đúng. Việc sử dụng câu điển khuyết hay câu hỏi trực tiếp trong phần gốc phụ thuộc vào nhiều yếu tố. Dạng câu hỏi trực tiếp thì dễ viết, tự nhiên hơn và có triển vọng hơn trong việc trình bày rõ ràng một vấn để.
Mặt khác, câu điển khuyết ngắn gọn hơn và nếu được diễn đạt một cách khéo léo thì vấn để được trình bày vẫn có giới hạn rõ rằng. Cách thông thường phổ biến là bất đầu mỗi phần gốc bằng câu hỏi trực tiếp, có thể chuyển thành câu điển khuyết chỉ khi nào vấn để rõ rang, sáng sianva id nên ngắn gọn hơn. ® Dạng câu hỏi trực tiếp: Bán kính nguyên tử của các nguyên tố tăng dẫn theo chiéu di chuyển nào trên bảng phân loại tuần hoàn ? *a, Từ trên xuống dưới và từ phải sang trái b. Từ trên xuống dưới và từ trái sang phải c.
Từ dưới lên trên và từ phải sang trái SVTH: Lê Thị Thiện Mỹ Giang ó Luận văn tốt nghiệp d. Từ dưới lên trên và từ trái sang phải ce. Theo đường chéo từ hàng |, cột HA ( câu 8 trang 18-Trắc nghiệm hóa học- Lê Trọng Lập - 1974 ) ® Dang câu điển khuyết: Trên bảng phân loại tuần hoàn, bán kính nguyên tử của các nguyên tố tăng dan theo chiều: *a. Từ trên xuống dưới và từ phải sang trái b.
Từ trên xuống đưới và từ trái sang phải c. Từ dưới lên trên và từ phải sang trái d. Từ dưới lên trên và từ trái sang phải c. Theo đường chéo từ hàng 1, cột IIA ey“Trong những lựa chon trên chỉ có một câu tr lời đúng.
Trên bảng phân loại tuân hoàn, bán kính nguyên tử của các nguyên tố tăng dẩn theo chiểu từ trên xuống dưới và từ phải sang trái vì: + Khi đi từ trên xuống dưới, số lớp electron tăng lên nên bán kính nguyên tử tăng. + Khi đi từ trái sang phải, điện tích hạt nhân Z tăng dần là do kích thước giữa hạt nhân và các lớp electron tăng dẫn tới bán kính nguyên tử giảm. Vì vậy, khi đi từ phải sang trái bán kính nguyên tử tăng. Có lý lẽ rõ ràng để chứng minh tính đúng đắn của lựa chọn a, đó là đáp án đúng của câu hỏi nhiều lựa chọn trên.
Tuy nhiên, theo Gronlund và Linn ( 1990 ) không phải tất cả các kiến thức déu được phát biểu một cách chính xác để chỉ có một câu trả lời đúng tuyệt đối. Thật vậy, nếu kiến thức được trình bày lại dưới dạng các câu hỏi ai, cái gì, khi nào và ở đâu, đáp án đúng với mức độ chấp nhận khác nhau dựa trên luật lệ hơn là loại suy. Ví dụ như câu hỏi dang tai sao tiết lộ một số lí do có thể có, một vài lí do chính đáng hơn các lí do khác. Tương tự như vậy, câu hỏi SVTH: Lê Thị Thiện Mỹ Cang 7 Luận văn tốt nghiệp dạng như thế nào thường tiết lộ những cách tiến hành có thể có, một vài tiến hành đáng chú ý hơn.
Mức độ chuẩn xác của các vấn để này trở thành yếu tố quyết định cho việc chọn câu trả lời đúng nhất. Dạng này đặc biệt có lợi cho việc đo lường kết quả học tập dạng hiểu, biết, 4p dung hay thuyết trình một thông tin thực tế. Tuy nhiên, ta phải cẩn thận để chọn câu trả lời đúng nhất, thường được chấp nhận bởi các nhà chuyên môn. ® Dạng câu trả lời đáng nhất: Yếu tố nào dưới đây có ý nghĩa quyết định nhất đến tính chất hóa học của một nguyên tố ? a.
Số electron ngoài vỏ b. Số proton trong nhân c. Tổng số electron và proton *d. Số electron lớp ngoài cùng "Cu hỏi nhiễu lựa chọn dang đúng nhất có xu hướng khó hon câu hỏi dạng đúng-sai.
Phần lớn điểu đó là do độ phân cách đòi hỏi phải hẹp hơn và thực tế câu dạng này thường đo lường kết quả học tập dạng phức tạp. 2- Thuận lợi và hạn chế của hình thức trắc nghiệm nhiều lựa chọn Loại câu trắc nghiệm nhiều lựa chọn có thể được trình bày dưới nhiều dạng khác nhau và nó là loại câu có nhiều ưu điểm nhất. @ Thứ nhất, vì nó có thể được ding để đo lường một cách hiệu quả nhiều loại mục tiêu giáo dục quan trọng như: biết, hiểu, phê phán, khả nang giải quyết vấn dé, khả năng đưa ra những điều tiên đoán, khả năng để ra những hoạt động thích hợp v.nên nó là loại rất thông dụng trong các bài trắc nghiệm khách quan. SVTH: Lê Thị Thiện Mỹ Trang % Luận văn tốt nghiệp ® Thứ hai, hầu hết mọi khả năng vốn được khảo sát bằng các loại luận để, câu hỏi ngắn, câu trắc nghiệm đúng-sai, điển thế v.déu có thể khảo sát bằng loại câu nhiều lựa chọn.
® Thứ ba, câu nhiều lựa chọn ít chịu các sai số may rủi do đoán mò hơn so với loại câu đúng-sai. Mặc dù có nhiều ưu điểm, câu nhiều lựa chọn cũng vẫn bị chỉ trích (1) Câu nhiều lựa chọn khuyến khích sự đoán mỏ ? Xét về mặt lý thuyết, học sinh có thể đoán mò và đạt điểm tối đa trên một bài trắc nghiệm khách quan chỉ khi bài trắc nghiệm ấy ngắn và chỉ gồm những câu hai lựa chọn hay câu đúng-sai. Hoặc có thể nhờ đoán mò học sinh có thể đạt điểm cao hơn so với thực lực của họ. Thế nhưng, trong thực tế, ít học sinh có hỉ vọng đạt điểm cao trên bài trắc nghiệm vài chục câu, và mỗi câu đều có nhiều lựa chọn.
Bởi vậy, mặc dù học sinh có thể đoán mò nhưng lối đoán mò ấy hiếm khi có hiệu quả. Thật ra, không phải lúc nào học sinh cũng 4p dụng lối đoán mò. Học sinh chỉ đoán mò khi họ không có chút kiến thức nào liên quan đến câu hỏi, khi đã gần hết thời gian qui định hay khi họ không thể suy nghĩ và tiếp tục làm bài được nữa. Thông thường, học sinh vẫn có chút hiểu biết liên quan đến câu hỏi và vận dụng tối đa sự hiểu biết của mình để tìm ra câu trả lời đúng.
Như vậy, câu trắc nghiệm đó cũng đóng góp tích cực vào việc đo lường thành quả học tập của học sinh. Muốn khẳng định học sinh có đoán mò hay không ta phải xem xét độ tin cậy của bài trắc nghiệm. Nếu tất cả học sinh đều đoán mò thì hệ số tin cậy của bài trắc nghiệm là 0. Vì vậy, nếu bài trắc nghiệm đạt hệ số tin cậy cao thì ta có thể tin tưởng rằng học sinh rất ít dùng lối đoán mò.
(2) Câu nhiêu lựa chọn chỉ đòi hỏi người học nhận ra thay vì nhớ thông tin ? SVTH: Lê Thị Thiện Mỹ Quang 9 ¬ Luận văn tốt nghiệp Các nhà nghiên cứu đã tìm hiểu vấn để này bằng cách so sánh trắc nghiệm với luận để và hình thức điển khuyết. Choppin và Purves ( 1969 ) đã so sánh trắc nghiệm nhiều lựa chọn với luận để và chứng minh trắc nghiệm cũng tiên đoán thành quả học tập tổng quát của học sinh tương đương với luận để. Nhiều công trình khác so sánh hai hình thức trắc nghiệm nhiều lựa chọn và điển khuyết đã kết luận rằng có sự tương quan gắn như hoàn toàn giữa các điểm số của học sinh về hai hình thức ấy. Hơn thế nữa, những lời chỉ trích cho rằng học sinh chỉ nhận ra thay vì nhớ thông tin là không đúng.
Trắc nghiệm nhiều lựa chọn không chỉ giới hạn trong việc khảo sát những gi học sinh đã nghe hay đọc trước đó, những thông tin mang tính chất sự kiện mà nó còn hướng đến đo lường nhiều kha năng cao hơn thế như giải thích, phân biệt, chứng minh v. (3) Trắc nghiệm không khảo sát mức độ cao của quá trình tư duy ? Các quá trình tư duy cao có thể được mô tả bằng nhiều cách: suy luận, khái quát hóa, phán đoán, qui nạp, tưởng tượng v.Nhiểu người nghĩ rằng chỉ có luận để mới khảo sát được các quá trình tư duy cao còn trắc nghiệm chỉ khảo sát được khả năng nấm vững thông tin mang tính chất sự kiện mà thôi. Diéu này không đúng trừ khi người soạn thảo cẩu thả hoặc chưa nfm vững các mục tiêu giảng dạy và đánh giá. Với kỹ thuật giáo dục ngày càng hiện đại, các nhà làm trắc nghiệm có thể phân tích được những khả năng nào mà bài trắc nghiệm đã khảo sát được.
(4) Trắc nghiệm không khảo sát được khả năng sáng tạo ? Vấn để khảo sát khả năng sáng tạo là một vấn dé khó khăn, phức tạp và cũng là mối quan tâm hàng đầu của tất cả các nhà giáo dục. Người ta vẫn thường nghĩ rằng luận để có ưu điểm là khuyến khích sự súng tạo. Xét trên nguyên tắc, bài luận để yêu cầu học sinh tổ chức, sắp xếp SVTH: Lê Thị Thiện Mỹ Frang 10 Luận văn tốt nghiệp lại các ý tưởng của mình và trình bày các ý tưởng ấy bằng ngôn ngữ của chính mình. Vì vậy, luận để có khả năng khêu gợi và phát huy tính sáng tạo.
Khác với luận để, trắc nghiệm nhiều lựa chọn bao gồm những câu hỏi với những câu trả lời có sẩn mà học sinh chỉ việc lựa chọn. Như vậy, liệu trắc nghiệm nhiều lựa chọn có thể khảo sát được khả năng sáng tạo hay không ? Các chuyên gia trắc nghiệm đang ở trong giai đoạn nghiên cứu và thử nghiệm việc khảo sát khả năng sáng tạo theo hình thức trắc nghiệm. Khuyến khích sự sáng tạo là một trong những mục tiêu quan trọng của giáo dục nhưng đo lường được khả năng ấy một cách đáng tin cậy là một vấn để hết sức nan giải không những cho trắc nghiệm mà cho cả luận đề.