Đặt vấn đề Nghề chăn nuôi gia cầm của nước ta có lịch sử rất lâu đời chiếm vị trí quan trọng trong nghành chăn nuôi của Việt Nam. Chăn nuôi gia cầm cung cấp thực phẩm cho con người và đồng thời cung cấp một lượng lớn phân bón cho ngành trồng trọt và một phần sản phẩm của nó là nguyên liệu cho ngành công nghiệp chế biến. Chăn nuôi gia cầm giúp cho người dân tăng thêm nguồn thực phẩm tự cung, tự cấp và góp phần tăng thêm thu nhập cho người dân. Đến nay chúng ta thấy được phương thức chăn nuôi đã có nhiều thay đổi, về phương thức chăn nuôi cho đến chất lượng con giống cùng với đó là sản phẩm, góp phần giúp dịch cơ cấu trong nông nghiệp một cách hợp lý và hiệu quả.
Nước ta nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, nóng ẩm quanh năm là điều kiện phát triển tốt cho mầm bệnh. Gia cầm nói chung và gà nói riêng là loài vật nuôi mẫn cảm với mầm bệnh, đặc biệt là các bệnh truyền nhiễm. Thực tế chăn nuôi cho thấy, gà là một vật nuôi rất mẫn cảm với bệnh truyền nhiễm như: H5N1, Newcastle, CRD… Những bệnh này có ảnh hưởng rất lớn tới số lượng và năng xuất đàn gà. Từ đó gây thiệt hại nghiêm trọng đến kinh tế và sự phát triển của chăn nuôi gà và đặc biệt là chăn nuôi gà công nghiệp.
Xuất phát từ thực tiễn trên, chúng em tiến hành thực hiện chuyên đề: “THỰC HIỆN QUY TRÌNH CHĂM SÓC NUÔI DƯỠNG, PHÒNG VÀ TRỊ BỆNH CHO ĐÀN GÀ TẠI TRẠI GÀ CÔNG TY THÁI VIỆT FARMA”. Mục đích và yêu cầu của chuyên đề 1. Mục đích của chuyên đề - Thực hiện được quy trình chăm sóc nuôi dưỡng gà thịt. - Thực hiện đầy đủ lịch phòng bệnh cho gà thịt.
- Xác định được tình hình nhiễm bệnh trên đàn gà thịt nuôi chuồng kín tại trại. - Đưa ra phác đồ điều trị bệnh cho gà thịt. Yêu cầu của chuyên đề - Trực tiếp thực hiện quy trình chăm sóc và nuôi dưỡng gà thịt. - Sử dụng các biện pháp để chẩn đoán bệnh cho gà thịt.
- Thực hiên các phác đồ điều trị bệnh. Luan van 3 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Điều kiện cơ sở nơi thực tập 2. Điều kiện tự nhiên Đồng Hỷ là một huyện miền núi phía Đông Bắc của tỉnh Thái Nguyên.73 km2, dân số 88.
Huyện lỵ đặt tại thị trấn Chùa Hang, cách trung tâm thành phố Thái Nguyên 3 km về phía Đông Bắc. Địa phận huyện Đồng Hỷ trải dài từ 21°32’ đến 21°51’độ vĩ bắc, 105°46’ đến 106°04’ độ kinh đông. Phía Bắc giáp huyện Võ Nhai và tỉnh Bắc Cạn, phía Nam giáp huyện Phú Bình và thành phố Thái Nguyên, phía Đông giáp tỉnh Bắc Giang, phía Tây giáp huyện Phú Lương và thành phố Thái Nguyên. Địa giới tự nhiên phân cách Đồng Hỷ và thành phố Thái Nguyên là dòng sông Cầu uốn lượn quanh co từ xã Cao Ngạn theo hướng Bắc - Nam xuống đến đập Thác Huống.
Huyện Đồng Hỷ gồm 3 thị trấn và 17 xã: 3 thị trấn: thị trấn Chùa Hang, thị trấn Sông Cầu, thị trấn Trại Cau. 17 xã: Văn Lăng, Hòa Bình, Tân Long, Quang Sơn, Hóa Thượng, Hóa Trung, Minh Lập, Cao Ngạn, Đồng Bẩm, Khe Mo, Văn Hán, Linh Sơn, Nam Hòa, Tân Lợi, Cây Thị, Hợp Tiến, Huống Thượng. Địa hình đất đai: đồi núi xen kẽ các thung lũng, đất lâm nghiệp chiếm 50,8%, đất nông nghiệp 16,4%, đất thổ cư 3,96%, đất cho các công trình công cộng 3,2% và đất cho sử dụng chiếm 25,7%. Núi Chùa Hang - xa còn gọi là núi đá Hoá Trung, núi Long Tuyền, nằm trên đất thị trấn Chùa Hang, huyện Đồng Hỷ ngày nay.
Khí hậu: Khí hậu Đồng Hỷ chia thành 2 mùa, mùa mưa và mùa khô. Nhiệt độ không khí trung bình 23°C, tháng cao nhất là 28°C, tháng thấp nhất là 16,1°C. Luan van 4 Độ ẩm trung bình năm là 82%, tháng cao nhất là 86%, tháng thấp nhất là 78%. Khí hậu chia thành 2 mùa chính, mùa mưa và mùa khô, lượng mưa trung bình khoảng 2.500 mm/năm Tài Nguyên Đồng Hỷ có cụm mỏ sắt Trại Cau (trữ lượng khoảng 20 triệu tấn) và mỏ Linh Sơn (trữ lượng từ 1 - 3 triệu tấn).
Ngoài ra, Đồng Hỷ còn có nhiều khoáng sản như: đá xây dựng, đất sét, cát sỏi, đá Carbuat, Dolomit. Điều kiện kinh tế xã hội Hầu hết các xã, thị trấn ở Đồng Hỷ đều có đường ô tô đến trung tâm. Đất đai ở Đồng Hỷ thích hợp cho việc trồng rừng, trồng lúa, nấm, rau màu và chăn nuôi gia súc gia cầm… Những năm gần đây tình hình chính trị, kinh tế - xã hội trên địa bàn huyện đã có nhiều chuyển biến tích cực. Nhiều chỉ tiêu đạt cao so với kế hoạch như: sản lượng lương thực có hạt cả năm ước tính đạt 52,7 nghìn tấn, vượt 17% kế hoạch; diện tích trồng rừng đạt gần 1,5 nghìn ha, vượt 49% kế hoạch; thu ngân sách trong cân đối đạt gần 123 tỷ đồng, vượt 33% so với dự toán tỉnh giao… Người dân trên địa bàn huyện chủ yếu là nông dân làm ruộng, trồng chè, trồng cây, chăn nuôi tại địa phương và một số hộ kinh doanh nhỏ lẻ.
Điều kiện cơ sở vật chất của trại Trang trại được xây dựng và đi vào hoạt động từ 17/ 05/ 2018. Bước đầu trại đã có những đầu tư vượt bậc về cơ sở vật chất như sau: - Trại được thiết kế nằm xa khu dân cư, có nhà sát trùng ở cổng vào; Được lắp đặt, trang bị hệ thống ăn tự động, đường ống uống tự động. - Mỗi chuồng gồm 04 đường ăn và 05 đường uống sắp xếp xen kẽ nhau chạy dọc chuồng. Luan van 5 - Nền chuồng bằng bê tông và mái lợp bằng tôn xốp cách nhiệt.
- Mỗi chuồng có 01 lò sưởi, hệ thống 08 quạt công suất lớn và 2 quạt công suất nhỏ ở 2 bên hông cuối chuồng. - Hệ thống 04 đường điện chiếu sáng. - Trong mỗi chuồng có 1 nhiệt kế, 1 cảm biến đo tốc độ gió và 1 cảm biến nhiệt để theo dõi nhiệt độ trong chuồng nuôi. - Một số dụng cụ thiết bị khác: bạt che, khung úm,.
- Có 2 kho thức ăn nằm giữa 2 đầu chuồng (giữa chuồng 1 và 2; chồng 3 và 4); 2 máy phát điện; 1 kho vật tư; 1 nhà sinh hoạt gồm: 1 phòng bếp + 4 phòng ngủ + 2 phòng tắm + 1 phòng vệ sinh + sảnh tiếp khách. - Hệ thống nước: nước cung cấp cho chăn nuôi và sinh hoạt được sử dụng bằng nước giếng khoan và có các bể chứa khử nước. - Hệ thống điện: trại sử dụng dòng điện 3 pha và có hệ thống cảnh báo mất điện. - Sân trại là nền đất dải gạch vụn và đá dăm và trang trại được lắp camera theo dõi xung quanh.
Cơ cấu tổ chức của trại Cơ cấu của trại tổ chức như sau: - Diện tích chuồng trại là 4760m2 (4 chuồng), 2,5 ha (toàn trại) - Gồm 4 dãy chuồng, mỗi chuồng nuôi khoảng 10000 gà. - Mỗi chuồng có chiều dài 70 m, chiều rộng 14,3m. - Đội ngũ cán bộ, quản lý, kĩ thuật, công nhân gồm: + 01 kĩ sư + 03 công nhân + 07 sinh viên thực tập + Và 01 quản lí trại. Luan van 6 - Trong quá trình thực tập tại cơ sở, trại tạo điều kiện cho chỗ ở và sinh hoạt rất đầy đủ và thoải mái.
Cơ sở khoa học 2. Đặc điểm sinh lý tiêu hóa ở gà Gia cầm có tốc độ trao đổi chất và năng lượng cao hơn so với động vật có vú. Cường độ tiêu hoá mạnh ở gia cầm được xác định bằng tốc độ di chuyển của thức ăn qua ống tiêu hoá. Ở gà còn non, tốc độ này là 30 - 39 cm trong 1 giờ; ở gà lớn hơn là 32 - 40 cm và ở gà trưởng thành là 40 - 42 cm.
Chiều dài của ống tiêu hoá gia cầm không lớn, thời gian mà khối thức ăn được giữ lại trong đó không vượt quá 2 - 4 giờ, ngắn hơn rất nhiều so với động vật khác [21]. - Tiêu hóa ở miệng: Gia cầm mổ thức ăn bằng mỏ, một phút mổ 180 - 240 lần, lúc đói mổ nhanh, mỏ mở rộng. Mặt trên lưỡi có những răng rất nhỏ hoá sừng hướng về cổ họng để đưa thức ăn về phía thực quản - thị giác và xúc giác kiểm tra tiếp nhận thức ăn, còn vị giác và khứu giác ý nghĩa kém hơn. Thiếu ánh sáng gà ăn kém.
Tuyến nước bọt kém phát triển. Nước bọt không chứa enzym, chỉ để dính bọc làm trơn thức ăn di chuyển vào thực quản. Thức ăn vào diều, khi đói theo ống diều vào thẳng dạ dày. Tuyến nhầy của thực quản tiết dịch nhầy làm thức ăn di chuyển dễ dàng.
- Tiêu hóa ở diều: Ở diều, thức ăn được làm mềm, quấy trộn và tiêu hoá từng phần do các men thức ăn và vi khuẩn trong thức ăn thực vật. Thức ăn cứng lưu lại diều lâu hơn. Khi thức ăn hạt và nước tỷ lệ bằng 1:1 thì được giữ lại ở diều 5 - 6 giờ. Độ pH trong diều gia cầm là 4,5 - 5,8.
Sau khi ăn 1 - 2 giờ diều co bóp theo dạng dãy (khoảng 3 - 4 co bóp) với khoảng cách 15 - 20 phút; sau 5 - 12 giờ là 10 - 30 phút, khi đói 8 - 16 lần/giờ. Ở diều, nhờ men amilaza tinh bột được Luan van 7 phân giải thành đường đa có trọng lượng phân tử nhỏ hơn, một phần chuyển thành đường đơn glucoza. - Tiêu hóa ở dạ dày + Tiêu hóa ở dạ dày tuyến Cấu tạo từ cơ trơn là dạng ống ngắn, có vách dày nối với dạ dày cơ bằng eo nhỏ. Vách gồm màng nhầy, cơ và màng mô liên kết.
Dịch có chứa axit chlohydric, pepsin, men bào tử và musin. Sự tiết dịch của dạ dày tuyến là không ngừng, sau khi ăn càng được tăng cường. Thức ăn không giữ lâu ở dạ dày tuyến, khi được dịch dạ dày làm ướt, thức ăn chuyển đến dạ dày cơ nhờ nhịp co bóp đều đặn của dạ dày cơ (không quá 1 lần/phút). Ở dạ dày tuyến sự thuỷ phân protein như sau: Protein + nước + pepsin và HCl —> albumoza + pepton + Tiêu hóa dạ dày cơ Dạ dày cơ không tiết dịch tiêu hoá, mà dịch này từ dạ dày tuyến tiết ra chảy vào dạ dày cơ.
Thức ăn được nghiền nát bằng cơ học, trộn lẫn và tiêu hoá dưới tác dụng của các men dịch dạ dày, enzym và vi khuẩn. Axit chlohydric tác động làm cho các protein trở nên căng phồng, lung lay và nhờ có pepsin, chúng được phân giải thành pepton và một phần thành các axit amin.