Đặt vấn đề Việt Nam là một nước thuộc khu vực Đông Nam của Châu Á. Đất nước được hưởng nhiều điều kiện thuận lợi từ tự nhiên, nơi đây những con người chăm chỉ, cần cù và sáng tạo trong lao động, họ đang từng ngày tạo ra cho nền nông nghiệp Việt Nam một diện mạo mới với những bước nhảy vọt đáng khâm phục. Nền nông nghịêp Việt Nam đang vững bước đi trên đôi chân của chính mình đó là hai ngành trực thuộc cây và con. Cây là đại diện cho ngành trồng trọt, con là đại diện cho ngành chăn nuôi.
Song song với việc ngành chăn nuôi ngày một phát triển thì bênh cạnh đó cũng xuất hiện rất nhiều các loại dịch bệnh đa dạng và phổ biến ảnh hưởng không nhỏ đến ngành chăn nuôi. Xuất phát từ nhu cầu thực tế, nhiều công ty đã cho ra đời nhiều loại thuốc thú y, vắc-xin, chế phẩm sinh học nhằm đẩy lùi dịch bệnh. Để đảm bảo về chất lượng sản phẩm thì không thể thiếu được khâu thử ngiệm và kiểm tra hiệu lực của thuốc trên động vật thí nghiệm. Sử dụng động vật làm thí nghiệm từ lâu đã không còn xa lạ trong các công trình nghiên cứu chế tạo thuốc vắc-xin ở người cũng như trên động vật.
Các động vật thường được sử dụng làm thí nghiệm là chuột, thỏ, lợn, gà… tùy vào loại thuốc. Thí nghiệm trên động vật giúp đảm bảo an toàn cho vật nuôi trước khi đưa thuốc vào sử dụng và phục vụ cho các công trình ngiên cứu khoa học. Hiểu được tầm quan trọng của việc sử dụng động vật làm thí ngiệm, nhằm nắm được quy trình chăm sóc nuôi dưỡng cũng như tập tính sinh hoạt của động vật làm thí nghiệm, em tiến hành đề tài “Thực hiện quy trình nuôi dưỡng và chăm sóc động vật thí nghiệm tại Công ty cổ phần thuốc thú y Đức Hạnh Marphavet” 1. Mục đích và yêu cầu của đề tài 1.
Mục đích - Tìm hiểu quy trình chăm sóc nuôi dưỡngđộng vật sử dụng làm thí nghiệm cụ thể là lợn con và thỏ. c 2 - Xác định tỷ lệ nuôi sống của động vật, nguyên nhân và kết quả. Yêu cầu - Hiểu biết về động vật sử dụng là thí nghiệm (đặc điểm, tập tính sinh hoạt, điều kiện chăm sóc). - Hiểu rõ các yếu tố ảnh hưởng đến sức đề kháng của động vật thí nghiệm như: nhiệt độ, chế độ dinh dưỡng, vệ sinh.
- Thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng cho động vật thí nghiệm tại khu chăn nuôi. - Theo dõi sát sao, nghiêm túc, trung thực và chính xác. c 3 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Điều kiện nơi thực tập 2.
Giới thiệu về công ty - Công ty CP Thuốc Thú y Đức Hạnh Marphavet được thành lập tháng 12 năm 2002, hoạt động kinh doanh chính trong các lĩnh vực: Sản xuất vắc xin phòng bệnh, sản xuất kinh doanh thuốc thú y, dược phẩm, thực phẩm chức năng, chế phẩm sinh học, thức ăn chăn nuôi… cùng thời điểm đó Đảng và Nhà nước ta tăng cường giám sát, quản lý, thúc đẩy các doanh nghiệp trong nước phát huy hết nội lực, sản xuất sản phẩm chất lượng cao, phù hợp với tiêu chuẩn Quốc tế, hướng đến xuất khẩu, theo đó những doanh nghiệp sản xuất thuốc thú y vừa và nhỏ, máy móc trang thiết bị cũ và lạc hậu, sản xuất manh mún, tận dụng, cơ hội sẽ khó tốn tại được. Dần dần dành chỗ cho những cơ sở thuốc thú y có chất lượng cao, uy tín, hợp vệ sinh thú y, trang thiết bị máy móc hiện đại phù hợp với tiêu chuẩn Quốc tế. Giá thành điều trị rẻ, hiệu quả kinh tế và hiệu quả điều trị bệnh cao. Nhận thức được sâu sắc vấn đề đó tạo thể ban lãnh đạo, cán bộ công nhân viên công ty Marphavet quyết tâm đầu tư và xây dựng thương hiệu Marphavet, xây dựng chiến lược sản phẩm có chiều sâu mang lại hiệu quả kinh tế cao cho người sử dụng.
Marphavet có một tập thể các Giáo sư, Tiến sĩ, Thạc sỹ có nhiều kinh nghiệm thực tế trong ngành. Có đội ngũ Bác sỹ thú y giỏi, đội ngũ công nhân có tay nghề cao. Đức Hạnh Marphavet đầu tư, tìm tòi, nghiên cứu, phát hiện hệ tá dược có nguồn gốc tự nhiên. Sản phẩm của Đức Hạnh Marphavet đa dạng và phong phú về chủng loại.
Trụ sở nhà máy của công ty đặt tại Xã Trung Thành- Phổ Yên- Thái Nguyên và 12 chi nhánh khác trên cả nước như: Chi nhánh Cần Thơ, Chi nhánh Quận 9 - TPHCM, Chi nhánh Đồng Nai, Chi nhánh Đắk Lắc, Chi nhánh Nha Trang, Chi nhánh Đà Nẵng, Chi nhánh Huế, Chi nhánh Hải Phòng và Chi nhánh Mỹ Đình - Hà Nội. Những thành tựu đạt được - Sau hơn 12 năm hoạt động, Marphavet đã có những bước phát triển vượt bậc cả về quy mô sản xuất kinh doanh, thị trường và số lượng cán bộ chuyên nghiệp có chiều sâu, am hiểu sâu sắc tư duy quản trị. Hiện tại, Marphavet có 4 công ty thành viên và 12 chi nhánh tại các thành phố lớn gồm: Công ty CP thuốc thú y Đức Hạnh Marphavet, Công ty cổ phần Nanovet, Công ty cổ phần BMG, Công ty cổ phần Hoàng Đức Hiền. Với tổng diện tích hơn 12,5 ha và 2 nhà máy đạt tiêu chuẩn GMP/WHO trên cả 6 dây chuyền thuốc và vắc-xin công nghệ cao.
Sản phẩm của Marphavet phủ khắp 63 tỉnh thành trong cả nước và xuất khẩu sang trên 10 nước trên Thế giới. Hệ thống nhà phân phối và đại lý với số lượng hơn 8. Marphavet có đội ngũ nhân sự chuyên môn trình độ cao với hơn 1.000 CBNV bao gồm 2 Giáo sư, 5 Phó Giáo sư, 8 Tiến sỹ, 29 Thạc sỹ, trên 500 Bác sĩ thú y và Kĩ sư chăn nuôi, 15 Dược sĩ nhân y, 12 Cử nhân Công nghệ sinh học có nhiều kinh nghiệm thực tế trong ngành, hơn 250 Cử nhân kinh tế, Kế toán, Luật, Nhân văn, Quản trị kinh doanh, Marketing, Cơ khí chế tạo máy, Điện lạnh…có trình độ chuyên môn thường xuyên được tập huấn ở nước ngoài và các chuyên gia nước ngoài sang đào tạo, đội ngũ công nhân thâm niên lành nghề, môi trường làm việc thân thiện, chuyên nghiệp, nhiều cơ hội thăng tiến. Ngoài ra Công ty đang hợp tác tốt với các Bộ, Vụ, Cục, Viện, Liên hiệp, Hội, Trung tâm và các trường đại học trong và ngoài nước.
Cơ sở khoa học của đề tài 2. Đối với động vật thí nghiệm là lợn 2. Đặc điểm tiêu hóa ở lợn - Lợn là loài gia súc dạ dày đơn, cấu tạo bộ máy tiêu hoá của lợn bao gồm miệng, thực quản, dạ dày, ruột non, ruột già và cuối cùng là hậu môn. Khả năng tiêu hóa của lợn với các loại thức ăn cao thường có tỷ lệ từ 80 – 85% tuỳ từng loại thức ăn.
c 5 - Quá trình tiêu hóa : + Miệng: Ở miệng của lợn quá trình têu hóa diễn ra chủ yếu dưới hai hình thức : cơ học (quá trình nhai thức ăn) và hóa học (do tác dụng của men tiêu hóa trong nước bọt). Thức ăn ở miệng được cắt nghiền nhỏ bởi động tác nhai và thức ăn trộn với nước bọt làm trơn để được nuốt trôi xuống dạ dày. Theo Trần Văn Phùng và cs (2004) [6] do bản chất háu ăn, ăn nhanh nên lợn ít nhai nghiền, lợn lấy thức ăn và nhai trong thời gian rất ngắn, do vậy thức ăn dừng ở khoang miệng không lâu đã được chuyển xuống dạ dày. Mặc dù vậy nước bọt của lợn vẫn được tiết ra với lượng lớn khoảng 15-16 lít.
Nước bọt chứa phần lớn là nước (tới 99%) trong đó chứa men amylasa có tác dụng tiêu hoá tinh bột, tuy nhiên thức ăn trôi xuống dạ dày rất nhanh nên việc tiêu hoá tinh bột xảy ra nhanh ở miệng, thực quản và tiếp tục ở dạ dày khi thức ăn chưa trộn với dịch dạ dày. Nước bọt do các tuyến mang tai, dưới hàm và dưới lưỡi tiết ra, nước bọt của lợn là một dịch thể màu ánh sữa loãng.Độ pH của nước bọt khoảng 7,3. + Dạ dày: Tiêu hóa ở dạ dày lợn gồm hai quá trình cơ học và hóa học. Theo Trần Văn Phùng và cs (2004) [6] dạ dày lợn có đặc điểm nhu động yếu, nên thức ăn được xếp thành lớp làm cho hoạt tính enzym và độ axit của các lớp thức ăn không giống nhau.
Ở vùng hạ vị và phần thức ăn nằm sát vách dạ dày thì thức ăn được trộn với dịch vị tốt hơn. Ở vùng lõi thượng vị, thức ăn giữ được môi trường nhiều kiềm và men tiêu hóa của nước bọt nên tiêu hóa tinh bột vẫn tiếp túc xảy ra. Dạ dày của lợn trưởng thành có dung tích khoảng 8 lít, chức năng như là nơi dự trữ và tiêu hoá thức ăn. Thành dạ dày tiết ra dịch dạ dày- chứa chủ yếu là nước với men pepsin và axit chlohydric (HCL).
Men pepsin chỉ hoạt động trong môi trường axit và dịch dạ dày có độ pH khoảng 2,0. Men pepsin giúp tiêu hoá protein và sản phẩm tiêu hoá protein ở dạ dày là polypeptit và ít axit amin. Sự tiết dịch của dạ dày liên tục trong 24 giờ và tiết và ban ngày nhiều hơn ban đêm. Lượng dịch tiết ra nhiều nhất là sau khi ăn 2-3 giờ, lượng dịch tiết ra biến động từ 135-272ml, nó thay đổi phụ thuộc vào khẩu phần thức ăn và thời gian ăn.
Khi cho lợn ăn thức ăn ủ xanh, lượng dịch vị tăng lên 2-3 lần, độ toan cao, hoạt lực enzym mạnh. Lợn ăn thức ăn rang dịch vị tiết ra nhiều hơn thức ăn ngâm. c 6 + Ruột non: Thức ăn khi chuyển tới ruột non sẽ được tiêu hóa triệt để nhất nhờ tác động của các men của dịch tụy, dịch mật và dịch ruột. Ruột non có độ dài khoảng 18-20 mét.
Thức ăn sau khi đã tiêu hoá ở dạ dày chuyển xuống ruột non được trộn với dịch tiết ra từ tá tràng, gan và tụy – thức ăn chủ yếu được tiêu hoá và hấp thụ ở ruột non với sự có mặt của mật và dịch tuyến tụy. Mật được tiết ra từ gan chứa ở các túi mật và đổ vào tá tràng bằng ống dẫn mật giúp cho việc tiêu hoá mỡ. Tuyến tụy tiết dịch tụy có chứa men trypsin giúp việc tiêu hoá protein, men lipasa giúp cho tiêu hoá mỡ và men diastasa giúp tiêu hoá carbohydrate. Ngoài ra ở phần dưới của ruột non còn tiết ra các men maltasa, sacharasa và lactasa để tiêu hoá carbohydrate.
Ruột non cũng là nơi hấp thụ các chât dinh dưỡng đã tiêu hoá được, nhờ hệ thống lông nhung trên bề mặt ruột non mà bề mặt tiếp xúc và hấp thu chất dinh dưỡng tăng lên đáng kể.